Vai trò của công nghệ xanh đối với sự phát triển của nông thôn - Pdf 30

Bài tập những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭
Chủ đề:
Vai trò của công nghệ xanh
đối với sự phát triển của nông thôn
Định nghĩa Công nghệ Xanh: Danh từ “công nghệ” (technology) dùng để chỉ
sự áp dụng các kiến thức khoa học vào trong thực tế của đời sống. Công
nghệ xanh là một khái niệm mới của con người trước nguy cơ ô nhiễm toàn
cầu,là nỗi ưu tư lớn của những nhà làm khoa học chân chính nhằm mục đích
cổ suý việc tạo dựng và tiêu dùng năng lượng qua chiều hướng phát thải phế
thải không độc hại hay ít độc hại ngõ hầu hạn chế được vấn nạn hâm nóng
toàn cầu hiện tại(thân thiện với môi trường). Từ suy nghĩ đó, họ luôn luôn
nghĩ đến phương cách, quy trình mới, sáng tạo và cải tiến các công nghệ cũ
trở thành công nghệ xanh để bảo vệ môi trường chung cho thế giới.
Đói nghèo ở nông thôn là một trong những điều tồi tệ của thế giới hiện đại.
Tình trạnh thiếu việc làm và các cơ hội kinh tế ở nông thôn đã khiến cho
hàng triệu nông dân phải di cư ra các thành phố đang quá tải. Sự di cư tiếp
diễn gây ra những vấn đề to lớn về xã hội và môi sinh cho những thành phố
lớn ở những quốc gia nghèo. Những ảnh hưởng của tình trạnh đói nghèo thể
hiện rõ nhất là ở những thành phố, nhưng cội nguồn của nó phần lớn lại ở
nông thôn. Điều mà thế giới cần là những công nghệ có thể tấn công trực
diện vào vấn đề nghèo đói bằng cách tạo ra việc làm và của cải ở vùng nông
thôn. Công nghệ nào có thể tạo ra các ngành nghề và việc làm ở nông thôn
thì sẽ đem lại cho nông dân một giải pháp khác để khỏi phải di cư. Nó có thể
tạo cơ hội để họ sống và thịnh vượng mà không phải rời bỏ quê hương làng
quán.Công nghệ xanh sẽ giúp làm cho các vùng nông thôn trên khắp thế giới
trở nên giàu có và người nông dân không phải rời bỏ nông thôn để di cư đến
các thành phố

Sự thay đổi cán cân về của cải và dân số giữa nông thôn và thành thị là một
trong nhưng chủ đề chính của lịch sử nhân lọai trong 10 thiên niên kỷ qua.

trồng mà phương pháp chọn giống truyền thống không tạo ra được; tạo
giống đồng hợp tử thông qua nuôi cấy túi phấn; ứng dụng kỹ thuật tái tổ hợp
DNA; ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống cây trồng; phân tích đa
dạng di truyền, tạo ra những chế phẩm sinh học trong bảo vệ cây trồng, vật
nuôi (thí dụ, vac-xin, thuốc bảo vệ thực vật, KIT chẩn đoán nhanh dịch
bệnh, sinh khối lên men vi sinh giàu đạm, giàu vitamin,...), công nghệ chế
biến nông sản nhờ vi sinh vật và enzyme, xử lý môi trường thông qua công
nghệ phân hủy rác thải và chất ô nhiễm.
Một số người lại lo ngại công cụ này vì nó phi tự nhiên. Tuy nhiên, chúng ta
sẽ không có các cây trồng mới như ngày nay nếu không có sự can thiệp của
con người, mặc dù chỉ qua lai tạo, sử dụng phân bón, làm thủy lợi hay sử
dụng các thiết bị hiện đại. Công nghệ sinh học đơn thuần là một công cụ
hiện đại trong lịch sử ngành trồng trọt và nông nghiệp.
_Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học đã thúc đẩy sự phát triển
của mỗi quốc gia. Do áp dụng công nghệ sinh học nên ngành trồng trọt và
chăn nuôi ở châu Phi có mức tăng 3-4%/năm, bình quân thu nhập đầu người
tăng gần 3 lần, số trẻ em suy dinh dưỡng giảm 40%. Năng suất nông nghiệp
tăng là động lực cho tăng trưởng kinh tế và mở rộng những cơ hội phát triển
thương mại, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục...
Chỉ có nông nghiệp thì không đủ cung cấp đủ lương thực cho thế giới ngày
mai, nhưng nếu kết hợp công nghệ sinh học với nông nghiệp, sẽ có ảnh
hưởng sâu rộng, năng suất, hàm lượng dinh dưỡng cây trồng sẽ tăng, đồng
thời cung cấp lương thực với giá thấp hơn cho người tiêu dùng có thu nhập
thấp.
Công nghệ sinh học đã và đang làm thay đổi bộ mặt của ngành nông nghiệp
Mỹ kể từ năm 1966. Các nước đang phát triển là những khu vực quan trọng
nhất trên thế giới trong việc mang lại ổn định và phồn vinh kinh tế. Tại Mỹ,
các chủ trang trại đã chấp nhận các giống cây được tạo ra nhờ công nghệ
sinh học, thể hiện qua việc sử dụng các giống cây đó với tốc độ nhanh. Theo
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), năm 2003, có 80% đỗ tương, 38% ngô và

kháng sâu bằng chuyển nạp gen Bt chiếm 19 triệu ha (19%) và giống biến
đổi gen tính trạng khác chiếm 13,1 triệu ha (13%). Những tính trạng mục
tiêu gia tăng nhanh nhất trong 2005 - 2006 với tốc độ phát triển 30%, so với
17% tính kháng sâu, và 10% tính kháng thuốc cỏ.
Tác động toàn cầu của cây trồng biến đổi gen trong những năm 1996 - 2005
xét trên góc độ lợi ích kinh tế thuần túy là 27 tỉ USD (13 tỉ USD ở các nước
đang phát triển và 14 tỉ USD ở các nước công nghiệp). Thuốc trừ sâu giảm
224.300 tấn a.i. (chất hữu hiệu), tương đương với tỷ lệ giảm 15% tổng lượng
thuốc sâu sử dụng cho cây trồng.
Các tính trạng của gen được chuyển chống chịu thuốc cỏ (36%), cải tiến chất
lượng nông sản (19%), kháng sâu hại (15%), tính trạng khác (20%).
Thị trường toàn cầu về cây trồng biến đổi gen với doanh thu 75 triệu USD
năm 1995, tăng đến 2,3 tỉ USD năm 1999 (gần 30 lần trong 5 năm). Năm
2005, doanh thu này đã tăng lên 5,6 tỉ USD, đạt 27 tỉ USD trong suốt 10
năm (1996 - 2005).
Thực vậy, tốc độ tăng trưởng hiện nay đến năm 2015 sẽ là sự đột phá so với
10 năm đầu tiên; nhiều giống cây trồng biến đổi gen hơn sẽ được phát triển
trong các dự án đầu tư khổng lồ đáp ứng yêu cầu sản xuất nhiên liệu sinh
học (biofuel) đầy tham vọng. Đây là minh chứng cho sự tiếp nhận công nghệ
sinh học nhằm gia tăng sản lượng biofuel cho cả quốc gia đang phát triển và
quốc gia công nghiệp, và công nghệ sinh học sẽ là yếu tố chủ lực cho phát
triển biofuel tương lai. Gắn với kỹ thuật canh tác tối hảo, luân canh, quản lý
dịch hại; cây trồng biến đổi gen sẽ thể hiện tính ưu việt mà nó đã từng thể
hiện trong kế hoạch 10 năm đầu tiên.
_Công nghệ sinh học dưới khía cạnh môi trường :
Công nghệ sinh học không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho
người nông dân, mà ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy công nghệ
sinh học còn mang lại những lợi ích to lớn về an toàn lương thực và môi
trường.
Những kết quả sử dụng công nghệ sinh học tại Mỹ cho thấy, việc sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status