Kế hoạch lao động việc làm và giải pháp thực hiện trong thời kỳ 2006 2010 ở việt nam - Pdf 30



TIỂU LUẬN:

Kế hoạch lao động - việc làm và
giải pháp thực hiện trong thời kỳ
2006-2010 ở Việt Nam
Phần I:
Những vấn đề lý luận về kế hoạch lao động - việc làm. 1. Các khái niệm về lao động – việc làm.
Khái niệm về nguồn lao dộng.
Nguồn lao động là bộ phận của dân số có khả năng lao động bao gồm dân số
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và dân số ngoài độ tuổi lao động đang
làm việc thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân.

 Ý nghĩa của kế hoạch biện pháp: kế hoạch lao động việc làm nhằm vào mục tiêu
của kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát triển
vùng kinh tế, tạo ra các điều kiện vể lao động để thực hiện các kế hoạch này.
 Ý nghĩa của kế hoạch mục tiêu: kế hoạch lao động việc làm bao hàm một số các
chỉ tiêu nằm trong chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội như:giải quyết lao động, khống
chế thất nghiệp hay các chỉ tiêu giáo dục, sức khoẻ….
II. Nhiệm vụ của kế hoạch hoá lao động - việc làm.
1.Xác định qui mô- cơ cấu- chất lượng của bộ phận dân số tham gia hoạt động kinh
tế.
-Qui mô và tốc độ tăng trưởng dân số. Qui mô dân số mở rộng hay thu hẹp, tăng
trưởng dân số nhanh hay chậm chi phối sự biến động của bộ phận dân số trong tuổi
lao động. Bởi vậy, có thể thông qua việc điều tiết kế hoạch sự tăng trưởng dân số để
điều tiết tài nguyên sức lao động xã hội.
-Cơ cấu và tình hình cấu tạo tuổi tác của dân số. Cùng một lượng dân số như nhau
có thể hình thành lượng tài nguyên sức lao động khác nhau, nguyên nhân là do cấu
tạo tuổi tác của dân số, cho nên mức độ ăn khớp giữa cấu tạo tuổi tác của dân số với
quy định tuổi lao động sẽ chi phối lượng tài nguyên sức lao động của một tổng
lượng dân số nhất định. Đó cũng là con đường điều chỉnh lực lượng lao động xã
hội.
-Xác định chất lượng lao động là một việc làm rất quan trọng. Nó giúp ta phân bổ
lao động một cách hợp lý và cho ta biết hướng phát triển chất lượng lao động.
2.Xác định cung - cầu và cân bằng cung - cầu lao động việc làm xã hội.
- Các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng khi thực hiện cân đối
cung-cầu sức lao động luôn tồn tại một thực tế: nhiệm vụ giải quyết việc làm
thường lớn hơn khả năng, tức là cung lớn hơn cầu về mặt số lượng.Tình hình đó đòi
hỏi phải điều tiết cả mặt cung và mặt cầu.
-Một mặt giữ cho tăng trưởng dân số không quá cao để hạn chế quy mô tăng sức lao


 Qui mô và tấc độ tăng trưởng kinh tế.Sự tăng trưởng của nền kinh tế nếu coi các
yếu tố khác không đổi thì nó phụ thuộc vào số lượng sức lao động và năng suất lao
động.Với mức năng suất lao động nhất định trên cùng một phương hướng, nhu cầu
sức lao động xã hội do qui mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh té quyết định.
 Trình độ và tốc độ nâng cao năng suất lao động. khi qui mô sản xuất xã hội ở
mức nhất định, năng suất lao động càng cao thì sức lao động càng ít.
 Sự thay đổi trong cơ cấu nghành nghề, cơ cấu sản phẩm,cơ cấu hoạt động kinh
té xã hội. Xuất phát từ nhu cầu sử dụng sưcs lao động khác nhau, có hoạt động cần
một lượng sức lao động lớn, có hoạt động chỉ cần tương đối ít sức lao động, bởi vậy
kết cấu hoạt động kinh tế, xã hội bién đổi cũng gây ảnh hưởng đến tổng nhu cầu
sức lao động xã hội.
 Khả năng đổi mới sức lao động.Ở một thời kỳ nhất định, do các nguyên nhân
sức lao động vốn đang làm việc có một bộ phận dời khỏi chỗ làm việc, cần có sức
lao động mới thay thế và bổ sung. Bởi vậy, thay thế đổi mới sức lao động ảnh
hưởng đến nhu cầu sức lao động xã hội.
2. Xác định định hướng và mục tiêu của kế hoạch- việc làm.
Tập trung nguồn vốn của quỹ cho vay giải quyết việc làm đối với các dự án
thu hút nhiều lao động , sắp xếp và đổi mới và thống nhất trong phạm vi cả nước.
Phát triển thị trường lao động theo đúng quy hoạch.
Đưa xuất khẩu lao động thành một chương trình lớn , đồng bộ theo hướng mở
rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt chú ý cho vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu đểtham gia vào thị
trường lao động có giá trị cao, tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã
hội trong nước và nâng cao0 mức sống của người dân.
3. Xác định chỉ tiêu kế hoạch lao động-việc làm.
Xác định nhu cầu sức lao động xã hội

 Khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội là bộ phận dân số tham gia
hoạt động kinh tế; bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có đủ
khả năng tham gia lao động và có nhu cầu tìm việc làm.
 Phương pháp xác định.
- Phương pháp trực tiếp suy ra: lấy lượng tài nguyên sức lao động xã hội của
kỳ báo cáo làm cơ sở, cộng với số nhân khẩu vừa mới đến tuổi lao động của kỳ kế
hoạch trừ đi số nhân khẩu vừa mới quá tuổi lao động của kỳ kế hoạch, trừ đi tiếp số
nhân khẩu ở độ tuổi lao động như mất sức lao động
- Phương pháp suy ra từ trạng thái động: lấy tỷ lệ tăng dân số nguồn nhân lực
của năm trước sau khi có sự sửa đổi lại dự tính tổng nguồn nhân lực kỳ kế hoạch.
- Phương pháp tính bằng tỷ trọng: lấy tỷ trọng của tổng số sức lao động của kỳ
báo cáo trong tổng số dân làm cơ sở sau khi có sự điều chỉnh cẩn thiết, xác định
lượng dân số nguồn nhân lực kỳ kế hoạch.
Phần II: Kế hoạch lao động- việc làm thời kỳ 2006-2010 ở Việt Nam.
I. Đánh giá thực hiện kế hoạch lao động - việc làm giai đoạn 2001-2005.
1. Kết quả đạt được.
- Vấn đề giải quyết việc làm đã thực sự trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các
ngành, các cấp. Trong 5 năm qua, số lao động được giải quyết việc làm là 7.5 triệu
người. Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 1.5 triệu người. Khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh là khu vực thu hút nhiều lao động nhất với khoảng 91% lực lượng
lao động và chiếm 90% việc làm mới của toàn nền kinh tế. Trong đó có khoảng
29.3 vạn lượt lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, gấp hơn 2.3 lần so
với kế hoạch 5 năm trước. Trong 5 năm 2001 – 2005 đã đưa khoảng 36 vạn người
ra làm việc ở nước ngoài bình quân mỗi năm khoảng 5.5 vạn người.
- Tổng lao động đang làm việc trong lĩnh vực kinh tế, xã hội năm 2005 là 42.7 triệu
người. Trong đó khu vực nhà nước chiếm 9.7%. ngoài nhà nước chiếm 88.7%, khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài là 1.6%.

gia đình thiếu ổn định cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cán bộ cơ sở”.
Chất lượng dân số, thể lực và tố chất của người Việt Nam còn thấp, hạn chế về
chiều cao, cân nặng và sức bền. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng, bị dị tật và
tử vong còn cao do thu nhập thấp, thiếu lương thực, thực phẩm, cho trẻ em ăn theo
tập quán cũ, thông tin không đầy đủ. Phân bố dân cư chưa hợp lý, di dân tự phát
diễn biến phức tạp chưa kiểm soát được. Thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích
nâng cao chất lượng nguồn lao động.
- Lĩnh vực lao động và giải quyết việc làm còn nhiều tồn tại như tình trạng thiếu
việc làm vẫn còn ở mức cao, chất lượng lao động kém năng suất thấp, tỷ lệ lao động
chuyên môn kỹ thuật đặc biệt là lao động có trình độ kỹ thuật cao còn thấp. Cơ cấu
ngành nghề chưa hợp lý. Sự chuyển dịch lao động theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá còn rất chậm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn chiếm rất cao năng
suất lao động thấp, tình trạng thiếu việc làm vẫn còn nhiều (20% lao động khu vực
nông thôn thiếu việc làm), tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị vẫn cao. Lao động nữ
chiếm tỷ lệ cao trong nông nghiệp và một số ngành dịch vụ xong còn ít được đào
tạo nghề, tỷ lệ chuyển đổi ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường còn thấp.
Chất lượng lao động xuất khẩu ra nước ngoài còn thấp, khả năng hoà nhập, cạnh
tranh (trình độ, thể lực, ngoại ngữ) thua kém nhiều so với các nước trong khu vực.
Công tác quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài còn lỏng lẻo kỷ luật lao động
kém ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam.

I. Định hướng và mục tiêu kế hoạch lao động - việc làm giai đoạn 2006
– 2010
Ưu tiên dành vốn đầu tư của nhà nước vào huy động vốn xã hội để giải
quyết việc làm. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động. Tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao đông nông lâm nghiệp và thuỷ
sản còn 50% vào năm 2010, tăng lao động công nghiệp và xây dựng lên ít nhất 23%

50%.
- tỷ trọng lao động dịch vụ trong tổng số lao động (năm cuối kỳ) 26-
27%.

II. Đánh giá tình hình thực hiện trong 2 năm 2006 – 2007
1. Kết quả dạt được
Năm 2006
- Tình hình dân số: theo kết quả điều tra ngaỳ 1.7.2006 dân số cả nước
vào khoảng 84.1558 triêu người. trong đó dân thành thị là 22.8236 triệu người tăng
2.18% so với năm 2005.Dân số nông thôn 61.3322 triệu người tăng 0.93% so với
năm 2005.
- Về lao động: Nước ta có tổng số 43.3472 triệu người. Về cơ cấu lao
động có hướng tăng trong khu vực ngoài quốc doanh chiếm 89.14% ( năm 2005 là
88.92% ) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1.61% ( 1.58% năm 2005)
giảm khu vực quốc doanh chiếm 9.25% ( năm 2005 là 9.5%) .Tăng lao động trong
Công nghiệp và xây dựng chiếm 18.9%( năm 2005 là 18.2%) và Dịch Vụ chiếm
25.45% (năm 2005 là 24.56%), giảm lao động trong Nông,Lâm nghiệp, thuỷ sản
chiếm 55.65% ( năm 2005 là 57.24%).
Năm 2007
- Tình hình thực hiện chung: 9 tháng đầu năm 2007 cả nước đã giải quyết việc
làm cho 1.18 triệu người, bằng 74% kế hoạch năm, xuất khẩu lao động đạt 6.2 vạn
người bằng 77.5% kế hoạch năm.
- Chín tháng đầu năm 2007 thị trường lao động tiếp túc phát triển, đã mở rộng thí
điểm sàn giao dịch việc làm tại trung tâm giới thiệu việc làm.Hình thức sàn giao
dịch việc làm ngày càng phát huy hiệu quả so với hình thức hội chợ việc làm vì chi
phí tổ chức hoạt động giảm đáng kể trong tần suất hoạt động tăng lên. Ngoài ra đã
đâu tư nâng cao năng lực cán bộ, cơ sở vật chất cho hàng chục trung tâm giới thiệu

một mặt, phải thực hiện đúng chỉ tiêu tuyển sinh, khắc phục tình trạng tuỳ tiện tăng
chỉ tiêu, mặt khác phải tiến hành khâu tuyển sinh chặt chẽ, nghiêm túc, đảm bảo
chất lượng đầu vào cho các trường và ngành học.
+Nhanh chóng mở rộng quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ
thuật. Trong mấy năm qua, quy mô đào tạp tuy đã tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu. Cần dấy lên phong trào học nghề trong toàn xã hội, phải quy hoạch
lại hệ thống dạy nghề theo hướng đồng bộ cả về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng
kinh tế và ở từng địa phương. Đổi mới phương pháp, nội dung và giáo viên dạy
nghề cho phù hợp với thực tế.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực
trong đó cần đặc biệt coi trọng các chính sách sau: Tập trung đầu tư thoả đáng và
đào tạo lao động cho khu vực công nghệ cao; khuyến khich các doanh nghiệp, giáo
viên và người học trong lĩnh vực đào tạo nghề; khuyến khích người học nghề phát
triển tài năng và mở đường cho họ phát triển không hạn chế tài năng; khuyến khích
vật chất và đãi ngộ tài năng thoả đáng (tiền lương, phụ cấp, bồi dưỡng vật chất) cho
các nghệ nhân dạy nghề và truyền nghề
Thứ ba, phát triển và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng quỹ quốc gia hỗ trợ việc
làm vào việc đào tạo và đào tạo tay nghề trong người lao động cũng như nhu cầu
vay vốn dài hạn với lãi xuất ưu đãi cho kinh tế hộ nông thôn nhằm giải quyết tình
trạng thiếu việc làm ở khu vực này, giải toả sức ép di dân đến đô thị.
- Chính sách khuyến khích và đói ngộ người lao động.
Mục tiêu của người lao động là có thu nhập tương ứng khả năng của mình, đảm bảo
cuộc sống ổn định cho gia đình. Vì vậy, càng có những yếu tố vật chất và tinh thần
để khuyến khích đãi ngộ thì người lao động càng nâng cao trình độ của mình, đáp
ứng nhu cầu lao động của xã hội. Cần tập trung vốn cho giáo dục và đào tạo nhằm
khuyến khích mọi người tự nâng cao và được nâng cao trình độ học vấn, tay nghề
của mình đồng thời phải có những hình thức đãi ngộ riêng cho những người có trình
độ cao hơn người khác, xã hội đang khan hiếm từ đó có động lực hơn cho mọi lao
động phấn đấu.


. Tổ chức lại các cơ sở làm nghề truyền thống trên cơ sở lấy hộ gia đình làm đơn vị
kinh tế tự chủ, đồng thời phát triển mạnh mẽ hình thức hợp tác kiên gia đình, các
làng nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ

+ Chính sách khuyến khích tự do lao động và hành nghề đúng pháp luật
Dưới góc độ việc làm, tự do di chuyển và hành nghề là hiện tượng tất yếu khách
quan và ngày càng phát triển cùng với trướcự phát triển của thị trường lao động ở
nước ta nhằm điều chỉnh quan hệ cung - cầu lao động, giảm thất nghiệp kết cấu. Bởi
vậy, việc ứng xử của Nhà nước không phải là cấm nó phát triển, mà trái lại phải có
cơ chế và chính sách để quản lý và kiểm soát nó, khuyến khích nó phát triển đúng
hướng. Các chính sách quan trọng nhất là:
. Ban hành đồng bộ các thể chế, biện pháp quản lý và kiểm soát về mặt Nhà nước
đối với thị trường lao động, đảm bảo người lao động được di chuyển và hành nghề
một cách tự do theo pháp luật và sự hướng dẫn của Nhà nước. Trước hết đó là các
chính sách về tiền lương tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động, hợp đồng lao động
. Tổ chức hệ thống văn phòng dịch vụ giới thiệu việc làm và cung ứng lao động,
thông tin về thị trường lao động ở các địa phương và các vùng.
. Trong các thành phố, ở các địa phương cần có chương trình phối hợp để quản lý
được tốt đối tượng hành nghề tự do phù hợp với chính sách quản lý hộ khẩu, chính
sách nhà ở theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được tự do hành
nghề theo pháp luật.

+ Chính sách khuyến khích lực lượng vũ trang tham gia phát triển kinh tế
Lực lượng vũ trang có một đội ngũ khoa học, kỹ thuật, lao động và cơ sở vật chất
kỹ thuật đáng kể. Vì vậy, lao động sản xuất và tham gia hoạt động kinh tế là một
trong những nhiệm vụ chiến lược của lực lượng vũ trang, thể hiện quan điểm nhất
quán kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Định

thực hiện chuyển giao kỹ thuật giữa doanh nghiệp lớn cho doanh nghiệp vừa và
nhỏ, thực hiện đào tạo theo phương thức vừa học vừa làm.
Thứ hai, khuyến khích các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn, khuyến khích
phát triển kinh tế hộ gia đình để giải quyết việc làm tại chỗ. Các cấp chính quyền có
vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin, giới thiệu sản phẩm, tìm thị trường tiêu
thụ và tạo cầu nối giữa nông dân và cơ quan hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả các chương trình giải quyết việc làm bằng cách xây dựng
hệ thống hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, điều chỉnh chặt chẽ từ trung ương đến địa
phương. Cần nâng cao vai trò của các cấp chính quyền địa phương trong giải quyết
việc làm, bao gồm trách nhiệm về đóng góp tài chính, hướng dẫn thực hiện, hướng
dẫn kỹ thuật, giám sát và đánh giá, chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chương
trình khi không đạt được mục tiêu.
Không nên thực hiện chương trình giải quyết việc làm một cách dàn trải, nên ưu
tiên cho các vùng căng thẳng về giải quyết lao động và cần sự giúp đỡ của Nhà
nước trung ương. Tuy nhiên, chương trình cũng chỉ nên triển khai tại một số nơi đã
có đủ điều kiện về đội ngũ cán bộ địa phương am hiểu thực tế và có khả năng giám
sát đánh giá hiệu quả của các biện pháp giải quyết việc làm, ở nơi người lao động
có đủ khả năng vay vốn để tự tạo công ăn việc làm.
Thứ tư, do thị trường lao động mới được hình thành, nên việc tiếp tục hoàn thiện
khung khổ luật pháp cho nó vận hành trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết.
Cụ thể là cần hoàn thiện khung khổ luật pháp về lao động, như quy định về tiền
công, tiền lương, các chế độ đối với người lao động khi chuyển việc, thôi việc, mất
việc

2.Tăng cung lao động về chất lượng và giảm cung lao động về số lượng
- Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đỡnh
- Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, cao


MỤC LỤC
Phần I: 2
Những vấn đề lý luận về kế hoạch lao động - việc làm. 2
1. Các khái niệm về lao động – việc làm. 2
2.Kế hoạch lao động – viêc làm: khái niệm và ý nghĩa. 2
II. Nhiệm vụ của kế hoạch hoá lao động - việc làm. 3
1.Xác định qui mô- cơ cấu- chất lượng của bộ phận dân số tham gia hoạt động
kinh tế. 3
2.Xác định cung - cầu và cân bằng cung - cầu lao động việc làm xã hội. 3
3.Xây dựng và đề xuất các giải pháp và chính sách để thu hút và sử dụng hiệu
quả sức lao động. 4
III. Nội dung và phương pháp tiếp cận kế hoạch lao động-việc làm. 4
1.Các yếu tố tác động đến kế hoạch lao động-việc làm. 4
2. Xác định định hướng và mục tiêu của kế hoạch- việc làm 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status