1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Mọi đơn vị hoạt động vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận đều quan tâm đến
hiệu quả thể hiện ở kết quả đầu ra là lớn nhất và chi phí đầu vào là thấp nhất. Để
đạt được mục đích đó thì các nhà quản lý phải đặc biệt quan tâm đến “quản lý
kinh tế tài chính”. Trên thực tế, có rất nhiều công cụ khác nhau để quản lý tài
chính như: Hệ thống định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật, các chính sách tài chính,
quy chế, quy định của đơn vị, hệ thống thông tin kế toán Trong các công cụ
trên thì thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong hệ
thống thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản lý các cấp. Mọi hoạt động
kinh tế tài chính cần được phản ánh bằng các thông tin của kế toán thông qua
việc thu thập, phân loại, tính toán, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh để cung cấp thông tin kinh tế tài chính của một đơn vị cho các đối tượng sử
dụng. Đối với cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), kế toán
là phương tiện phản ánh thường xuyên, kịp thời, đầy đủ về tình hình tài sản và
kết quả các hoạt động của đơn vị. Đối với Nhà nước kế toán là công cụ kiểm tra,
kiểm soát quá trình lập và chấp hành dự toán thu chi. Như vậy, kế toán với hai
chức năng là thông tin và kiểm tra, kiểm soát đã khẳng định được vị trí và vai
trò quan trọng của mình trong hoạt động quản lý. Tuy nhiên vai trò quan trọng
của kế toán chỉ phát huy tác dụng khi công tác kế toán được tổ chức khoa học,
hợp lý. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - tài
chính nên công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng của
công tác quản lý ở một tổ chức. Thêm vào đó, nó còn ảnh hưởng đến việc đáp
ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của các đối tượng có quyền lợi trực tiếp hoặc
gián tiếp liên quan đến hoạt động của tổ chức, trong đó có cơ quan chức năng
của Nhà nước.
Hiện nay Việt Nam đã có chế độ kế toán (CĐKT) áp dụng cho lĩnh vực
công và các quy định cụ thể về kế toán áp dụng cho các đơn vị HCSN. Trên thực
nhiều đổi mới và góp những thành tựu quan trọng trong tất cả những lĩnh vực
kinh tế quốc dân, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và công cuộc đổi mới, xây dựng
đất nước. Nhìn chung, kết quả triển khai Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH - CN đã
có tác động tích cực và hiệu quả trong việc thúc đẩy hoạt động KH và CN, đóng
góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm
qua. Hệ thống pháp luật về KH - CN cơ bản được hoàn thiện, tạo môi trường
thuận lợi và đồng bộ cho hoạt động sáng tạo đổi mới; năng lực nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ được nâng cao và có bước tiến đáng kể; bộ máy
quản lý KH-CN được kiện toàn; cơ chế tài chính và cơ chế quản lý nhiệm vụ
KH-CN trọng điểm từng bước được cải thiện; đã triển khai mạnh mẽ việc thực
hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH và CN công lập.
Trước tình hình đó vấn đề đặt ra là các cơ chế chính sách quản lý kinh tế đi cùng
3
áp dụng cho các ĐVSNKH-CNCL đã phù hợp hay chưa. Một trong những
nguồn thông tin quan trọng để các nhà quản lý làm căn cứ bổ sung, điều chỉnh
chính sách, không ngừng đổi mới tạo ra sự bình đẳng nhằm thúc đẩy hoạt động
nghiên cứu thu hút nhân tài là lấy từ thông tin kế toán. Kế toán là công cụ quan
trọng để quản lý vốn, tài sản và phản ánh đầy đủ hoạt động thu chi, hoạt động dịch
vụ của các ĐVSNKH-CNCL.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp khoa học -
công nghệ công lập thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ” làm đề tài nghiên cứu
cho luận án Tiến sĩ kinh tế của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của Luận án
- Về lý luận:
+ Nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác
kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế.
+ Xây dựng những quan điểm, định hướng đổi mới hệ thống tổ chức kế
đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ công lập thuộc Bộ KH và CN, tuyên truyền
rộng rãi cho các đơn vị có sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ.
Đồng thời qua đó cũng là một bước làm cho cán bộ quản lý tài chính của
ngành KH và CN, có điều kiện đi sâu, đi sát cơ sở nắm bắt được tình hình thực
tiễn trong công tác quản lý tài chính, từ đó tham mưu những cơ chế, chính sách
mới cho ngành KH và CN.
Kết quả của nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa trong công
tác quản lý tài chính, quản lý khoa học công nghệ của các ĐVSNKH-CNCL thuộc
Bộ KH và CN.
Những nghiên cứu của luận án còn là cơ sở, tiền đề cho các hoạt động
nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý tài chính đối với việc sử dụng
kinh phí của ngành KH và CN.
Cuối cùng kết quả nghiên cứu của luận án là căn cứ khoa học và thực tiễn
để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán và phương pháp
kế toán trong các ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để có được các đánh giá thực tiễn tác giả tập trung khảo sát tại các đơn vị
sự nghiệp công có thực hiện hoạt động về khoa học công nghệ theo quy mô mẫu
gồm 31 đơn vị. Với quy mô mẫu khảo sát như trên tác giả thu thập thông tin về
thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị khảo sát chủ yếu trên cơ sở 3
phương pháp chính là: Phát triển điều tra, thực hiện phỏng vấn sâu nhân viên kế
toán, phụ trách kế toán và tham gia tìm hiểu thực tế công tác kế toán tại đơn vị
mà qua phỏng vấn sâu tác giả thấy là điển hình.
5
Số liệu sơ cấp thu được từ điều tra thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu
do tác giả thực hiện. Số liệu thứ cấp chủ yếu từ các báo cáo của Vụ tài chính;
các BCTC các ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN và từ các kết quả nghiên
cứu đã được công bố của Tác giả trong nước và nước ngoài.
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
6
Gần đây, trên thế giới có công trình nghiên cứu của các chuyên gia về kế
toán lĩnh vực công như: GS.TS. Jess W.Hughes - Trường đại học Old Dominition,
Paul sutcliffe - Chuyên gia tư vấn cao cấp thuộc liên đoàn kế toán quốc tế,
Gillian Fawcett – Giám đốc lĩnh vực công ACCA toàn cầu, Reza Ali – Giám
đốc phát triển kinh doanh ACCA khu vực Asean và Úc trong các công trình
nghiên cứu về thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế, tình hình xây
dựng và áp dụng trong các quốc gia phát triển và đang phát triển trên thế giới
như Anh, Ấn Độ, Úc, Mỹ dựa trên 2 cơ sở kế toán là cơ sở kế toán dồn tích và
cơ sở kế toán tiền mặt được giới thiệu trong hội thảo về thực trạng áp dụng
chuẩn mực kế toán công quốc tế của các nước trên thế giới do ngân hàng thế
giới phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức tại Việt Nam từ ngày 17/4/2007 đến
24/4/2007. Các công trình nghiên cứu này có điểm chung là nghiên cứu các mô
hình áp dụng và xây dựng chuẩn mực kế toán lĩnh vực công, trên cơ sở đó đã
làm rõ nội dung tổ chức công tác kế toán từ khâu chứng từ cho đến lập các
BCTC trên cơ sở dồn tích và cơ sở kế toán tiền mặt cũng như tác dụng của mô
hình này trong việc công khai và minh bạch hệ thống tài chính của Chính phủ,
đặc biệt các nghiên cứu này cũng chỉ ra các ích lợi từ việc vận dụng chuẩn mực
kế toán công quốc tế và cơ sở kế toán dồn tích. Hoặc công trình nghiên cứu của
ba tác giả Bernardino Benito, Vicente Montesinos, Francisco Bastida về tài
chính tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại Tây Ban Nha đăng trên
Critical Perspectives on Accounting 19 (2008) trang 963 – 986, nghiên cứu đề
cập đến nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến tài chính khu vực công và nhấn mạnh đến
những đóng góp của nhân tố này cũng như khoản thanh toán của Chính phủ nói
chung đối với bên thứ ba. Về cơ bản sợi dây liên hệ giữa tổ chức hạch toán kế
toán và hiệu quả quản lý tài chính chỉ được các tác giả tập trung vào việc nghiên
cứu sự ảnh hưởng của thông tin kế toán đến tính minh bạch trong chi tiêu ngân
sách của Chính phủ nói chung.
Trong bài báo “Accruals accounting in the public sector: A road not always taken”
(tạm dịch là “Kế toán dồn tích trong khu vực công: Không phải luôn được sử dụng”), các
đề “The ruluctance of a developed country to choose International Puplic Sector
Accounting Standards of the IFAC. A critical case study” (tạm dịch là: Sự thờ ơ
của các nước phát triển trong việc lựa chọn áp dụng tiêu chuẩn kế toán công
quốc tế của Liên đoàn kế toán Quốc tế - Nghiên cứu trường hợp điều chỉnh).
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân một nước phát triển
điển hình như Phần Lan từ chối áp dụng tiêu chuẩn kế toán công quốc tế trong
hoạt động tổ chức công tác kế toán của mình. Bài viết cũng đề cập đến tình hình
áp dụng tiêu chuẩn kế toán công quốc tế trong hoạt động tổ chức công tác kế
toán ở các nước Châu Âu và đặc biệt ở khu vực Bắc Âu. Qua nghiên cứu này,
vấn đề được đặt ra đối với công tác tổ chức kế toán công là ứng dụng một cách
linh hoạt, hợp lý các tiêu chuẩn kế toán công quốc tế đối với từng quốc gia.
8
Nghiên cứu về kế toán công của bốn tác giả Ehsan Rayegan, Mehdi
Parveizi, Kamran Nazari và Mostafa Emami với tiêu đề: “Kế toán công: Đánh
giá về lý thuyết, mục tiêu và các tiêu chuẩn” (“Government accounting: An
Assessment of Theory, Purposes and Standards”) đã đưa ra sự tổng hợp các vấn
đề trong thực hiện kế toán của các đơn vị công lập, trong đó bao gồm công tác tổ
chức kế toán dựa trên hai nguyên tắc là kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích. Bài
viết cũng đề cập đến vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với công tác kế
toán; chương trình đổi mới công tác quản lý tài chính công và các vấn đề liên
quan đến NSNN. Đề xuất một số nguyên tắc kế toán mở rộng để thúc đẩy trách
nhiệm trong việc giải trình thực hiện công tác kế toán liên quan đến nghĩa vụ
kinh tế và chính trị cũng được đưa ra trong nghiên cứu này.
Trên đây, luận án đã trình bày một số nghiên cứu của các tác giả nước
ngoài liên quan đến tổ chức công tác kế toán công. Các nghiên cứu này rất đa
dạng, phong phú. Những vấn đề nghiên cứu thường xoay quanh hiệu quả thực
hiện các nguyên tắc kế toán, việc áp dụng CMKT trong thực hiện công tác kế
toán hay nêu ra khung lý thuyết trong tổ chức công tác kế toán, Tuy nhiên hầu
hết các nghiên cứu này được thực hiện ở những nước có nền kinh tế phát triển
trình ban hành kèm theo Quyết định số 3915/QĐ - BTC ngày 18 tháng 12 năm
2007 của Bộ Tài chính thì từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2013 Việt Nam sẽ ban
hành và công bố hết các CMKT áp dụng cho lĩnh vực công. Tuy nhiên vì nhiều
lý do khác nhau, Bộ Tài chính vẫn chưa triển khai được. Hiện tại Hội đồng
Chuẩn mực Kế toán công quốc tế đã ban hành 26 chuẩn mực và 1 dự thảo, đã có
48 quốc gia và 7 tổ chức trên thế giới đã và đang áp dụng Chuẩn mực kế toán
công quốc tế. Do đó khi nghiên cứu về kế toán HCSN trên cơ sở vận dụng các
chuẩn mực kế toán quốc tế thì lý luận về kế toán HCSN sẽ thay đổi khá nhiều.
Một vài công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán ở các ĐVSN
của các tác giả nghiên cứu trong nước như Luận án tiến sĩ Nguyễn Thị Minh
Hường (2004) với tiêu đề “Tổ chức kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ
Giáo dục và Đào tạo”; Luận án tiến sĩ Lê Kim Ngọc (2009) với tiêu đề “Tổ chức
hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế với việc tăng cường quản lý tài chính
ngành y tế Việt Nam”; Luận án tiến sĩ Phan Thị Thu Mai (2012) với tiêu đề
“Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường quản lý tài chính trong
các đơn vị hành chính sự nghiệp ngành Lao động thương binh xã hội” và nhiều
luận án kinh tế khác nghiên cứu về tổ chức hạch toán trong các đơn vị hành
chính sự nghiệp thuộc các ngành như: Thống kê, bưu chính viễn thông, đo đạc
và bản đồ Các luận án này hầu hết tập trung vào việc thống kê lý thuyết về tổ
chức công tác kế toán (hay tổ chức hạch toán kế toán), nghiên cứu thực trạng tổ
chức công tác kế toán và đưa ra giải pháp đối với việc tổ chức công tác kế toán.
Mỗi luận án nghiên cứu về một loại ĐVSN riêng biệt với các đặc thù khác nhau
trong các lĩnh vực. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong
nước về tổ chức công tác kế toán ở ĐVSN rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên,
trong hoạt động khoa học công nghệ, chưa có công trình nào nghiên cứu về lĩnh
10
vực này. Do đó, các công trình nghiên cứu trước được coi là cơ sở tác giả có thể
kế thừa, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các
ĐVSNCL trong lĩnh vực hoạt động khoa học công nghệ.
ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN nói riêng là yêu cầu cấp thiết trong quá
11
trình chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính. Đặc biệt đối với ngành nghiên cứu
khoa học và công nghệ thuộc Bộ KH và CN, những phương hướng và giải pháp
hoàn thiện phải phù hợp với các định hướng phát triển hệ thống quản lý tài chính
khoa học công nghệ của Việt Nam và yêu cầu đồng thời đạt đươc hai mục tiêu
lớn là đảm bảo công bằng và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu
khoa học. Xuất phát từ quá trình tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, Luận án sẽ tập
trung nghiên cứu các vấn đề chính như sau:
- Phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác
kế toán trong các ĐVSNCL như: Khái niệm, đặc điểm phân loại ĐVSNCL, khái
niệm, đặc điểm, yêu cầu, nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán tại các
ĐVSNCL cũng như những nội dung của tổ chức công tác kế toán tại các
ĐVSNCL: Tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức kế toán tài chính, tổ chức kế toán
quản trị, kiểm tra kế toán, ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán. Ngoài ra,
luận án phân tích các nhân tố chi phối đến tổ chức công tác kế toán tại các
ĐVSNCL như đặc điểm của ĐVSNCL, công tác quản lý tài chính cơ sở kế toán
của ĐVSNCL, ;
- Phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả và tồn tại về tổ chức công
tác kế toán tại các ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN trong đó Luận án đặc
biệt đi sâu trình bày thực trạng tổ chức công tác kế toán tài chính, tổ chức công
tác kế toán quản trị một số ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN;
- Đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ để hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán tại các ĐVSNKH-CNCL thuộc Bộ KH và CN có tính khả thi như:
Một là: Hoàn thiện tổ chức kế toán tài chính bằng cách tô
̉
chư
́
c hệ thống
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1.1. Khái niệm
Để cung cấp các dịch vụ công, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp
ra quyết định thành lập cho phép thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công,
các đơn vị này gọi là đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Trong quá trình
hoạt động, ĐVSNCL được phép thu một số khoản phí, lệ phí theo quy định của
Nhà nước để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động được gọi là tự trang
trải một phần hoặc trang trải toàn bộ kinh phí hoạt động. ĐVSNCL tạo ra là
những giá trị về giáo dục, đào tạo, tri thức, khoa học công nghệ, sức khỏe, văn
hóa, đạo đức, …. Đây là những sản phẩm vô hình có thể dùng chung cho nhiều
người, nhiều đối tượng với phạm vi cung cấp rộng; có giá trị, giá trị sử dụng
đồng thời có giá trị xã hội cao và có thể trở thành hàng hóa cung cấp cho mọi
thành phần, mọi cộng đồng trong xã hội.
Trên phương diện khác nhau có một số khái niệm khác nhau về ĐVSNCL
tùy theo các cách tiếp cận khác nhau:
Dựa trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của ĐVSNCL trong việc cung cấp
các dịch vụ công, Giáo trình “Quản lý tài chính công” của Học viện Tài chính
đưa ra khái niệm: “ĐVSNCL là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động
thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự
hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân” [tr282].
- Khi tiếp cận tới nguồn của kinh phí thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao,
giáo trình “Kế toán công trong đơn vị hành chính - sự nghiệp” của Trường Đại
học Kinh tế quốc dân quan niệm: “ĐVSNCL là đơn vị được Nhà nước cấp kinh
phí toàn bộ hoặc đơn vị tự đảm bảo một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động
thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí [tr14].
Tiếp cận theo chức năng, nhiệm vụ và khả năng thu của đơn vị thực hiện
cầu của Nhà nước và theo yêu cầu của xã hội.
Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động của ĐVSNCL do NSNN cấp hoặc
có nguồn gốc từ ngân sách hoặc được Nhà nước cho thu một số loại phí, thu sự
nghiệp theo quỹ dịch vụ theo quy định của pháp luật. Các hoạt động này có giá
trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra
không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng
hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
1.1.1.2. Đặc điểm
a) Đặc điểm hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập
Một, ĐVSNCL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm
được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh
15
tế,…), công cụ quản lý cũng khác nhau (pháp luật, thanh tra, kiểm tra, đánh
giá,…). Mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm riêng, cách thức tác động riêng.
Đối với nhiệm vụ mà Nhà nước giao hoặc đặt hàng, ĐVSNCL được quyền chủ
động quyết định các biện pháp thực hiện song thực hiện các hoạt động mang
tính tuân thủ. Do đó, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền với quyền lực của Nhà
nước. Quản lý hoạt động sự nghiệp phải đặc biệt chú trọng đến các phương pháp,
công cụ mang tính quyền lực, mệnh lệnh nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất,
đó là các phương pháp tổ chức, hành chính, các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra.
Hai, mục đích hoạt động của các ĐVSNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu
phục vụ lợi ích cộng đồng.
Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập
tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội.
Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi
nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ
cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị
trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại
thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị
hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình chăm sóc sức khỏe cộng
đồng, Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, Chương trình xóa mù chữ, . . .
Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của
mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực
hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc
tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế -
xã hội.
Sáu, tùy theo tính chất, đặc điểm hoạt động, ĐVSNCL có thể tổ chức hoạt
động dịch vụ nhằm hỗ trợ hoạt động sự nghiệp hoặc thực hiện các mục tiêu với
mục đích tích lũy, phát triển, tăng thu để hỗ trợ kinh phí của đơn vị, gián tiếp
cân đối cán cân NSNN theo mô hình tách biệt hay kết hợp với hoạt động sự
nghiệp; được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quyết định tổ chức, thực hiện
hoạt động. Quyền và nghĩa vụ của bộ phận hoạt động dịch vụ được mở rộng như
một doanh nghiệp công song có nhiều ưu đãi hơn.
Đối với đơn vị tổ chức theo mô hình kết hợp, công tác kế toán được thực
hiện theo hình thức kết hợp. Bộ phận hoạt động dịch vụ trong đơn vị là một chủ
thể kinh tế nhưng không phải là một chủ thể pháp lý, không có tư cách pháp
nhân, không thuộc đối tượng được cấp đăng ký kinh doanh.
Đối với đơn vị tổ chức theo mô hình tách biệt, đồng thời tổ chức công tác
kế toán cũng được thực hiện theo hình thức tách biệt, bộ phận hoạt động dịch vụ
trong đơn vị là một chủ thể kinh tế đồng thời là một chủ thể pháp lý, có tư cách
pháp nhân. Bộ phận hoạt động dịch vụ vừa là đơn vị dự toán vừa là đơn vị kinh
doanh dịch vụ.
17
b) Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và biên chế trong đơn vị sự nghiệp
công lập
(1) Hình thức tổ chức bộ máy quản lý trong ĐVSNCL
Hình thức tổ chức bộ máy quản lý sẽ chi phối đến quá trình tổ chức thu
tham gia giải quyết các vấn đề chuyên môn, nên bảo đảm tính thành thạo, hiệu
18
quả. Họ không trực tiếp ra mệnh lệnh quản trị nên vẫn thực hiện tốt chế độ một
thủ trưởng.
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động theo kiểu hỗn hợp áp dụng có hiệu quả
nhất là các đơn vị có quy mô lớn, tính chất hoạt động phức tạp, không ổn định.
Do đó thường ít được ĐVSNCL.
(2) Quản lý biên chế trong ĐVSNCL
Mỗi cơ chế hoạt động khác nhau, quản lý lao động sẽ khác nhau và chi
phối đến tổ chức bộ máy quản lý của đơn vị. Cơ chế tự chủ đã tạo hành lang
pháp lý cho các đơn vị có quyền chủ động về biên chế, quản lý và sử dụng lao
động khi thực hiện tổ chức bộ máy quản lý chung và bộ máy kế toán. Tuỳ theo
mức độ tự chủ về chi phí hoạt động, đối với những công việc cần bố trí lao động
thường xuyên, ĐVSNCL được quyền quyết định số lượng biên chế, hình thức
tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động ở các mức độ khác nhau. Những đơn vị
tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động sẽ được quyền quyết định hoàn toàn về
biên chế lao động của đơn vị mình; những đơn vị khác sẽ do cơ quan chủ quản
trực tiếp quyết định trên cơ sở định mức biên chế được giao và kế hoạch biên
chế đơn vị xây dựng. Đối với những công việc không cần bố trí lao động thường
xuyên, đơn vị được quyền quyết định ký hợp đồng hợp tác, thuê, khoán với cá
nhân, tổ chức trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị.
1.1.2. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Để nhận dạng các ĐVSNCL nhằm tổ chức, quản lý có hiệu quả hoạt động
của các đơn vị sự nghiệp công lập, cần có sự phân loại các ĐVSNCL.
Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà
nước và các tiêu chí khác nhau mà có thể phân loại các đơn vị sự nghiệp công
lập theo các cách khác nhau.
Theo phương thức thu tiền của người sử dụng dịch vụ thì đơn vị sự nghiệp
công lập bao gồm:
giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các trường mầm non,
tiểu học, trung học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trường trung
học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học, học viện, …
- ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; gồm: Các
đơn vị thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Viện năng lượng nguyên
tử Việt Nam, Viện ứng dụng công nghệ, Cục sở hữu trí tuệ, Trung tâm nghiên
cứu phát triển vùng, Cục an toàn bức xạ hạt nhân, Tạp chí khoa học và công nghệ,
Tạp chí tiêu dùng, Trung tâm tin học, Trường nghiệp vụ quản lý KH và CN, Cục
khoa học sở hữu trí tuệ, Viện chiến lược và chính sách KH và CN, Quỹ phát triển
KH và CN,
- ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật gồm:
Các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, trung tâm tin học, trển
lãm, thư viện công cộng, đài phát thanh, truyền hình,…
- ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao gồm: Trung tâm
huấn luyện thể dục, thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao,…
20
- ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế gồm: Các cơ sở khám chữa bệnh
như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành và địa
phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y
dược, các cơ sở điều dưỡng phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo
dục sức khỏe,… Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính
phủ thì các đơn vị SNCL trong lĩnh vực y tế chia thành 4 nhóm: Nhóm 1: Đơn vị
có nguồn thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí
ĐTPT; Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt
động thường xuyên; Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo một phần
kinh phí thường xuyên; Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc
không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ
được giao do NSNN bảo đảm toàn bộ.
1.2. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ
thức kế toán thích hợp trong một đơn vị cụ thể, để phát huy cao nhất tác dụng
của kế toán trong công tác quản lý đơn vị [tr15].
Theo giáo trình “Kế toán công trong đơn vị Hành chính- Sự nghiệp" của
Học viện Tài chính thì là việc tạo ra một mối liên hệ qua lại theo một trật tự xác
định giữa các yếu tố chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân đối
kế toán trong từng nội dung công việc kế toán cụ thể nhằm thu thập thông tin
chính xác, kịp thời [tr15].
Đề cao vai trò của hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, phương
pháp tính giá và báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, có quan điểm cho
rằng tổ chức công tác kế toán thực chất là tổ chức vận dụng hệ thống này tuy
nhiên nếu chỉ vận dụng nhưng không tính đến các vấn đề khác thì hiệu quả của
tổ chức công tác kế toán sẽ không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng
thông tin kế toán cung cấp có tính hệ thống.
Nhằm kết hợp việc vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán,
phương pháp tính giá và báo cáo tài chính, thông qua việc phân công, phân
nhiệm cho các lao động kế toán thực hiện theo từng phần hành kế toán cụ thể, có
quan điểm khác cho rằng tổ chức công tác kế toán cần giải quyết hai vấn đề: Tổ
chức bộ máy kế toán phù hợp với cơ sở vật chất và tính chất hoạt động của đơn
vị và tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, phương pháp tính giá,
báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị.
Trên cơ sở các quan điểm trên đặc biệt chú trọng nhằm nâng cao nhận
thức về trách nhiệm của lao động kế toán. Tác giả cho rằng: Tổ chức công tác kế
toán là việc gắn kết giữa các công việc kế toán, giữa bộ phận người làm kế toán
trong một đơn vị, nhằm thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán
tài chính ở đơn vị một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả cao nhất.
Như vậy, tổ chức công tác kế toán được hiểu là sự gắn kết giữa các công
việc kế toán bao gồm: Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, hệ
thống sổ kế toán, các phương pháp kế toán, hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo kế
toán quản trị theo từng phần hành kế toán cụ thể với tổ chức lực lượng làm kế toán.
Tổ chức công tác kế toán là sự gắn kết với các đơn vị với bộ phận người
phí, kiêm tra tình hình thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ được giao.
Một trong các căn cứ lập dự toán là kết quả thực hiện dự toán ngân sách,
kết quả thu sự nghiệp và chi hoạt động thường xuyên của một số năm trước
được cấp có thẩm quyền phê duyệt do kể toán cung cấp. Tổ chức công tác kế
toán nhằm cung cấp thông tin cho việc lập dự toán ngân sách của đơn vị, là căn
cứ để cơ quan quản lý cấp phát kinh phí.
Thứ hai: Tổ chức phương tiện thực hiện giám sát, công khai tài chính
23
Tổ chức công tác kế toán nhằm phản ánh đầy đủ, trung thực, kịp thời các
hoạt động tài chính phát sinh; cung cấp thông tin cho việc kiểm tra, kiểm soát
tình hình thực hiện, sử dụng các khoản kinh phí theo đúng qui định, đúng dự
toán đã được phê duyệt, thanh quyết toán việc sử dụng nguồn kinh phí và các
khoản thu; góp phần kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vật tư, tài sản, nguồn
kinh phí của đơn vị- Thông qua các qui định của pháp luật về kế toán bắt buộc
các ĐVSNCL phải thực hiện lập BCTC, kiểm toán nội bộ, công khai tài chính
đơn vị; bảo đảm tài chính đơn vị luôn lành mạnh là biện pháp đấu tranh chống
mọi tiêu cực xảy ra trong nội bộ đơn vị.
Thứ ba: Tổ chức thực hiện phục vụ quyết toán thu, chi NSNN
Quyết toán là khâu cuối cùng trong chu trình ngân sách nhằm tổng kết các
hoạt động của quá trình chấp hành NSNN tại cấp - ngành tài chính. Quyết toán
thể hiện kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trong kỳ báo cáo. Báo cáo quyết
toán là bức tranh tổng quát về các hoạt động tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh
phí. Trước khi lập báo cáo quyết toán phải tiến hành khoá sổ kế toán, thực hiện
đối chiếu giữa số liệu trên chứng kế toán khớp đúng với số liệu trên sổ kế toán
nhằm bảo đảm số liệu trên báo cáo quyết toán được lập chính xác. Trên cơ sở
kiểm tra đối chiếu giữa chứng từ kể toán với số liệu trên sổ kế toán và xác định
đối chiếu số dư tài khoản với KBNN, xác nhận của cơ quan Tài chính về chuyển
nguồn kinh phí sang năm sau sử dụng để lập báo cáo quyết toán theo qui định.
Các chỉ tiêu trên báo cáo quyết toán được lập căn cứ vào số liệu tổng hợp, số
chế độ hiện hành liên quan của Nhà nước.
Thứ hai, tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải bảo đảm phù hợp với đặc
điểm tổ chức quản lý, qui mô và địa bàn hoạt động của đơn vị.
Mỗi đơn vị có đặc điểm, điều kiện thực tế khác nhau, về tổ chức hoạt
động, tổ chức quản lý, qui mô và trình độ quản lý, . . . Do vậy, tổ chức công tác
kế toán ở đơn vị muốn phát huy tốt tác dụng thì phải được tổ chức phù hợp với
điều kiện thực tế của đơn vị.
Thứ ba, tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải phù hợp với biên chế đội
ngũ và khả năng trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên kế toán hiện có.
Mỗi đơn vị có đội ngũ kế toán với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sử
dụng thiết bị phương tiện kỹ thuật tin học,… có thể khác nhau, do vậy, muốn tổ
chức công tác kế toán hợp lý và có hiệu quả thì khi tổ chức công tác kế toán cần
đảm bảo tính phù hợp với đội ngũ và trình độ của họ thì những người là kế toán mới
đủ khả năng và điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ công việc kế toán được giao.
Thứ tư, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo thực hiện đầy đủ chức
năng nhiệm vụ kế toán trong đơn vị, thu nhận, kiểm tra, xử lý và cung cấp thông
tin kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý, quản trị của đơn vị.
Sản phẩm cuối cùng của kế toán là cung cấp được các báo cáo tài chính
và báo cáo kế toán quản trị (thông tin kế toán) cần thiết cho các đối tượng sử
dụng thông tin. Những thông tin đó xuất phát từ yêu cầu quản lý, quản trị đơn vị
25
và của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán. Do vậy, khi tiến hành tổ chức
công tác kế toán ở đơn vị cần lưu ý đến yêu cầu quản lý, quản trị của các đối
tượng đó để thiết kế hệ thống thu nhập và cung cấp thông tin phải có hiệu quả và
hữu ích.
Thứ năm, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu của
thông tin kế toán và tiết kiệm chi phí hạch toán,
Kế toán là công cụ quản lý, mà mục đích của quản lý là hiệu quả và tiết
kiệm, đồng thời kế toán là công việc, là hoạt động của một tổ chức/bộ phận của