Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo - Pdf 30

KỸ THUẬT NUÔI CẤY NGỌC TRAI NHÂN TẠO

Ngọc Trai là vật trang sức được ưu chuộng từ lâu. Thời xa xưa con người đã biết thu hoạch ngọc
Trai ở biển và cho tới nay dù trãi qua nhiều thế kỷ Trai ngọc vẫn là nguồn lợi vô cùng to lớn. Do việc
khai thác đơn thuần dựa vào tự nhiên đã không thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà có nơi còn làm cho
nguồn lợi ngày càng cạn kiệt, nên việc nuôi cấy ngọc Trai nhân tạo đã được áp dụng ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Mặc dù ở nước ta có nhiều loài Trai có khả năng tạo ngọc như: Trai cánh
(Sinohyriopsis), Trai không răng (Anodonta), Trai ngọc (Pinctada)... nhưng sản lượng ngọc trai còn
quá thấp. Để tăng sản lượng chúng ta không thể dựa vào khai thác mà phải chủ động nuôi Trai để
sản xuất ngọc nhân tạo.
Lịch sử nuôi Trai lấy ngọc đã có từ lâu đời và phát triển qua ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: trước 1853 là giai đoạn khai thác ngọc tự nhiên. Giai đoạn này người ta bắt Trai
tự nhiên về thả nuôi ở một nơi nhất định sau 3-4 năm thì khai thác lấy ngọc. Con người chỉ có
vai trò giữ giống còn quá trình hình thành ngọc là tự nhiên, cong người hoàn toàn không có
tác động gì đến quá trình tạo ngọc của Trai.
Giai đoạn 2: từ 1853-1925 là giai đoạn sản xuất ngọc bán cầu. Giai đoạn này người ta cấy một
dị vật vào giữa vỏ và màng áo Trai và nuôi trong các lồng. Sau một thời gian Trai sẽ tiết ra xà
cừ bao lầy dị vật tạo nên ngọc hình bán cầu. Phương pháp này do Kokichi Mikimoto đề xuất.
Giai đoạn 3: Từ 1925 đến nay là giai đoạn sản xuất ngọc tròn nhờ cải tiến kỹ thuật của Tokisi
Nisicavo.
Ngọc tự nhiên và ngọc nhân tạo chỉ khác nhau tác nhân tạo ra ngọc mà không khác nhau về chất
lượng nên giá trị sử dụng là như nhau.
I. CÁC GIẢ THUYẾT TẠO NGỌC.
1. Thuyết nội nhân.
Theo thuyết này, nguyên nhân tạo ngọc là do yếu tố bên trong gây ra. Khi màng áo bị mắc bệnh,
một phần tế bào biểu bì của màng áo bị bong ra và chìm dần vào mô liên kết. Các tế bào này tiết ra
ngọc tạo thành túi ngọc.
2. Thuyết ngoại nhân.
Thuyết ngoại nhân cho rằng nguyên nhân tạo túi ngọc là do bên ngoài gây ra một cách ngẫu nhiên.
Khi có một dị vật (cát, ký sinh trùng) từ bên ngoài xâm nhập vào khoảng giữa màng áo và vỏ rồi
chìm dần vào mô liên kết cùng một phần tế bào biểu bì của màng áo. Các tế bào này tiết ra ngọc

ngọc không cố định vào vỏ. Dựa vào vị trí và sắc thái có thể chia làm 4 loại:
Ngọc túi: hình thành ở mép màng áo, kích thước to, chất lượng tốt nhất.
Ngọc tai: hình thành ở tai vỏ phía dưới bản lề nên còn gọi là ngọc nề. Loại này có thể hình
thành 2-3 viên cùng một nơi, chất lượng không tốt lắm.
Ngọc thịt: hình thành trong các sợi cơ, có thể có hàng chục đến hàng trăm viên cùng một chổ,
kích thước nhỏ, chất lượng không tốt nên chỉ dùng làm thuốc.
Ngọc bụng: hình thành gần nội tạng, chất lượng không tốt.
5.2. Ngọc bán cầu: Loại ngọc này dính vào mặt trong của vỏ nên còn gọi là ngọc dính, hình dạng
bán cầu, chất lượng tương đối tốt
II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC TRAI NGỌC
Trai ngọc Pinctada martensii (Dunker): trai phân bố ở Nhật bản, Nam Ấn Độ, Quảng Đông (TQ). Ở
Việt Nam Trai phân bố ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng
Nam-Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc. Trai sống ở vùng dưới triều độ sâu khoảng
15-20m nơi có nồng độ muối khoảng 25-30%o, chất đáy là cát, sỏi pha vỏ động vật thân mềm vá ít
sóng gió. Mùa vụ sinh sản từ tháng 4-10. Thức ăn chủ yếu của Trai là thực vật phù du. Trai có tầng
xà cừ ở giữa vỏ dày, nhẵn bóng, mép màu vàng nhạt. Là loài dùng để sản xuất ngọc nhân tạo.
Trai ngọc môi vàng Pinctada maxima: người Trung Quốc gọi là đại trân châu. Loài này phân bố ở
Tây Bắc Úc, Indonesia, Philippines, Vịnh Thái Lan, Ấn Độ, Đài Loan. Ở nước ta Trai môi vàng có ở
đảo Bạch Long vĩ, Phú Quí, Phú Quốc. Chúng sống ở độ sâu 25-35m, nơi có đáy sỏi, cát. Mặc
ngoài vỏ của Trai có màu nâu, mặt trong có màu ánh bạc, xung quanh mép vỏ có màu ánh vàng.
Chúng là đối tượng để sản xuất ra loại ngọc quí. Hiện nay có một số cơ sở nuôi cấy ngọc ở Vũng
Rô (Phú Yên).
Trai ngọc môi đen Pinctada margaritifera: phân bố ở Đông Thái bình Dương, Panama, Mexico, Xu
đăng, Tahiti. Ở nước ta có ở Thanh Hóa, Sông Cầu (Phú Yên, Phan Thiết (Bình Thuận), Nha Trang
và Cam Ranh (Khánh Hòa). Trai sống ở độ sâu khoảng 50-60m, nơi có nồng độ muối 30%o.
Khi tuyến sinh dục của Trai thành thục chúng phóngsản phẩm sinh dục (trứng và tinh trùng) vào
môi trường nước. Trứng thụ tinh sẽ phát triển qua các giai đoạn ấu trùng phù du (tương tự như ở
Hầu). Khoảng 25 ngày sau ấu trùng biến thái chuyển sang giai đoạn sống bám. Ấu trùng bám
thường tiết ra 3-4 rễ tô chân để bám vào giá thể. Trai 1 tuổi bắt đầu sinh sản, thời gian sinh sản từ
tháng 4-10.

Trai dùng để cấy ngọc gồm hai loại, Trai kỹ thuật và Trai nguyên liệu. Trai kỹ thuật là Trai dùng để
cấy nhân vào còn Trai nguyên liệu là Trai dùng để lấy mảnh màng áo. Tỉ lệ của hai loại này là
2:1-5:1. Trai nguyên liệu là loại khoảng 1-2 tuổi, Trai càng to càng tốt nhưng không nên vượt quá
5-6 tuổi. Việc chọn Trai nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian tạo ngọc và chất lượng sản
phẩm sau này.
Lớp xà cừ của vỏ trai do toàn bộ biểu bì mặt ngoài màng áo (mặt tiếp xúc với vỏ) tiết ra, nhưng chất
lượng tùy theo vị trí của màng áo mà quá trình hình xà cừ nhanh hay chậm và chất lượng của lớp
xà cừ cũng khác nhau. Theo kết quả thí nghiệm bằng đồng vị phóng xạ Ca
45
thì mép màng áo là
nơi hấp thu nhiều Ca
45
nhất (trao đổi chất mạnh nhất). Vì vậy, hiện nay trong kỹ thuật cấy ngọc đều
dùng lớp tế bào ở mép màng áo để cấy. Tuy nhiên, trên mép màng áo ở từng vị trí khác nhau cũng
cho chất lượng xà cừ khác nhau. Một thí nghiệm khác cũng cho thấy mép màng áo ở phần bụng có
khả năng phục hồi nhanh nhất và cho chất lượng ngọc tốt nhất.
Dùng dao mổ luồn vào cát đứt cơ khép vỏ, chú ý không nên để dao đụng vào màng áo nếu không
KỸ THUẬT NUÔI CẤY NGỌC TRAI NHÂN />4 of 7 4/8/2012 11:51 PM
màng áo sẽ co lại. Lật vỏ ra cắt lấy phần bụng của màng áo, tẩy sạch chất nhầy rồi đặt lên giá tế
bào. Khi đặt màng áo lên giá tế bào, lật mặt tiếp xúc với vỏ quay lên trên sẽ thấy có một đường
vàng nâu cách mép màng áo khoảng 3-4mm chạy song song với mép vỏ. Dùng kéo cắt theo đường
đó và loại bỏ phần mép rồi cắt màng áo thành từng miếng khoảng 2-3mm
2
. Khi cắt màng áo cần
chú ý đến những điểm sau:
Phần mép ngoài màng áo là các tế bào tiết ra chất sừng chứ không tiết ra ngọc cho nên cần
loại bỏ phần này.
Khi cắt màng áo xong thì phải tiến hành cấy ngay.
Trai dùng để lấy màng áo phải khỏe, không bị tổ thương hay dị tật.
Dụng cụ phải sạch sẽ.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status