1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
TĂNG CƯờNG TƯƠNG TáC TRONG DạY HọC THốNG KÊ
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG Chuyờn ngnh: Lý lun v Phng phỏp dy hc b mụn Toỏn LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
H Ni, 2014
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Vì
thế việc đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng. Quan
điểm chung của đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định là tổ chức
cường việc dạy và học nội dung thống kê là cần thiết và quan trọng.
Tuy nhiên, việc dạy và học nội dung thống kê gặp nhiều khó khăn. Hầu
hết các giáo viên chưa đặt trọng tâm vào việc giảng dạy nội dung này, hơn
nữa việc nhận thức cũng cần đến loại hình tư duy mới đó là quá trình nhận
thức sự vật, hiện tượng và giải quyết vấn đề dựa trên sự phân tích các số liệu
khảo sát và điều tra. Thực tế cho thấy học sinh khi học nội dung thống kê chỉ
nắm kiến thức một cách máy móc, không hiểu rõ bản chất, ý nghĩa với thực tế
đời sống.
Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
học nội dung thống kê ở trường THPT, nên đề tài được chọn là: “Tăng cƣờng
tƣơng tác trong dạy học Thống kê ở trƣờng Trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp nhằm tăng cường tương tác trong dạy học
nội dung thống kê ở trường THPT
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa lí luận về sự tương tác trong dạy học.
Xây dựng một số biện pháp khi dạy và học nội dung thống kê, đặc biệt
là phương pháp dạy học theo dự án và dạy học theo phân nhóm.
Điều tra thực trạng dạy và học thống kê ở trường THPT.
Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của
4
những biện pháp đề ra.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình dạy và học nội dung thống kê ở trường THPT
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và vận dụng hợp lí các biện pháp nhằm tăng cường tương
tác dạy học nội dung thống kê thì sẽ giúp cho học sinh học tập tích cực, chủ
động, sáng tạo và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học, tăng tính
thực tiễn nội dung này.
2.5. Tăng cường tương tác khi dạy học theo dự án.
2.6. Đề xuất qui trình dạy học theo dự án.
2.7. Đề xuất giải pháp tổ chức hoạt động nhóm sử dụng kĩ thuật “ các
mảnh ghép” với nhóm 3-3-3.
2.8. Thiết kế và tổ chức dạy học một số kiến thức trong nội dung Thống kê.
Tổng kết chương 2
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm
3.2. Nội dung thực nghiệm
3.3. Tổ chức thực nghiệm
3.4. Kết quả và đánh giá thực nghiệm
Tổng kết chương3I 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIỄN
1. Phƣơng pháp sƣ phạm tƣơng tác
1.1 Dạy học dựa vào tƣơng tác
Theo quan điểm dạy học hiện đại, dạy học cần thiết xem xét trên ba
phương diện:
- Về phương diện xã hội- lịch sử, dạy học là quá trình và kết quả của sự
tái sản xuất và phát triển những giá trị kinh nghiệm xã hội cơ bản, có chọn
lọc, ở từng cá nhân thuộc những thế hệ người học nhất định để thực hiện
những chức năng phát triển cá nhân và cộng đồng.
- Về phương diện tâm sinh lí: Dạy học là hình thức phổ biến của sự phát
triển cá nhân và cộng đồng. Mỗi cá nhân trong bất kì xã hội nào cũng đều
phát triển dưới hai hình thức: hình thức cá biệt, của riêng cá nhân và môi
trường hoạt động cá nhân quy định; hình thức phổ biến, chung cho cả thế hệ
mục đích cần đạt, gợi cho họ hứng thú học tập, hướng dẫn cho họ cách học,
giúp học khắc phục khó khăn, phát hiện và sửa chữa sai lầm.
- Người dạy chỉ cho người học mục tiêu mà học phải đạt được, sắp xếp
nội dung, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi mở, làm
cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích. Người dạy cần phải tạo cơ hội
cho người học được hoạt động, được bày tỏ, được thể hiện và tự khẳng định
được mình, tránh sự áp đặt một chiều.
- Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu.
Người dạy phục vụ người học và phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo
cách của một người hướng dấn.
1.2.3 Môi trường
- Môi trường là toàn bộ các yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng
đến con người. Xung quanh người học và người dạy là thế giới vật chất, gia
đình, nhà trường, xã hội, chính trị và văn hóa. Tất cả các yếu tố này tạo thành
môi trường của người dạy và người học
8
- Môi trường là một tác nhân đóng một vai trò có ý nghĩa quan trọng vì
nó liên quan tới cả việc dạy và việc học.
Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người
dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá
nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học
Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học , người dạy
như: môi trường( không gian vật chất và tâm lí, thời gian, ánh sáng ), người
dạy ( hình thức bên ngoài, đời sống nội tâm, kĩ năng giao tiếp, ) ảnh hưởng
tới người học. Người học, đặc biệt là tập thể HS với không khí học tập thi đua
của lớp ảnh hưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền, tập tính của cha
mẹ, những giá trị truyền thống, sự quan tâm của bố mẹ, xã hội, chế độ chính
trị, hệ thống định hướng, chính sách kinh tế- xã hội
Bộ ba tác nhân: người dạy, người học, môi trường tạo thành hạt nhân
khuyên…Như vậy, trong tương tác nêu trên thì người học đã tác động và
người dạy đã phản ứng một cách chính xác và kịp thời trong môi trường mà
cả hai đều chấp nhận [6,41] .
Người dạy, bằng phương pháp sư phạm của mình đã tác động đến người
học thông qua những gợi ý về hướng đi. Khi cần thiết người dạy chỉ cho
người học các giai đoạn phải vượt qua, các phương tiện cần sử dụng và các
kết quả cần đat được. Khi đó người dạy đã tác động tới người học bằng cách
này hay cách khác với mục đích để người học đạt được mục tiêu học tập của
mình. Khi nhận được tác động của người dạy, phản ứng của người học là đi
theo con đường do người dạy vạch ra, lúc này nếu người học cảm thấy sung
sướng và thỏa mãn, người học sẽ dễ dàng có cảm tình với người dạy, ngược
lại họ sẽ cảm thấy nản lòng hoặc thiếu hứng thú. Lúc này, người dạy đã hành
động và người học thì phản ứng. Một phản ứng tích cực hoặc tiêu cực về phần
người học có thể thôi thúc người dạy tiếp tục hoặc tự điều chỉnh lại phương
pháp sư phạm của mình. Tất cả sự thỏa mãn hay hứng thú đều thể hiện sự
phản ứng của người học trước sự tác động của người dạy Đôi khi, người dạy
10
tạo ra những chướng ngại, vật cản để gia tăng cơ hội hoạt động và học tập cho
người học. Người học đáp lại những tác động từ người dạy bằng cách đi theo
con đường mà người dạy vạch ra.
Trong mối quan hệ tương tác này, xu hướng nắm thế chủ động nghiêng
về phía người dạy, tức là người dạy thường áp đặt, điều khiển. Tuy nhiên,
theo quan điểm đổi mới giáo dục thì xu hướng này cần vận hành theo theo
hướng ngược lại, nghĩa là người học cần nắm thế chủ động, tích cực thực hiện
và tham gia tương tác với thầy để tìm kiếm nguồn động lực, tìm kiếm hướng
giải quyết vấn đề của bản thân hay nhiệm vụ học tập. Chừng nào, sự dịch
chuyển vai trò nắm thế chủ động từ thầy sang trò được thực hiện tối ưu, khi
ấy quá trình học mới thực sự hướng vào người học, người học mới được đặt ở
vị trí trung tâm.
trong tâm trí, thì khi ấy họ mới thực sự học và cho dù kết quả của các tương
tác đó là gì thì cũng đã được xem là thành công trong dạy học.
1.3.3 Tương tác người dạy, người học- môi trường
Trong quá trình dạy học, người dạy và người học không chỉ chịu sự tác
động từ môi trường mà còn tác động trở lại cải tạo môi trường để phục vụ,
nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học.
Môi trường tác động tới người học, người dạy và hoạt động của họ trên
những phương diện sau:
Tác động từ phía bên ngoài bao gồm: môi trường vật chất xung quanh,
bạn học, gia đình, nhà trường, xã hội.
Tác động từ phía bên trong chủ thể bao gồm: tiềm năng, giá trị,
nhân cách…
Như vậy, việc tác động cải tạo môi trường dạy học nhằm nâng cao tính
tương tác của môi trường dạy học nhằm nâng cao tính tương tác của môi
trường dạy học cần tiến hành một cách tổng thể từ việc cải tạo môi trường vật
chất: nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị,
đồ dùng dạy học; tạo bầu không khí thân mật, vui vẻ hợp tác trong lớp học; sự
12
Người học
Người dạy
Môi trường
chuẩn bị về tâm lí, kiến thức để người học tham gia vào quá trình tương tác
tích cực với các thành tố khác trong hoạt động dạy học để đồng hóa tri thức.
Quan niệm trên thể hiện một cách nhìn toàn diện, biện chứng về yếu tố
môi trường và sự ảnh hưởng của nó tới người học nói riêng và toàn bộ hoạt
động dạy học nói chung. Song ở đây cần xác định rõ đâu là giới hạn thực sự về
vai trò của người dạy trong việc tạo dựng và tổ chức môi trường để sự tác động
của nó tới người học và hoạt động học theo hướng có lợi nhất. Sự tác động của
yếu tố môi trường lên hoạt động dạy học không thể kiểm soát hết được. Chúng
các quan hệ năng động giữa chúng, đó cũng chính là yếu tố đặc trưng nhất của
QĐSPTT
1.4 Phƣơng pháp học, phƣơng pháp dạy và ảnh hƣởng của môi
trƣờng (các thao tác)
Trong hoạt động sư phạm, cùng với các tác nhân, các thao tác cũng có
một vị trí hết sức quan trọng, đó là các hành động của người học khi học, của
người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học và các hành động này
đều chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Như vậy, về bản chất,
hoạt động sư phạm bao gồm phương pháp học và phương pháp sư phạm, cả
hai phương pháp này đều chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh.
* Phương pháp học: Người học có nhiệm vụ là học cách học. Để
đạt được nhiệm vụ này người học phải có một phương pháp học. Phương
pháp học là hình ảnh khái quát của một quá trình mà người học với tư cách
là tác nhân chính tiến hành để kiến tạo, thu lượm, chiếm lĩnh tri thức hay
rèn luyện một kỹ năng mới. Phương pháp học miêu tả con đường mà người
học phải đi theo bằng cách đưa ra hành động học, trong đó người học phải sử
dụng tất cả các năng lực của cá nhân mình (kiến thức, kinh nghiệm đã tích
luỹ được, huy động hệ thống thần kinh, ) để lĩnh hội một tri thức mới.
* Phương pháp sư phạm : Người dạy tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thể,
người dạy trở thành người đạo diễn, thiết kế, tổ chức, trọng tài, cố vấn,
kích thích những hoạt động nhận thức, kiến tạo tri thức của người học. Người
dạy không phải là người thông báo tri thức có sẵn cho người học, người học
phải hoạt động để tự mình kiến tạo hoặc tham gia kiến tạo tri thức. Phương
pháp sư phạm là hình ảnh khái quát của toàn bộ quá trình can thiệp của
người dạy nhằm mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học.
14
Người dạy mong muốn tạo nên một không khí thuận lợi cho người học, do
vậy cần đến tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất sư phạm của mình và chú ý đến
các khả năng của môi trường cũng như nhu cầu của người học. Người dạy
tác động phù hợp của các yếu tố bên ngoài nhưng hiệu quả lại phụ thuộc
nhiều vào mức độ phù hợp của các yếu tố bên trong của người dạy và người
học, chẳng hạn như sự phù hợp về xúc cảm, giá trị, phong cách. Trong hoạt
động sư phạm, phạm vi tác động của môi trường tập trung ở ba yếu tố
chính và sự ý thức của người dạy và người học về ảnh hưởng của yếu tố môi
trường là rất quan trọng
.
Hình 2. Tác động của môi
trường
đến hoạt động dạy và họcTheo sơ đồ trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy cơ chế tương tác của môi
trường đến người học có thể diễn ra theo hai hướng sau:
- Hướng thứ nhất, môi trường tương tác trực tiếp đến người học;
- Hướng thứ hai, môi trường tương tác đến người học thông qua người dạy.
Trong thực tế dạy học, hướng tương tác thứ nhất mang tính tự phát và
thường diễn ra ở tầm vĩ mô nên khó kiểm soát, còn hướng tương tác thứ
Trong quá trình diễn ra hoạt động sư phạm các yếu tố của môi trường có
thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến người học và người dạy,
điều đó làm cho người học phải thay đổi và thích nghi với những điều kiện
ấy. Như vậy, môi trường gây ảnh hưởng đến phương pháp học và phương
pháp sư phạm, quan hệ của môi trường đến người học là quan hệ ảnh hưởng
và thích nghi.
Để phối hợp chặt chẽ ba tác nhân với các thao tác và thu hút sự chú ý
vào sự kết hợp này, bộ ba thao tác (học, giúp đỡ và ảnh hưởng) trả lời lại bộ
ba tác nhân (người học, người dạy và môi trường). Mối quan hệ đó được thể
hiện trong bảng sau :
17
Bảng 1. Sự phối hợp bộ ba tác nhân, chức năng và thao tác của PPSPTT
Tác nhân
Chức năng
Thao
tác
Người học
Người dạy
Môi trường
Môi trường
Học
Giúp đỡ
Ảnh hưởng
Phương pháp học
Phương pháp dạy
một yếu tố tĩnh, có sẵn, tồn tại xung quanh và ảnh hưởng đến người dạy,
người học và hoạt động của họ. Điều quan trọng không chỉ ở chỗ xác định, cụ
thể hoá quan hệ qua lại đa dạng, phức tạp giữa môi trường và người học mà
cần chỉ ra được những phương tiện, cách thức để khai thác những tác động
tích cực và hạn chế các tác động không tích cực của môi trường đến người
học và phương pháp học của họ.
- Trong PPSPTT, những gì thuộc về nội dung (kiến thức) thì được tác giả
đồng hoá vào nhân tố môi trường. Trong khi đó, kiến thức đã tồn tại từ trước đến
nay và vận động như một nhân tố thuộc cấu trúc của hoạt động dạy học.
2. Phƣơng pháp dạy học theo dự án
2.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Dự án: Thuật ngữ “ dự án” trong tiếng Anh là “ project” có nghĩa là phác
thảo, dự thảo, thiết kế. Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định,
một kế hoạch trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, điều kiện cơ sở vật
chất, nhân lực và cần thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
Dạy học theo dự án (Project Based – Learing ) là một phương pháp dạy
học tích cực trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập
phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự độc lập kế
hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.
Trong phương pháp DHTDA nhấn mạnh đến việc hướng dẫn HS thực
hiện dự án học tập gắn liền với thực tiễn và gắn liền với nội dung môn học.
Các hoat động của dự án học tập được thiết kế một cách có hệ thống, liên
quan tới nhiều lĩnh vực và kết quả của dự án là những sản phẩm có thể công
bố, giới thiệu được như: sản phẩm thật, bài viết, bài báo cáo
19
DHTDA hướng người học đến việc tiếp thu các kiến thức và hình thành
các kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một vấn đề có tính chất phức hợp.
Các DHTDA cho phép tạo ra cho người học có nhiều cơ hội học tập hơn, đa
dạng hơn về chủ đề và quy mô, có thể được tổ chức rộng rãi ở các cấp học,
- Có tính phức hợp
DHTDA yêu cầu phải huy động và sử dụng phức hợp các kiến thức khác
nhau của nhiều môn học và liên quan đến nhiều lĩnh vực.
- Tạo ra môi trường học tập tương tác
2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án
- DHTDA hướng đến sự phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức như:
phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực
- DHTDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sử
dụng các thiết bị khoa học kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá
trình học tập.
- DHTDA hướng tới các vấn đê của thực tiễn nhằm kết hợp chặt chẽ nội
dung học tập và thực tiễn
- DHTDA hướng đến phát triển các kĩ năng cơ bản như kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng giải quyết vấn đề phức hợp, các vấn đề mâu thuẫn, kĩ năng làm việc
theo nhóm.
2.4 Những tiêu chuẩn của dạy học theo dự án
- Dự án phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, thông qua
các hoạt động của dự án người học tiếp cận và chiếm lĩnh được các tri thức
cốt lõi của nội dung học tập.
- Xuyên suốt dự án phải có các câu hỏi định hướng, là cái sẽ hướng
người học đến việc phát hiện ra các vấn dề, các nội dung cốt lõi của môn học.
Câu hỏi định hướng sẽ giúp dự án tập trung vào những hoạt động dạy học
trung tâm.
Có ba dạng câu hỏi định hướng: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và
câu hỏi nội dung
21
Câu hỏi khái quát( CHKQ): Là những câu hỏi giới thiệu khái quát nhất,
đầy đủ nhất những ý tưởng xuyên suốt bài học. Câu hỏi khái quát thường có
đặc điểm:
- DHTDA phải tăng khả năng tự chủ, khả năng tự đưa ra quyết định,
tăng thời gian tự làm việc và tăng trách nhiệm của mỗi cá nhân.
- DHTDA phải “ thực”, tức là đề tài cần gắn với đời sống thực tế xung
quanh chứ không phải là các tình huống giả định. Học sinh thể hiện việc học
của mình trước những đối tượng thực tế, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh
vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại.
- DHTDA cần có bước nghiệm thu dự án và đòi hỏi các hình thức đánh
giá đa dạng. Khi triển khai dự án luôn luôn kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng
các phương pháp đánh giá khác nhau. Học sinh được xem mẫu và hướng dẫn
trước để thực hiện. Cần tạo cơ hội để rà soát, phản hồi, điều chỉnh trong suốt
quá trình thực hiện
2.5 Các giai đoạn của dạy học theo dự án.
Mỗi DAHT thường gồm ba giai đoạn chính sau:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành dự án
Trong giai đoạn này người học được tích lũy các kiến thực cơ bản của
môn học, người học tìm mối liên hệ với cuộc sống xung quanh và phát hiện ra
các tình huống có vấn đề từ đó hình thành nên ý tưởng của dự án và chuẩn bị
các công việc để thực hiện dự án. Trong giai đoạn này người dạy ngoài nhiệm
vụ truyền đạt các kiến thức cơ bản của môn học còn nhiệm vụ khéo léo đặt
người học vào trong các tình huống có vấn đề để người học dựa trên đó hình
thành các dự án giải quyết những vấn đề đó, sau đó người dạy kiểm tra tính
khả thi của kế hoạch được đề ra bởi người học và đóng góp ý kiến.
- Giai đoạn 2: Thực hiện dự án
Đây là giai đoạn quan trọng khi người học bằng chính những kiến thức
cơ bản của mình có , thu thập thông tin, dữ liệu để thực hiện các nhiệm vụ của
23
dự án. Giai đoạn này người học phải đặt nhiều câu hỏi để giải quyết các
nhiệm vụ của mình. Người học phải học cách làm việc nhóm, học cách tư duy
bậc cao, học cách vượt qua khó khăn Và quan trọng nhất, đây là giai đoạn
phiếu đánh giá cá nhân, sổ theo dõi dự án.
Phiếu đánh giá cá nhân: Phiếu được phát cho học sinh ngay từ lúc bắt
đầu dự án và được thu lại khi dự án kết thúc. Nó cho phép học sinh tự đánh
giá năng lực bản thân. Có thể cho học sinh tự đánh giá trước và sau khi thực
hiện dự án để theo dõi sự thay đổi của bản thân
Sổ theo dõi dự án: Được phát cho học sinh ngay từ đầu. Sổ theo dõi dự
án cho phép giáo viên được quá trình thực hiện dự án của học sinh. Sổ theo
dõi dự án bao gồm:
- Các ý tưởng ban đầu
- Kế hoạch thực hiện dự án.
- Phiếu phân công nhiệm vụ trong nhóm
- Thông tin quan sát, tranh ảnh, bài viết
- Biên bản thảo luận nhóm
- Bảng đánh giá quá trình thực hiện dự án
2.7 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án.
2.7.1 Vai trò của giáo viên
Vai trò của GV trong dạy học dự án khác biệt so với vai trò mà hầu hết
các GV đã quen thuộc. Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả những
kiến thức và truyền tải đến HS; sự giao tiếp, trao đổi thông tin trong lớp học
truyền thống chỉ mang tính một chiều. Với DHTDA giáo viên không còn điều
khiển tư duy cho HS nữa mà vai trò lúc này là người hướng dẫn, người tư
vấn, là bạn học, cho phép người học tự xây dựng kiến thức của họ.
- Khi bắt đầu dự án, các nguồn tài liệu tham khảo ban đầu rất quan trọng
để giúp người học có thêm kiến thức và định hướng các công việc cần làm. Vì
vậy GV cần cung cấp các nguồn tài liệu tham khảo đa dạng cho HS; tư vấn
thêm cho dự án; các phầm mềm tin học
25
- Dành thời gian tích hợp trên lớp để người học thực hiện các công việc:
thảo luận nhóm, viết đề cương dự án, viết- chỉnh sửa- kiểm tra các bản báo