Đề án môn học
MỤC LỤC
TT
Nội dung Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: Tæng quan vÒ kÕ ho¹ch lao ®éng -viÖc
lµm ë ViÖt Nam
4
I Một số vấn đề lý luận về kế hoạch lao động - việc làm
4
1
Khái niệm 4
2
Ý nghĩa 4
3
Các mối quan hệ của kế hoạch lao động - việc làm 5
3.1 Sự cần thiết của kế hoạch lao động - việc làm 5
3.2 Các mối quan hệ của kế hoạch lao động - việc làm 5
II Nội dung của kế hoạch lao động – việc làm
7
1
Đánh giá thực trạng tình hình kế hoạch lao động - việc làm thời kỳ
2001 – 2005
8
1.1 Mục tiêu tổng quát 8
1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu 8
1.3 Những thành tựu đã đạt được 9
2 Chiến lược phát triển kế hoạch lao động - việc làm cho năm 2006 10
3 Các chính sách vĩ mô điều tiết sự luân chuyển sức lao động 11
4 Phương pháp xác định các chỉ ti êu kế hoạch lao động - việc làm 11
4.1
ngoi theo hp ng.
19
1.4 V phat triờn thi trng lao ụng 19
2
Nhng khú khn cũn tn ti 23
CHNG3: Các giải pháp thực hiện kế hoạch lao
động - viêc làm cho giai đoạn 2008 2010.
26
I K hoch lao ng - vic lm cho giai on 2008 2010
26
II Cỏc gii phỏp thc hin k hoch
27
1
Nõng cao cht lng ngun lao ng 27
2
y mnh phỏt trin kinh t v h thng giao dch th trng lao
ng
28
3
Huy ng ngun nhõn lc 30
4
Hon thin cỏc chớnh sỏch qun lý v h thng an sinh xó hi 31
Kết luận
33
Ti liu tham kho 34
LI M U
2
Đề án môn học
Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hội nhập sẽ làm
không chỉ khó khăn đối với Việt Nam mà còn là khó khăn chung với các nước
đang phát triển trên thế giới đó là vấn đề lao động việc làm, điều đó cho thấy việc
làm là một trong những vấn đề kinh tế xã hội có tính chất toàn cầu chứ không phải
của riêng bất kỳ quốc gia nào.
I – TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM
1. Khái niệm.
Kế hoạch lao động - việc làm là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch hóa
phát triển, nhằm xác định quy mô, cơ cấu, chất lượng của bộ phận dân số tham gia
hoạt động kinh tế cần huy động cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu về
nhu cầu việc làm mới, nhiệm vụ giải quyết việc làm trong kỳ kế hoạch, đồng thời
đưa ra các chính sách và giải pháp quan trọng nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả
lực lượng lao động xã hội.
2. Ý nghĩa.
Trong hệ thống kế hoạch hóa phát triển: kế hoạch lực lượng lao động có ý
nghĩa đặc biệt, bao hàm cả ý nghĩa của kế hoạch biện pháp và kế hoạch mục tiêu.
• Là kế hoạch biện pháp: kế hoạch phát triển lao động nhằm vào mục tiêu của
kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát
triển vùng kinh tế, tạo ra các điều kiện về lao động để thực hiện các kế
hoạch này.
• Là kế hoạch mục tiêu: vì kế hoạch phát triển lao động bao hàm một số các
chỉ tiêu nằm trong hệ thống các mục tiêu phát triển xã hội như: giải quyết
lao động, khống chế thất nghiệp hay các chỉ tiêu giáo dục, sức khoẻ….
Quan niệm như trên còn có hai ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây
dựng và triển khai thực hiện kế hoạch về lao động. Một mặt kế hoạch lao động
phải được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố cầu do các kế hoạch về tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra nhưng đồng thời kế hoạch này còn bao hàm nội
dung chủ động, tích cực và đặc biệt là trong việc tìm ra các cơ chế chính sách để
thực hiện các mục tiêu do chính kế hoạch lao động đặt ra.
4
Đề án môn học
lao động. Mặt khác việc phát triển kinh tế sẽ làm xuất hiện những ngành nghề
5
Đề án môn học
mới, những công việc mới, cách quản lý mới. Nó vừa là điều kiện để tạo việc làm,
vừa là yêu cầu đòi hỏi người lao động phải không ngừng hoàn thiện, phát triển để
làm chủ quá trình phát triển kinh tế xã hội.
c. Lao động việc làm với cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế cũng có ảnh hưởng lớn tới lao động việc làm. Theo
tổng kết kinh nghiệm của các nhà kinh tế học trên thế giới, mối tương quan chặt
chẽ giữa GDP/người và cơ cấu lao động việc làm trong các ngành kinh tế quốc
dân: GDP/người càng cao thì tỷ trọng lao động việc làm trong nông nghiệp càng
giảm, trong công nghiệp và dịch vụ càng tăng và ngược lại.
d. Lao động việc làm với số lượng và chất lượng nguồn lao động.
Tăng trưởng, phát triển và quá trình vận động của nển kinh tế phụ thuộc vào
trình độ của lực lượng sản xuất và mối quan hệ phù hợp của chúng với quan hệ
sản xuất. Lực lượng lao động được xét toàn diện trên cả số lượng và chất lượng.
Tốc độ tăng dân số cao sẽ dẫn đến tình trạng cơ cấu dân số trẻ. Đây chính là
nguyên nhân của nhịp độ tăng nguồn lao động cao và ngược lại, tốc độ tăng dân số
thấp tạo cho cơ cấu dân số già và nguồn lao động sẽ ngày một giảm do số người
bước vào tuổi lao động ít so với người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Số lượng
nguồn nhân lực tăng lên đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Vai trò quan trọng mang tính quyết định của con người suy đến cùng là ở
năng lực sáng tạo. Vì vậy quán triệt quan điểm hiệu quả trong sử dụng nguồn lao
động đòi hỏi phải trú trọng việc khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ, đặt biệt là
chú trọng khai thác và phát huy tính năng động sáng tạo của người lao động.
e. Lao động việc làm với thị trường lao động.
Xây dựng thị trường lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất cho việc chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điều kiện tăng trưởng có hiệu
quả nền kinh tế đó.
Thị trường sức lao động bước đầu được hình thành với cơ chế tuyển dụng và
mình. Trọng tâm chủ yếu của kế hoạch lao động - việc làm là dự báo cân đối giữa
quy mô của lực lương lao động và mức việc làm hay số việc làm có trong nền kinh
tế quốc dân.
Cân đối lao động và việc làm thường được xây dựng cho toàn quốc, vùng và
tỉnh cũng như cho khu vực nông thôn và thành thị. Trong các cân đối lao động và
việc làm thường bao gồm cả việc dự báo việc làm theo ngành (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ) và các chỉ tiêu chung thể hiện sự mất cân đối của thị trường lao
động như tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn.
7
Đề án môn học
1. Đánh giá thực trạng tình hình kế hoạch lao động - việc làm.
1.1. Mục tiêu tổng quát.
Kế hoạch 5 năm 2001-2005 có vị trí rất quan trọng trong việc tạo tiền đề
vững chắc để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và xây
dựng nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020 với mục tiêu tổng
quát là:
- Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước
quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng
cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng kinh tế đối
ngoại.
- Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát
huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ
nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
- Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc
lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
1.2. Các chỉ tiêu chủ yếu.
- Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 7,5%.
2003), tỉ lệ thời gian lao động ở nông thôn là 79 % (tăng 1% so với năm 2003).
Trong tổng số hơn 42 triệu lao động có việc làm của cả nước, có 57,9% làm việc
chính ở khu vực 1 (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản); 17,4% làm việc chính ở khu
vực 2 (công nghiệp và xây dựng) và 24,7% làm việc chính ở khu vực 3 (dịch vụ).
9
Đề án môn học
Tính chung cả nước, có 10,3% lao động có việc làm trong khu vực kinh tế
nhà nước, 88,2% đang làm việc trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước và 1,5%
làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Số lao động trong độ tuổi lao động cả nước có 52,8 triệu người, trong đó
thành thị 15,8 triệu người, nông thôn khoảng 37 triệu người. Số người bước vào
độ tuổi lao động khoảng 1,3 triệu người, số người ra khỏi lao động 300.000 người,
số lao động chưa có việc làm trong độ tuổi khu vực thành thị từ năm 2005 chuyển
sang khoảng 800.000 người.
Theo báo cáo kết quả điều tra, trong lực lượng lao động từ độ tuổi 15 trở lên:
khu vực thành thị 94,6% có việc làm và 5,4% thất nghiệp; khu vực nông thôn có
98,9% có việc làm và 1,1% thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ
tuổi ở khu vực thành thị năm 2004 đã giảm còn 5,6%, giảm không đáng kể so với
năm 2003 (5,78%), khu vực nông thôn còn 1,1%; thời gian lao động được sử dụng
cũng tăng lên.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động,
nâng cao năng lực và hiện đại hoá các trung tâm dịch vụ việc làm ở các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và các cơ sở vệ tinh để cung cấp các dịch vụ tư vấn,
giới thiệu và cầu nối việc làm cho những người có nhu cầu, hỗ trợ kinh phí cho 39
địa phương tổ chức Hội chợ việc làm, tác động tốt đến sự hình thành và phát triển
thị trường lao động tại các địa phương và cả nước.
2. Chiến lược phát triển kế hoạch lao động - việc làm cho năm 2006.
Mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2006 – 2010 là:
- Giải quyết việc làm cho khoảng 7,5 – 8 triệu lao động trên cơ sở duy trì tỉ lệ
tăng GDP hàng năm trên 7% để tạo 5,5 – 6 triệu việc làm mới.
thiết dùng những biện pháp nhất định can thiệp, điều tiết và khống chế lưu
chuyển sức lao động.
4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu kế hoạch lao động - việc làm.
4.1. Phương pháp xác định nhu cầu lao động trong kỳ kế hoạch.
Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương,
một ngành hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định. Dân số
càng đông thì nhu cầu tiêu dùng càng lớn. Tiêu dùng là động lực mở rộng thị
trường và thúc đẩy phát triển sản xuất.
Xét từ giác độ số lượng: Trong điểu kiện năng suất lao động không biến đổi,
cầu lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nếu quy
mô sản xuất không đổi cầu về lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
Xét từ giác độ chất lượng: Việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy
11
Đề án môn học
mô, tiền vốn, tri thức…của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao về chất
lượng lao động trong đó các chỉ số quan trọng nhất thể hiện chất lượng lao động là
trình độ nghề nghiệp, kỷ luật lao động và sự phù hợp giữa nghề nghiệp được đào
tạo với công việc được giao.
4.2. Phương pháp xác định khả năng cung cấp lực lượng lao động trong kỳ
kế hoạch.
Cung lao động là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem
ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội tức là tổng số nhân khẩu trong độ tuổi
lao động, có năng lực lao động và cả số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao
động nhưng đã chính thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Bên cạnh đó cung về lao động còn được xem xét từ giác độ chất lượng sức
lao động. Tức là phẩm chẩt cá nhân của người lao động và từ giác độ số lượng,
cung trên thị trường lao động phụ thuộc vào tổng số lao động có thể cung cấp.
Tổng số lao động này phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng doanh số, quy định
pháp lý về độ tuổi lao động, tỷ trọng dân cư trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động, độ dài thời gian làm việc và chất lượng của lực lượng lao
đối cung cầu sức lao động đòi hỏi phải điều tiết ở cả hai mặt cung và cầu.
Một mặt giữ cho dân số tăng trưởng không quá cao để hạn chế quy mô tăng
sức lao động, giảm nhẹ áp lực đối với thị trường lao động và trước hết là áp lực về
công ăn việc làm. Đồng thời nâng cao chất lượng của dân số nhất là của sức lao
động để thoả mãn nhu cầu.
Mặt khác điều chỉnh và sắp sếp hợp lý kết cấu sản nghiệp, đặc biệt là căn cứ
vào tình hình nhân lực của đất nước để điều tiết phương hướng phát triển các hoạt
động kinh tế xã hội nhằm tạo ra nhiều chỗ việc làm hơn, sử dụng có hiệu quả nhất
tài nguyên lao động.
CHƯƠNG 2
KÕ ho¹ch lao ®éng viÖc lµm ë ViÖt Nam–
giai ®o¹n 2006 2010.–
I KÕ ho¹ch lao ®éng - viªc lµm ë ViÖt Nam giai ®o¹n 2006 2010.– –
Để thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước là tạo nhiều
việc làm bền vững và chất lượng cao cho người lao động, phát huy tối đa nhân tố
con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, cần có hệ
thống chính sách và giải pháp đồng bộ. Do vậy, cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn
13