mục lục
Lời mở đầu 3
Chơng I: Khái quát tình hình kinh tế Nhật Bản 5
1.1 Tình hình kinh tế xã hội Nhật Bản trong thập niên 90 thế kỷ XX trở lại đây 5
1.1.1 Sự bất ổn định kinh tế Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX 5
1.1.2 Suy thoái và khủng hoảng kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ này là suy thoái,
khủng hoảng về cơ cấu kinh tế 5
1.1.2.1 Đồng Yên lên giá ảnh hởng trực tiếp đến lĩnh vực xuất khẩu và đầu t 6
1.1.1.3 Vấn đề việc làm và thu nhập cho ngời lao động đã và đang là vấn đề nan giải
7
1.1.1.4 Nguyên nhân của sự phát triển không ổn định của nền kinh tế Nhật Bản 8
1.1.2 Triển vọng phục hồi nền kinh tế năm đầu thế kỷ XXI và những nỗ lực cải cách
của Thủ tớng Koizumi 12
1.2 Thơng mại của Nhật với các khu vực và thế giới trong những năm gần đây
15
1.2.1 Lợi ích kinh tế của Nhật Bản trong quan hệ thơng mại với các khu vực và thế
giới 15
1.2.2 Đánh giá cán cân thơng mại của Nhật Bản trong thời gian qua 18
1.2.3 Thị trờng và cơ cấu hàng hoá và xuất nhập khẩu của Nhật Bản 19
1.2.3.1 Thị trờng xuất nhập khẩu của Nhật Bản 19
1.2.3.2 Cơ cấu xuất nhập khẩu 21
1.3 Chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại của Nhật Bản trong những năm gần đây
25
1.3.1 Chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại 25
1.3.2 Những xu hớng chủ yếu của kinh tế đối ngoại Nhật Bản trong những năm đầu
của thế kỷ XXI 26
1
Chơng II: Thực trạng quan hệ thơng mại Việt - Nhật trong
những năm qua 35
2.1 Các giai đoạn lịch sử phát triển quan hệ kinh tế thơng mại Việt-Nhật 35
2.1.1 Sơ lợc về quan hệ thơng mại Việt Nhật trớc năm 1973 35
triển chính thức mà Việt Nam vẫn nhận đợc từ các nhà tài trợ song phơng và đa ph-
ơng. Đồng thời Nhật Bản cũng là một trong những nhà đầu t lớn nhất tại Việt Nam.
Tính tới tháng 9 năm 2002, tổng số vốn đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam là 3.681,4
triệu USD (368 dự án), đứng thứ t trong các nớc và vùng lãnh thổ, sau Singapo, Đài
Loan và Hồng Kông. Đặc biệt là trong những năm gần đây, Nhật Bản đã trở thành
bạn hàng lớn của Việt Nam. Riêng kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 2,5 tỷ USD
tức gần 533.176,391 triệu JPY, lớn gấp đôi so với thị trờng đứng thứ hai về nhập
khẩu hàng hoá Việt Nam. Hiện nay, Nhật Bản là đối tác lớn nhất của Việt Nam với
tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm 1999, 2000, 2001 là 75.841; 223,022;
316,735 triệu JPY. Sự gia tăng khối lợng kim ngạch trong những năm qua cho thấy
Nhật Bản vẫn luôn là thị trờng có vai trò hàng đầu với hoạt động xuất nhập khẩu của
nền kinh tế nớc ta. Trên thực tế, hàng hoá Việt Nam đợc bán trên thị trờng Nhật với
số lợng hết sức khiêm tốn, chỉ khoảng 6% tổng kim ngạch nhập khẩu cuả Nhật, trong
khi đó, Trung Quốc chiếm 13,2 %, Singapore chiếm 2,9 %, Malaysia chiếm 2,7 %.
Do đó, việc đẩy mạnh quan hệ thơng mại giữa hai nớc, nhất là việc nâng cao tỷ trọng
hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật là rất quan trọng.
Về mặt ngoại giao, hai nớc đã có nhiều cuộc tiếp xúc, đối thoại song phơng ở các
cấp, các ngành trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật,
3
nhằm tăng cờng hiểu biết và hợp tác lẫn nhau. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Thủ
tớng Nhật Bản Junichiro Koizumi tháng 4 và chuyến viếng thăm Nhật Bản gần đây
của Tổng bí th Nông Đức Mạnh đã một lần nữa chứng minh cho sự hợp tác tốt đẹp
giữa hai nớc. Thủ tớng Koizumo khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục ủng hộ chính sách
đổi mới của Việt Nam thông qua các biện pháp tăng cờng hợp tác và đầu t, viện trợ
cho Việt Nam. Qua hai chuyến viếng thăm này, hai nớc sẽ tiến tới ký kết Hiệp định
đảm bảo đầu t trong năm nay để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nhật phát
triển hơn nữa.
Trên cơ sở thực trạng của quan hệ kinh tế đối ngoại Việt Nhật trong những năm qua,
tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: Quan hệ thơng mại Việt Nhật và các giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang Nhật Bản với hy vọng đa ra một cái nhìn tổng
thoái, khủng hoảng về cơ cấu kinh tế:
Khởi đầu của suy thoái những năm 90 là sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng. Tăng
trởng kinh tế (GDP) của Nhật trong những năm này đã liên tục suy giảm. Từ năm
1990 đến năm 1993, động thái tăng trởng kinh tế suy giảm liên tục: 5,5%; 2,9%;
0,4%; Dấu hiệu phục hồi trở lại vào những năm 1994 - 1996 với tốc độ tăng trởng
qua các năm là: 0,6%; 1,4%; 2,9%. Nhng từ năm 1997 đến 1998, Nhật Bản lại lâm
vào khủng hoảng trầm trọng, kinh tế Nhật tăng trởng âm liên tục từ 0,7% đến
0,9%. Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản gắn liền với ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ Đông Nam á [23,11]. Năm 1999, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục
hồi với tốc độ tăng trởng là 0,5%. Các chỉ số tăng trởng GDP hàng năm trên đây đã
phản ánh khái quát nhất suy thoái kinh tế Nhật Bản suốt những năm 90 của thế kỷ
XX.
5
Tuy nhiên, suy thoái dẫn đến khủng hoảng có tính chất cơ cấu của nền kinh tế Nhật
Bản trong những năm 90 khác với cuộc khủng hoảng kinh tế trớc đây. Đó là nền kinh
tế vẫn chìm trong tình trạng suy thoái kéo dài, sự phục hồi của một số ít doanh
nghiệp lớn đợc nhà nớc hỗ trợ vẫn không khắc phục đợc tình trạng này. Sự phát triển
mất cân đối trong cơ cấu kinh tế thể hiện ở việc mở rộng sản xuất chủ yếu trong các
lĩnh vực công nghệ cao nh sản xuất máy vi tính, điện thoại di động, tin học hoá mà
không chú trọng tới các ngành công nghiệp truyền thống khác cũng nh việc gia tăng
hoạt động đầu t của Nhật Bản ở nớc ngoài. Do đó, các ngành công nghiệp trong nớc
lâm vào tình trạng suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đời sống của ngời lao động
trở nên bấp bênh vì hầu nh không còn tồn tại hình thức thuê mớn công nhân suốt đời
nh trớc đây, các xí nghiệp vừa và nhỏ cũng chịu ảnh hởng trực tiếp của cuộc khủng
hoảng cơ cấu kinh tế này.
1.1.1.2 Đồng Yên lên giá ảnh hởng trực tiếp đến lĩnh vực xuất khẩu và đầu t:
Trong suốt những năm 90, đồng Yên lên xuống thất thờng, lên cao nhất là 70
Yên/USD (1995), và thấp nhất là 145 Yên/USD (1998) [23,14]. Việc đồng Yên lên
giá làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Nhật Bản do giá thành tăng nhanh,
hàng hoá trở nên ế ẩm, làm ảnh hởng xấu tới ngoại thơng Nhật Bản, đặc biệt là những
xuống thất thờng, giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán cũng diễn biến rất phức tạp
đã khiến cho các nhà kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ các doanh nghiệp phá sản
ngày càng gia tăng. Tình trạng này càng làm gia tăng số lợng ngời thất nghiệp, và thu
nhập thực tế của ngời lao động cũng suy giảm do sản xuất kinh doanh đình đốn, giá
cả gia tăng.
1.1.1.4 Nguyên nhân của sự phát triển không ổn định của nền kinh tế Nhật Bản:
7
Có nhiều cách xác định nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản những
năm 90, theo tôi có 5 nguyên nhân chính giải thích sự suy thoái này.
Một là, các nguyên nhân nảy sinh từ sự sụp đổ nền kinh tế bong bóng. Nền kinh tế
bong bóng chính là nền kinh tế tăng trởng cực nhanh của Nhật Bản cuối thập niên
80, song đó không phải là tăng trởng thực sự từ sự phát triển các hoạt động sản xuất
của cải vật chất mà chủ yếu tăng trởng giả tạo do đầu cơ vào mua bán bất động sản,
trái phiếu, các hàng hoá nghệ thuật có giá trị lớn. Nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã dự
trữ một khối lợng lớn các tài sản dới dạng bất động sản và cổ phiếu các công ty. Do
đó, sản xuất và tiêu dùng bị kích thích mạnh bởi cơn sốt bất động sản và cổ phiếu
chứng khoán. Điều này làm cho kinh tế Nhật Bản tăng trởng rất cao vào những năm
của thập kỷ 80. Để hạn chế tốc độ tăng trởng quá nóng, Chính phủ phải nâng lãi suất
cho vay, vì vậy, nền kinh tế bị xì hơi, giá cổ phiếu và bất động sản tụt xuống rất
nhanh. Hậu quả là tiền nợ không đòi đợc lên tới con số rất cao, ảnh hởng nghiêm
trọng tới hệ thống tín dụng, ngân hàng. Tính đến cuối năm 1995, đã có hàng loạt
công ty bị phá sản, không có tiền trả nợ ngân hàng, khiến cho tổng số nợ khó đòi của
các ngân hàng đã lên tới 40.000 tỷ JPY (gần 400 tỷ USD). Nhiều ngân hàng và công
ty tài chính lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, trong đó có cả 11 ngân hàng mạnh
nhất của Nhật Bản và cũng là của thế giới đã phải giảm tới 10% khả năng hoạt động
trong hai năm 1994-1995 [23,19]. Giới đầu t vốn trong nớc và ngoài nớc mất lòng tin
với thị trờng tài chính Nhật Bản. Tình trạng này ảnh hởng trực tiếp tới một bộ phận
khác về mặt cầu là đầu t của các xí nghiệp. Ngân hàng cha xử lý đợc các món nợ khó
đòi, không tích cực hoặc không có khả năng cho vay đối với các dự án mới, ảnh hởng
không nhỏ tới các xí nghiệp vừa và nhỏ. Các ngân hàng lúc đó không có khả năng
cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản những năm 90 mà là kết quả của sự phát triển
kinh tế Nhật Bản những năm trớc đây. Khi nền kinh tế tăng trởng cao, thì chính sách
đảm bảo phúc lợi cho ngời già đợc gia tăng, đây là một trong những nguyên nhân chủ
9
yếu khiến cho tuổi thọ của ngời dân Nhật Bản rất cao. Tỷ lệ ngời già trên 65 tuổi
chiếm 15% dân số, dự báo đến năm 2005 số ngời trên 65 tuổi là 19,3%, 2050 con số
này sẽ lên tới 35% [23,24]. Mặt khác, do làm việc quá căng thẳng, chịu nhiều sức ép
nên xu thế hiện nay của những ngời trẻ tuổi là họ không muốn sinh con, hoặc cùng
lắm chỉ sinh 1 con, bình quân 1 phụ nữ Nhật Bản chỉ sinh 1,42 con và thông thờng thì
ngời phụ nữ trong gia đình thờng ở nhà làm công việc nội trợ, không tham gia vào lao
động xã hội. Ngoài ra, còn có những ngời không thích kết hôn mà chỉ sống độc thân
nên tình trạng mất cân đối cơ cấu dân số là tất nhiên. Nhật Bản đang đứng trớc thách
thức số ngời già tăng nhanh nhng số trẻ em ngày càng ít.
ảnh hởng của vấn đề dân số già và tỷ lệ sinh đẻ thấp trên đây đối với nền kinh tế
Nhật Bản đã gây nên tình trạng thiếu sức lao động, nhất là lao động trẻ trong lĩnh vực
khoa học kỹ thuật, từ đó làm giảm năng suất lao động xã hội và tăng trởng kinh tế. Sự
già hoá dân số còn kéo theo một loạt các hậu quả khác nh: làm giảm thu nhập và sức
mua, giảm tỷ lệ tích luỹ trong gia đình do đó làm giảm đầu t vào phát triển kinh tế,
giảm đóng thuế, giảm đóng góp tiền hu, tăng gánh nặng tài chính cho ngân sách Nhà
nớc, Theo dự báo của các nhà nhân khẩu học từ năm 2007 trở đi, dân số Nhật sẽ
suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn 67 triệu ngời năm 2100. Rõ ràng, sự già hoá dân số
ở Nhật Bản là một trong những nguyên nhân không nhỏ làm cho nền kinh tế Nhật
Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
Một nguyên nhân nữa không thể không kể đến là sự yếu kém của bộ máy nhà nớc,
tình hình chính trị không ổn định. Trớc đây sự liên kết giữa tam giác quyền lực (giới
chính trị, quan chức nhà nớc và doanh nghiệp) ở Nhật đã có tác động rất tích cực thì
trong thời điểm những năm 90 lại trở nên hết sức tiêu cực: tình hình chính trị rối ren,
bộ máy nhà nớc quản lý yếu kém, quan chức nhà nớc tham gia vào các vụ bê bối,
tham nhũng. Trải qua gần 40 năm cầm quyền, Đảng Dân Chủ-Tự Do Nhật đã mất
quyền lãnh đạo, trở thành đảng đối lập suốt những năm 1993-1996. Từ năm 1997 đến
11
các công ty Nhật dự định đầu t ra nớc ngoài là 1,2 nghìn tỷ JPY, giảm 56,5% so với
năm trớc, trong đó 20% tổng số tiền đợc đầu t vào Châu á, giảm 3,6% so với năm
1997 [23,41]. Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã có tác động
mạnh mẽ tới nền tài chính Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng đã làm rối loạn các quan hệ
tài chính tiền tệ giữa các công ty trong nớc với các công ty nớc ngoài làm không ít
các tổ chức tài chính tiền tệ phá sản. Chỉ tính đến đầu năm 1998, các khoản nợ khó
trả lên tới 6700 tỷ JPY, chiếm khảng 15% GDP. Cuộc khủng hoảng còn làm giảm chỉ
số Nikkei và đồng Yên, đồng Yên đã đạt tới mức kỷ lục 147,24 Yên/đôla [23,163].
1.1.2 Triển vọng phục hồi nền kinh tế năm đầu thế kỷ XXI và những nỗ lực cải
cách của Thủ tớng Koizumi:
Với tốc độ tăng trởng kinh tế khả quan năm 2000, nhiều ngời đã hy vọng rằng nền
kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ nhanh chóng phục hồi. Sau nhiều năm suy thoái,
nền kinh tế lại có mức tăng trởng dơng song tốc độ tăng trởng còn ở con số hết sức
khiêm tốn. Bớc vào năm 2001, sự suy giảm tốc độ tăng trởng kinh tế vẫn còn tiếp
diễn, có thể nhận thấy qua con số thống kê từng quý của năm 2001: Quý I: 0,1%;
Quý II: -0,7%, Quý III: -0,5% [9,11]. Những tháng đầu năm 2002, trong một số lĩnh
vực nhất là xuất khẩu, tình hình có vẻ sáng sủa hơn song vẫn cha ổn định và thiếu
chắc chắn. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) của nớc này trong 3 tháng đầu năm
tăng 1,4%, cao nhất trong 2 năm trở lại đây. Mức tăng tơng đơng với tốc độ tăng tr-
ởng 5,7%/ năm, cao hơn cả Mỹ. Ông Kiichi Miyazawa, Bộ trởng Tài chính Nhật Bản
khẳng định rằng: Kể từ nay trở đi, nền kinh tế Nhật Bản sẽ hồi phục, và cơ sở của
sự hồi phục này là sự cải thiện về tình hình lợi nhuận của các doanh nghiệp trong thời
gian qua, đặc biệt là các công ty công nghệ cao và khu vực kinh tế mới. Sự xuống
giá của đồng Yên sẽ tác động tích cực tới xuất khẩu và không hề gây trở ngại đối với
việc các nhà đầu t nớc ngoài tiếp tục mua trái phiếu Chính phủ Nhật Bản. Chính sự
phục hồi nhanh chóng của các hoạt động xuất khẩu và sự gia tăng mạnh mẽ trong chi
tiêu tiêu dùng đã làm cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật tăng tới 1,4%
12
trong thời gian nói trên. Các con số thống kê cho thấy, tốc độ tăng trởng kinh tế trong
tham gia nhiều hơn vào thị trờng chứng khoán. Hiện nay, tiền để dành của ngời Nhật
lên tới 14.000.000 tỷ JPY (khoảng 12.000 tỷ USD, trung bình mỗi ngời dân khoảng
100.000 USD) và 70% do ngời già nắm giữ [13,9]. Nếu cải cách thuế, một phần số
tiền đó sẽ mua chứng khoán và làm cho giá chứng khoán tăng lên.
Thứ ba là tiến hành cải cách cơ cấu. Cải cách cơ cấu là mục tiêu luôn đợc Chính
phủ đa lên hàng đầu. Thủ tớng Koizumi đã xúc tiến bảy chơng trình cải cách bao
gồm: t nhân hoá; thực hiện chơng trình hỗ trợ cá nhân nh là một hệ thống xã hội
khuyến khích khả năng của cá nhân; tăng cờng chức năng bảo hiểm và phúc lợi xã
hội; thành lập quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu và giáo dục đối với khu vực t nhân; cải thiện
cơ sở hạ tầng để tạo một môi trờng cho phép mọi ngời sống và làm việc theo ý muốn;
tối đa hoá quyền lực của chính quyền địa phơng để tăng tính tự lập và năng động; cải
cách tài chính bằng cách thay đổi sự cứng nhắc đối với các hình thức phân bổ nguồn
vốn của chính quyền nhà nớc và địa phơng, điều chỉnh lại các nguồn thu nhập và
phân bổ ngân sách giữa các khu vực sao cho hiệu quả và linh hoạt hơn. Cùng với việc
cải cách cơ cấu kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng cải tổ, sắp xếp lại tổ
chức và định hớng lại sản xuất cho phù hợp với điều kiện mới.
Thứ t là, tập trung xây dựng hệ thống kinh tế có sức cạnh tranh trong môi trờng
kinh tế hiện nay. Nhật Bản xúc tiến đầu t vào các ngành công nghiệp mới trong đó
Chính phủ chú trọng tới các biện pháp về thuế để kích thích t nhân tham gia vào thị
trờng chứng khoán, thực hiện chơng trình trọng điểm e-japan để đạt tới mục tiêu
trong 5 năm tới Nhật Bản trở thành nớc hàng đầu về công nghệ thông tin. Ngoài ra,
Nhật Bản rất nỗ lực trong hợp tác kinh tế với các nớc Asean + 3, Chính phủ đang xem
14
xét tới việc thiết lập một khu vực tự do thơng mại Đông á trớc 2010 để tận dụng u
thế của thị trờng rộng lớn này.
Trên đây là những giải pháp chủ yếu của Thủ tớng Koizumi đề ra và tiến hành trong
năm 2001. Dù rằng tốc độ tăng trởng kinh tế Nhật Bản năm 2001 không đạt đợc nh
mong đợi, và trong năm 2002, tình hình kinh tế vẫn khó khăn và tăng trởng yếu ớt
song có thể hy vọng về một tốc độ tăng trởng khá nếu Nhật Bản tiếp tục giữ vững đ-
ờng lối cải cách của mình, đồng thời tiếp tục đa ra những chính sách mới một cách
gặt hái đợc có sự đóng góp không nhỏ của thơng mại quốc tế.
Thứ hai là nhờ có thơng mại quốc tế mà việc giao lu văn hoá đã xâm nhập vào Nhật
Bản, làm cho cuộc sống ngời dân trở nên phong phú hơn, chất lợng cuộc sống đợc
nâng cao hơn. Đồng thời, quan hệ thơng mại với các nớc còn làm cho tự do dân chủ ở
Nhật phát triển mạnh, tạo lập cơ sở cho sự hiểu biết lẫn nhau, xoá tan những thù hằn
trong quá khứ. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để bành trớng vai trò
của Nhật về phơng diện kinh tế và chính trị trên toàn cầu. Có thể thấy rằng quan niệm
của ngời Nhật về bên trong và bên ngoài rất đậm nét và có phần hạn chế sự xâm nhập
bên ngoài vào trong nớc. Chính vì vậy, việc mở rộng quan hệ buôn bán với các nớc
trên thế giới buộc Nhật Bản phải cải cách lại cơ chế bên trong cho phù hợp. Trớc tiên
là hệ thống ngân hàng, hiện đang là lĩnh vực cản trở sự phục hồi của Nhật Bản.
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế làm cho sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn.
Nhiều doanh nghiệp nớc ngoài đã xâm nhập vào thị trờng Nhật, mang lại cho thị tr-
ờng Nhật những tác phong làm việc mới, cách thức kinh doanh mới, Vì vậy, ng ời
Nhật phải liên tục đổi mới, nghiên cứu tìm ra những phơng thức mới trong kinh
doanh để dành đợc u thế và khẳng định đợc vai trò của mình trên thế giới.
16
Bên cạnh đó, tham gia vào thơng mại quốc tế còn tạo điều kiện cho Nhật Bản tham
gia một cách tích cực hơn nữa vào việc giải quyết các vấn đề của toàn cầu có liên
quan đến sự phát triển kinh tế, đến sự tồn vong của Nhật Bản. Đặc biệt là vấn đề về
môi trờng, Nhật Bản không thể tự mình giải quyết hết đợc các vấn đề về môi trờng.
Trong quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản trớc đây, ngời ta cha chú trọng đúng
mức tới môi trờng, hậu quả là Nhật Bản ở trong tình trạng ô nhiễm môi trờng nặng.
Nhật Bản là nớc có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên Nhật Bản phải đầu t rất lớn
vào các biện pháp hạn chế những hậu quả do ô nhiễm môi trờng. Tuy nhiên, Nhật
Bản khó có thể giải quyết vấn đề này một mình mà cần có sự hợp tác quốc tế để cùng
giải quyết.
Tóm lại, không thể phủ định vai trò của quan hệ thơng mại với các khu vực và thế
giới trong sự ổn định và phát triển của Nhật Bản. Tuy nhiên, thông qua thơng mại
quốc tế, các quốc gia khu vực Đông á đã nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra một
khẩu liên tục giảm sút, quý I, quý II lần lợt giảm là 3,6%, 4,8%, kim ngạch xuất khẩu
quý III đạt 12.049,9 tỷ JPY, giảm 7,8 % so với cùng kỳ năm trớc. Tính riêng mức
xuất khẩu giảm 7,8% đạt 4136 tỷ JPY, trong khi đó kim ngạch nhập khẩu tăng 2,4%,
đạt 3375 tỷ JPY. Theo thống kê của Bộ Tài chính, mức thặng d trong 9 tháng đầu
năm 2001 đạt 3305 tỷ JPY, giảm 43,1% so với cùng kỳ khoá trớc. Đây là mức giảm
lớn nhất kể từ năm 1978 đến nay. Xuất khẩu giảm mạnh do sự suy giảm nhu cầu trên
thế giới, nhất là nhu cầu về các sản phẩm thuộc khu vực công nghệ thông tin (IT).
Bên cạch đó, cuộc khủng bố 11-9 cũng ảnh hởng không nhỏ tới thơng mại Nhật, làm
gián đoạn hoạt động xuất khẩu sang thị trờng Mỹ.
1.2.3 Thị trờng và cơ cấu hàng hoá và xuất nhập khẩu của Nhật Bản:
1.2.3.1 Thị trờng xuất nhập khẩu của Nhật:
18
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong những năm gần đây của Nhật cho thấy
có xu hớng chuyển dịch sang Châu á.
Bảng 2, Thị trờng xuất khẩu Nhật Bản:
( Đơn vị: %)
Châu á
Trung
Đông
EU Mỹ Mỹ la
tinh
Châu Phi Châu Đại
Dơng
1998
1999
2000
34,7
37,3
41,1
3,6
37,1
39,6
41,7
9,2
9,9
13,0
13,9
13,8
12,3
23,9
21,6
19,0
3,3
3,1
2,9
1,4
1,3
2,9
5,6
5,0
4,7
(Nguồn: Japan almanac 2002).
Từ số liệu trên ta thấy, thị trờng chính của Nhật là Mỹ, Châu á và EU. Thị trờng
Châu á trong thời gian gần đây đã chiếm tỷ trọng cao trong quan hệ thơng mại với
Nhật Bản, trong khi đó, thị trờng Mỹ và EU lại có xu hớng giảm.
Thơng mại của Nhật với Châu á năm tăng trởng cao nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu
20,1% so với năm 1999 trong khi đó Mỹ và EU chỉ tăng 5,0% và 0,4%. Điều đó cho
thấy Châu á đã trở thành đối tác quan trọng của Nhật Bản.
19
Sang năm 2001, kim ngạch nhập khẩu từ Châu á có chiều hớng tăng. Trong tháng 1,
Trung Quốc 3.274.448 23,2 6,3 5.941.358 21,9 14,5 2.666.910
Hàn Quốc 3.308.751 27,0 6,4 2.204.703 20,9 5,4 1.104.048
Đài Loan 3.874.045 18,2 7,5 1.930.141 32,6 4,7 1.943.881
NIEs 12.356.404 20,6 23,9 5.008.202 22,1 12,2 7.348.202
Asean 7.381.211 19,6 14,3 6.423.810 22,1 15,7 957.401
Châu Đại Dơng 1.109.597 8,0 2,1 1.928.696 9,2 4,7 819.099
úc
923.830 3,9 1,8 1.595.908 9,5 3,9 672.078
Bắc Mỹ 16.165.440 5,0 31,3 8.727.724 2,1 21,3 7.434.716
Hoa Kỳ 15.355.867 5,1 29,7 7.778.861 1,8 19,0 7.577.006
Châu Mỹ Latinh 2.265.297 2,2 4,4 1.183.276 7,4 2,9 1.082.021
Mexico 561.557 12,3 1,1 257.126 36,9 0,6 304.431
Đức 2.155.178 1,6 4,2 1.371.925 5,0 3,4 783.253
Anh 1.598.434 1,1 3,1 709.180 5,2 1,7 889.254
Pháp 803.801 3,6 1,6 691.297 1,1 1,7 112.504
Hà Lan 1.356.814 0,8 2,6 216.174 0,4 0,5 1.140.640
EU 8.431.938 0,4 16,3 5.042.937 3,7 12,3 3.389.001
Nga 61.404 12,3 0,1 493.791 15,2 1,2 432.387
Trung Đông 1.044.818 6,0 2,0 5.310.155 53,9 13,0 4.263.337
Châu Phi 544.124 13,0 1,1 534.937 15,0 1,3 9.187
(Nguồn: Bộ Tài Chính Nhật Bản).
20
1.2.3.2 Cơ cấu xuất nhập khẩu:
Một đặc điểm của cơ cấu xuất khẩu Nhật Bản những năm gần đây là sự tăng nhanh
chóng của những sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin (những sản phẩm có
hàm lợng công nghệ cao) bao gồm chất bán dẫn và thiết bị điện tử, thiết bị truyền
thông, dụng cụ đo lờng điện tử, sợi cáp quang, các thiết bị quang học và khoa học
khác. Ngợc lại, Nhật Bản nhập khẩu chủ yếu là nguyên nhiên liệu do đặc điểm vốn
có là một nớc nghèo tài nguyên và chính sách kinh tế hớng xuất khẩu.
Bảng 5, Thể hiện cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản năm 2000:
10.828 21,0 0,3
+ Xe ô tô 1.000 5.188 6.930 13,4 2,3
Dụng cụ chính xác 2.773 5,4 15,3
+ Thiết bị quang học và
khoa học
2.626 5,1 17,2
21
Khác 4.887 9,5 3,0
(Nguồn: Thống kê của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản).
Xuất khẩu các sản phẩm điện tử - bán dẫn là thế mạnh của xuất khẩu Nhật Bản. Năm
2000, xuất khẩu trong lĩnh vực này tăng 18,2% so với năm 1999. Trong 3 tháng đầu
năm 2001, xuất khẩu các sản phẩm bán dẫn điện tử có mức tăng là 31,2% so với cùng
kỳ năm trớc. Do sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu mà xuất khẩu các sản phẩm
này có chiều hớng giảm, tháng 5 năm 2001 giảm 15,7%, xuất khẩu các sản phẩm bán
dẫn sang Mỹ giảm 29,3%, EU giảm 37,6%, Châu á giảm 8,2%. Sự đóng góp của
thiết bị điện và điện tử, thiết bị chính xác làm cho kim ngạch xuất khẩu nhóm tăng
60%. Đầu năm 2001, hoạt động xuất khẩu ô tô có sự giảm sút mạnh trong 4 tháng
đầu năm là 13,4% so với cùng kỳ năm trớc, mặc dù xuất khẩu phụ tùng ô tô năm
2000 tăng 14%. Thời gian gần đây, sức cạnh tranh của ô tô Nhật giảm so với trớc,
đây là một trong những lý do khiến cho lợng xuất khẩu ô tô sang Mỹ giảm 23%, EU
giảm 20,1%.
22
Bảng 6, Kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản năm 2000 đợc phân theo nhóm sản
phẩm trong bảng 6:
(Đơn vị: tỷ JPY, %)
Sản phẩm Đơn vị Số lợng Giá trị Chiếm tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ tăng trởng so với năm
1999(%)
Tổng cộng 40.938 100,0 16,0
2.140 5,2 39,6
+ Xe ô tô 768 1,9 8,9 6,3
+ Thiết bị khoa học và
quang học
958 2,3 14,6
Loại khác 4.105 10,0 6,6
(Nguồn: Bộ Tài Chính Nhật Bản).
Trong cơ cấu nhập khẩu, dầu thô và các sản phẩm dầu vẫn tiếp tục gia tăng, năm
2000 so với năm 1999, mức nhập khẩu dầu thô tăng 0,4%, năm 2001, mức nhập khẩu
dầu thô tăng 1,5%. Bên cạnh đó, các sản phẩm dệt may cũng đợc nhập với tổng trị
giá năm 2000 so với 1999 tăng 11,6 tỷ JPY. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ gần đây
đợc nhập khẩu với số lợng tăng rất mạnh, trong 9 tháng đầu năm 2001, nhập khẩu
23
hàng thủ công mỹ nghệ chiếm tới 50% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng bách hoá của
Nhật. Đối với các mặt hàng thiết bị viễn thông, với chính sách đẩy mạnh tin học hoá
nền kinh tế, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng lên. Năm 2000, giá trị nhập khẩu lên tới
29,1 tỷ JPY so với năm 1999 và trong 4 tháng đầu năm 2001, tăng 84,3% đạt 19,3 tỷ
JPY và có khả năng tăng lên nhiều trong tơng lai.
1.3 Chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại của Nhật Bản
trong những năm gần đây:
1.3.1 Chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại:
Trong suốt những năm của thập niên 90 thế kỷ XX tới nay, Nhật Bản chìm trong
khủng hoảng, đến nay mặc dù đã có dấu hiệu phục hồi khả quan, song cha có những
bớc tiến triển vững chắc. Là một đất nớc có nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài rất
nhiều, nên sự bất ổn định của nền kinh tế Nhật bản ít nhiều chịu tác động của suy
thoái kinh tế thế giới nói chung. Nếu nh trong những năm của thập niên 70, 80, Nhật
Bản tự hào là nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới: 5,8% và 3,8% thì ng-
ợc lại từ thập niên 90 trở lại đây, tốc độ tăng trởng của Nhật Bản thấp hơn 1,6% so
với tốc độ tăng trởng kinh tế thế giới [23,201]. Nhận thức đợc tầm quan trọng của
kinh tế đối ngoại với nền kinh tế đất nớc, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều cải cách
mậu dịch, phơng thức trao đổi và thanh toán. Mặc dù Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ
hai thế giới nhng hoạt động buôn bán dịch vụ cha thực dự phát triển. Vì vậy, để nâng
cao vị thế của mình trên thế giới, Nhật Bản đang rất chú trọng tới các hoạt động buôn
bán dịch vụ, nhất là dịch vụ tiền tệ. Sự yếu kém của hoạt động này thể hiện rất rõ
trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á 1997. Cuối năm 2000, Nhật Bản
đã đa ra chính sách mở rộng hơn nữa phạm vi Hiệp định trao đổi tiền tệ với các quốc
25