TIỀN GIẢ ĐỊNH NGỮ DỤNG TRONG CA DAO TÌNH YÊU
CỦA NGƯỜI VIỆT
Vũ Thị Tuyết
1
Tóm tắt: Tiền giả định ngữ dụng là căn cứ quan trọng để tìm hiểu các bài ca dao tình yêu.
Đó là những hiểu biết của độc giả về nhiều lĩnh vực của đời sống và của ngôn ngữ. Trong đó,
có tiền giả định ngữ dụng về từ chỉ xuất (xưng hô) và hành vi ngôn ngữ. Bài viết này tập
trung tìm hiểu về tiền giả định về từ xưng hô và hành vi hỏi - đáp trong 1920 bài ca dao tình
yêu.
1. MỞ ĐẦU
Tiền giả định là một trong những phạm trù cơ bản của ngôn ngữ học. Việc nắm được tiền
giả định là một trong những căn cứ cơ bản để hiểu nội dung trong các phát ngôn. Tiền giả
định (kí hiệu là pp’) “là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong
phát ngôn của mình” [1, II, 362]. Ca dao tình yêu là một loại hình văn học dân gian đặc sắc.
Để hiểu ý nghĩa của các bài ca dao, người đọc phải giải mã các lớp ý nghĩa ẩn sâu trong các
đơn vị ngôn ngữ. Bước đầu tiên của quá trình đó chính là việc người đọc nhận thức được tiền
giả định - đó là những hiểu biết được xem là có sẵn của độc giả, bất tất phải bàn cãi. Tiền giả
định khá đa dạng và phong phú có những tri thức tiền giả định mang tính bách khoa (tiền giả
định bách khoa) và có những tri thức mang lại do những dấu hiệu ngôn ngữ, một trong những
dấu hiệu ngôn ngữ đó chính là các dấu hiệu ngữ dụng. Loại tiền giả định đó được gọi là tiền
giả định ngữ dụng. Bài viết sau đây, sẽ vận dụng lí thuyết về tiền giả định ngữ dụng vào
nghiên cứu 1920 bài ca dao tình yêu với hi vọng làm rõ những yếu tố ngữ dụng xuất hiện
trong các bài ca dao với tư cách là những dấu hiệu làm rõ nội dung các đơn vị lời ca.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tiền giả định ngữ dụng là một trong những căn cứ cần thiết mà người đọc cần phải có
khi tìm hiểu các bài ca dao tình yêu. Hệ thống tiền giả định ngữ dụng rất đa dạng, phong phú.
Qua quá trình khảo sát và phân loại những bài ca dao tình yêu chúng tôi đã thu được kết quả
về các loại tiền giả định ngữ dụng của các từ chỉ xuất và tiền giả định hành vi ngôn ngữ như
sau:
được sử dụng nhiều nhất và phổ biến nhất. Anh - em là cách xưng hô có thể sử dụng đa dạng
và linh hoạt trong mọi hoàn cảnh: trong tình yêu đơn phương, tương tư, đau khổ… trong tình
yêu. Cách xưng hô này được các nhân vật trữ tình lựa chọn để làm điểm tựa giãi bày tâm tư,
tình cảm của mình. Cặp anh - em thể hiện sắc thái tình cảm tự nhiên, gần gũi và phổ biến
nhất. Hàng rào ngăn cách đã được khai thông; sự e ấp của cái thuở “Tình trong như đã mặt
ngoài còn e” qua đi để sang một bước ngoặt mới về tình cảm.
Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em.
(4, Quyển 1, tr.1075)
Cách xưng hô này giúp cho người đọc cảm nhận được màu sắc của tình yêu. Đây là cách
xưng hô của những người còn trẻ và đồng trang lứa và có sự gần gũi trong giao tiếp. Đó là
tiền giả định mà người đọc có thể nhận thức qua cách xưng hô này.
Trong tình yêu, những chàng trai - cô gái có thể lựa chọn rất nhiều từ ngữ khác nhau để
xưng hô và mỗi cách xưng hô đó lại tiền giả định những ý nghĩa nhất định. Có một cách xưng
hô mà nhân vật trữ tình sống trong vùng phương ngữ Trung Bộ và Nam Bộ thường sử dụng
là bậu - qua. Bậu - qua là cách xưng hô rất thân thiết, dân giã và đầy tình cảm của người
miền Trung, Nam Bộ. Và người đọc cũng biết được rằng đây là cách xưng hô của những
người đồng trang lứa. “Qua” là đại từ, ngôi thứ nhất, dùng riêng rẽ là từ xưng hô của người
lớn tuổi với người nhỏ tuổi, nghĩa là tôi, ta (cô, chú, bác, anh, chị). Khi dùng chung với “bậu”
nghĩa là anh, là cách xưng hô của chồng với vợ hoặc của người con trai xưng vớicô gái anh
yêu. “Bậu” cũng là đại từ, ngôi thứ hai, nghĩa là người vợ hay người yêu hay người con gái
được mến chuộng. Trong tiếng Việt phương Nam, “bậu” luôn luôn ngôi thứ hai (nữ) với
nghĩa là mình, em yêu, nàng (người con gái ở thời kì tán tỉnh) mang ý nghĩa thân mật. Ngoài
ra trong ca dao đại từ “bậu” dùng để gọi một chàng trai trẻ. “Qua”, “bậu” trở thành những từ
ngữ của tình cảm, của thương yêu, của lứa đôi. Đây là cách xưng hô đầy tình cảm thân mật.
Việc sử dụng đại từ xưng hô này đã tiền giả định những ý nghĩa.
Qua đã hết giọng kèn giọng sáo
Bậu hãy còn ngơ ngáo kìm, tranh
Đành thôi dứt sợi chỉ mành
Bậu ôm cây độc để dành tiêu diêu.
so sánh cung bậc tình cảm giữa những cặp từ xưng hô trên, nhưng chúng ta cũng dễ dàng
nhận thấy sự khác nhau về sắc thái biểu cảm cũng như mối quan hệ tiệm tiến hay tiệm thoái
của hai nhân vật. Có thể nói, những cặp từ xưng hô này đã thể hiện đầy đủ những bước
“thăng - trầm”, “li - hợp” của tình yêu đôi lứa. Theo tôi, cặp “đó - đây” thể hiện tình cảm
giữa hai người còn một khoảng cách nhất định. Nó chỉ mới dừng ở mức đánh tiếng, thăm dò
và phần nào đó còn là tình yêu đơn phương. “Đây” thường là người mở lời dò hỏi hay than
thân trách phận, tiếc nuối duyên nợ không thành:
Căn duyên dù đã lỡ rồi
Lòng đây thương đó biết đời nào nguôi
(4, Quyển 1, tr.399)
Cặp “thiếp - chàng” dù có sắc thái biểu cảm dương tính nhưng có phần khuôn sáo, xa lạ
với tình cảm chân chất, mộc mạc, sôi nổi và tự nhiên của người dân lao động.
Chàng về thiếp cũng xin đưa
Xin trời đừng nắng chớ mưa trơn đường
(4, Quyển 1, tr.453)
Cặp xưng hô “ta (em)-mình” đã vươn tới sự gần gũi, thân quen, nồng thắm và khoảng
cách giữa hai người dường như không còn nữa. Từ “anh” (hoặc “em”) đến “mình” là một
bước tiến dài về tình cảm, một sự thay đổi về chất trong mối quan hệ. Từ cách xưng hô “ta -
mình” dẫn đến lối xưng hô mà khoảng cách giữa hai người đã được xoá nhoà, không còn giới
hạn. Đó là cách nói gộp kiểu như “Đôi ta ” hay “Chúng mình ”:
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quýt con trong con ngoài.
(4, Quyển 1, tr.954)
Khi khảo sát các bài ca dao tình yêu, tôi nhận thấy các nhân vật trữ tình sử dụng rất đa
dạng các đại từ xưng hô. Mỗi cách sử dụng đó lại mang những dụng ý và chứa đựng tình cảm
khác nhau. Cũng có khi những chàng trai, cô gái còn sử dụng những đại từ xưng hô lâm thời
bằng cách mượn từ ngữ định danh của thực thể, động vật hay thực vật để tạo thành những cặp
như: trúc - mai, mận - đào, rồng - mây, hồ - sen, loan - phượng, bướm - hoa, trầu - cau…
Những cách xưng hô này bao giờ tạo ra một cảm giác vô cùng an toàn và cũng thật tế nhị
bài ca dao này, độc giả có thể nhận thấy những dấu hiệu của những cuộc tình có thể được
diễn tiến và phát triển:
Trăng lên hỏi chiếc sáo chầu
Hỏi thăm đào liễu đã ăn trầu ai chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
(4, Quyển 3, tr.2175)
Đây là một bài ca dao được xây dựng theo kết cấu đối đáp, hai nhân vật của cuộc đối
thoại này là chàng trai và cô gái. Họ sử dụng cách xưng hô đầy ý nhị và điều đó làm cho cuộc
giao tiếp thật độc đáo. Có lẽ người trao lời là chàng trai bởi lời ca này ra đời trong xã hội xưa,
ở đó khi giao duyên tỏ bày thì người phát tín hiệu thường là người con trai. Khi lời ca trao đi
thì có lời ca đáp lại. Đây chính là minh chứng cho sự tương hợp của hành vi ngôn ngữ hỏi -
đáp. Sự hồi đáp của cô gái đầy ý tứ và đã cho chàng trai một tín hiệu về sự đồng thuận mở lối
cho chàng trai. Qua đó, chúng ta cũng nhận thấy dấu hiệu của sự diễn tiến trong tình yêu.
Trong khi khảo sát các bài ca dao tình yêu, chúng tôi còn nhận thấy có những bài ca dao
chỉ có lời đáp. Theo nguyên tắc ngữ dụng học thì hành vi trả lời tiền giả định hành vi hỏi thì
chúng ta có thể nhận định rằng trước đó phải có một hành vi hỏi.
Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ cho hành có hoa
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
(4, Quyển 1, tr.251)
Mặc dù số lượng những bài ca dao được xây dựng theo kiểu chỉ có lời đáp không nhiều
song nó cũng giúp người đọc đoán biết được nội dung và ý nghĩa của các bài ca dao. Ví dụ
trên cho chúng ta thấy được đó là lời khước từ của cô gái trước lời tỏ tình hoặc lời cầu hôn
của chàng trai bởi vì có hỏi thì mới có câu trả lời. Cho nên có thể khẳng định rằng các hành vi
ngôn ngữ luôn tiền giả định lẫn nhau đặc biệt hành vi hỏi và hành vi trả lời. Đó cũng là một
trong những căn cứ để độc giả tiếp cận và tìm hiểu các bài ca dao tình yêu.