Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XK : Xuất khẩu
VN : Việt Nam
DN : Doanh nghiệp
TNHH: Trách nhiêm hữu hạn
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
SP: Sản phẩm
NPL: Nguyên phụ liệu
GDP: Gross Domestic Product
EU : European Union
ISO: International Organization for Standardization
GSP: Generalized System of Preferences
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường nội địa luôn có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
sản xuất - lưu thông hàng hoá, là nơi khởi đầu và cũng là nơi kết thúc đầu vào, đầu
ra cho sản xuất và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong nước. Chỉ khi
sản xuất hàng hoá phát triển, phân công lao động xã hội diễn ra vượt quá phạm vi
biên giới quốc gia thì thị trường quốc tế mới phát triển, quá trình tự do hoá thương
mại mới diễn ra sâu rộng. Hay nói cách khác, chỉ khi thị trường nội địa phát triển
mới có điều kiện để thâm nhập nhanh vào thị trường quốc tế và mang lại hiệu quả
chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp này và đánh giá khả năng
chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu giày dép.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay
và dự báo xu hướng đến năm 2015.
Cách thức giải quyết vấn đề
Về mặt cơ sở lý luận, tôi sử dụng những kiến thức được trang bị của chuyên
ngành Kinh tế phát triển để trình bày một cách tổng quát lý thuyết về khả năng
chiếm lĩnh thị trường nội địa của doanh nghiệp.
Về mặt cơ sở thực tế, những nghiên cứu thực tế mà tôi thu nhập được trên
cơ quan thực tập.
Kết hợp lý thuyết kinh tế với tình hình thực tế hiện nay để đề xuất phương
hướng và giải pháp giải quyết vấn đề.
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp: Duy vật biện chứng. khảo sát thực tế, thống kê so
sánh, phân tích tổng hợp.
Kết quả dự kiến và đóng góp của đề tài
Đề tài đưa ra những đánh giá về khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa của
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu giày dép. Chỉ ra những thuậnl lợi, khó khăn
khi tiếp cận thị trường nội địa và những hạn chế ảnh hưởng tới việc chiếm lĩnh thị
trường nội địa của các doanh nghiệp này. Đưa ra các giải pháp nhằm phát huy
thuận lợi, khắc phục khó khăn hạn chế để các doanh nghiệp này có thể chiếm lĩnh
thị trường nội địa thành công
Kết cấu của chuyên đề
Chương I: Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa của các doanh
nghiệp;
Chương II: Đánh giá thực trạng phát triển thị trường của các doanh nghiệp
Việt Nam sản xuất giày dép xuất khẩu;
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn với địa điểm xác định;
2. Khách hàng phải có nhu cầu được thoả mãn, đây chính là động cơ thúc
đẩy khách hàng thể hiện nhu cầu mua sắm;
3. Khách hàng phải có khả năng thanh toán;
4. Phương tiện và hình thức thanh toán chủ yếu là tiền.
*Phân loại thị trường:
Có thể có nhiều cách thức khác nhau để mô tả thị trường, sở dĩ có sự khác
nhau đó là do mục đích và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Với mục đích
nghiên cứu thị trường để tìm ra giải pháp phát triển thị trường thì doanh nghiệp cần
phải xem xét thị trường của mình theo phương thức tổng quát đó là chia thị trường
của mình thành: Thị trường đầu vào và Thị trường đầu ra.
+ Thị trường đầu vào: việc nghiên cứu Thị trường đầu vào là quan trọng và
đặc biệt ý nghĩa đối với sự hiệu quả và ổn định của nguồn cung cấp nguyên vật
liệu, hàng hoá và dịch vụ cho doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất.
Thị trường đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và chất lượng của sản phẩm.
Tuy nhiên trong đề tài này ta chỉ chú trọng đến việc phân loại thị trường và cách
thức phân loại thị trường đầu ra.
+ Thị trường đầu ra: Nghiên cứu thị trường đầu ra trực tiếp ảnh hưởng đến
các chiến dịch Marketing của doanh nghiệp. Mục tiêu của các chiến dịch
Marketing là giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Để mô tả thị
trường đầu ra của doanh nghiệp ta có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp 03 tiêu
thức cơ bản: sản phẩm, địa lý và thị hiếu khách hàng như sau:
a. Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức sản phẩm:
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thị trường phân loại theo tiêu thức sản phẩm thường được các doanh nghiệp
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp mô tả thị trường của mình theo các nhóm
khách hàng mà họ có thể hưởng tới để thỏa mãn. Khách hàng của doanh nghiệp
bao gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Về nguyên lý, tất cả các
khách hàng có mặt trên thị trường đều có thể là khách hàng của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, đối với mỗi nhóm khách hàng khác nhau thì tiêu chí về sản phẩm khác
nhau. Ví dụ: đối với nhóm khách hàng thuộc vùng có thu nhập thấp thì yêu cầu cao
nhất là giá rẻ còn chất lượng của sản phẩm chỉ cần đạt được ở mức có thể chấp
nhận được, còn đối với nhóm khách hàng có thu nhập cao thì tiêu chí hàng đầu là
mẫu mã đẹp và chất lượng sản phẩm cao. Doanh nghiệp không thể đáp ứng được
hết các nhu cầu đa dạng đó mà chỉ có thể đáp ứng tốt một hoặc một số yêu cầu về
cách thức mua sắm nào đó của khách hàng. Tất cả những điều nêu trên dẫn đến
một thực tế là hình thành trên thị trường những nhóm khách hàng mà doanh nghiệp
có thể chinh phục.
1.1.2 Chức năng của thị trường
Thị trường có tác động đến nhiều mặt của sản xuất tiêu dùng xã hội. Thị
trường là một loại dung môi đảm bảo cho các hoạt động sản xuất tiêu dùng phát
triển liên tục với quy mô ngày càng mở rộng. Thị trường đảm bảo cho hàng hóa
tiêu thụ hợp lý, phù hợp với nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Khi đã được thỏa
mãn nhu cầu, thị trường có tác dụng thúc đẩy, gợi mỏ nhu cầu đưa đến những sản
phẩm chất lượng cao, đa dạng làm cho chất lượng sống tăng lên, thúc đẩy xã hội
phát triển. Vì vậy, thị trường có các chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất chức năng thừa nhận: đối với các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm
sản xuất ra là để bán, các sản phẩm này muốn được tiêu thụ phải được thị trường
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thừa nhận. Đối với các doanh nghiệp thương mại, mặc dù không trưc tiếp sản xuất
ra sản phẩm nhưng sản phẩm hoặc dịch vụ họ cung cấp cũng phải được thị trường
thừa nhận. Nếu hàng hóa, dịch vụ được thị trường thừa nhận tức là có thể bán được
thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn và có lãi, thậm chí có thể mở rộng quy mô.
ra một loại sản phẩm cần phải ý thức được điều này. Để phát triển thị trường doanh
nghiệp luôn luôn tìm cách đổi mới sản phẩm của mình. Khi chưa có đủ điều kiện
để chế tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới, doanh nghiệp thường tìm cách kéo dài
vòng đời của sản phẩm bằng cách cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm hiện có của
mình bằng đa dạng kiểu dáng, cải thiện kiểu dáng và nâng cao chất lượng sản
phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có cơ hội để tạo hình ảnh tốt hơn thông qua
cung cấp các dịch vụ bảo hành, sửa chữa, cung cấp phụ tùng thay thế, phương thức
thanh toán đa dạng hóa… Phát triển thị trường thông qua sản phẩm là chiến lược
đúng đắn và mang tính hiệu quả tức thì giúp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm đồng
thời làm tăng thêm uy tín cho thương hiệu của doanh nghiệp.
* Đối với doanh nghiệp thương mại:
Doanh nghiệp thương mại có chức năng chính là mua để bán lại. Khi sản
phẩm của các nhà thương mại lưu thông được trên thị trường có các yếu tố cấu
thành nên giá trị sản phẩm mà người tiêu thụ nhận được có thể mô tả như sau:
SP người tiêu dùng nhận
được từ nhà thương mại (A)
=
SP được chế tạo bởi
nhà sản xuất (A1)
+
SP được thực hiện
bởi nhà thương mại
A = Hàng hóa cứng + Hàng hóa mềm
A = Hàng hóa hiện vật + Dịch vụ
A = A1 + A2
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xuất phát từ các bộ phận cấu thành nên sản phẩm của doanh nghiệp thương
mại, chiến lược và chính sách phát triển sản phẩm của doanh nghiệp này bao gồm
Ý nghĩa quan trọng của việc tìm hiểu khách hàng không chỉ dừng lại ở mục
tiêu bán được sản phẩm, điều quan trọng hơn là khi thực hiện nghiệp vụ này,
doanh nghiệp còn giữ được các khách hàng cũ đồng thời lôi kéo được thêm các
khách hàng mới và mở rộng thành phần khách hàng tiềm năng. Muốn vậy, doanh
nghiệp cần phải phát triển cả các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng. Dịch vụ
trước khi bán hàng nhằm chuẩn bị thị trường tiêu thụ, khuyếch trương thanh thế
với khách hàng. Dịch vụ trong quá trình bán hàng nhằm chứng minh sự hiện hữu
của doanh nghiệp với khách hàng, thể hiện sự tôn trọng với khách hàng và tạo
dựng lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.Dịch vụ thực hiện sau khi bán
hàng nhằm tái tạo nhu cầu của khách hàng, kéo khách hàng trở lại với doanh
nghiệp và thông qua khách hàng để củng cố thương hiệu và mở rộng ảnh hưởng
của doanh nghiệp thông qua hình thức truyền miệng của khách.
1.2.3. Phát triển thị trường theo phạm vi địa lí
Trước khi doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp cần phải
lựa chọn đúng địa điểm để phân phối hàng hóa của mình. Vị trí địa lý có ảnh
hưởng rất lớn đến sức tiêu thụ sản phẩm bởi vì một sản phẩm có thể tốt với khách
hàng ở khu vực này nhưng lại bị coi là không tốt đối với nhóm khách hàng ở khu
vực khác. Lựa chọn địa điểm liên quan đến các nội dung xác định thị trường của
doanh nghiệp theo tiêu thức địa lý và khách hàng đồng thời cụ thể hóa các yếu tố
này trong chiến lược phân phối. Tùy thuộc vào quy mô, khả năng tài chính và địa
bàn hoạt động của doanh nghiệp mà phạm vi địa lý và kích thước của thị trường
theo phạm vi địa lý khác nhau.
Bước tiếp theo trong nội dung phát triển thị trường theo tiêu thức địa lý là
lựa chọn và thiết kế các kênh phân phối. Một kênh phân phối có thêt được hiểu là
một tập hợp các hệ thống các phần tử tham gia vào quá trình luân chuyển hàng hóa
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từ nhà sản suất đến người tiêu dùng. Các kênh phân phối mà doanh nghiệp có thể
sử dụng bao gồm: các kênh phân phối trực tiếp, các kênh phân phối gián tiếp và
cũng giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh, tạo biện pháp kinh
doanh an toàn hơn trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nếu đa
dạng hóa mà không có ngành nghề chuyên môn hóa thì không thể phát triển bên
vững, đồng thời nếu đa dạng hóa kinh doanh mà không có chiến lược phù hợp
cũng dễ làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính do thiếu vốn. Để phát
huy những ưu điểm trong đa dạng hóa kinh doanh đòi hỏi phải có các điều kiện
nhu vốn lớn, bí quyết kỹ thuật và khả năng quản lý tốt. Nội dung của đa dạng hóa
kinh doanh gồm:
- Đa dạng hoá đồng tâm: Là việc doanh nghiệp phát triển kinh doanh nhiều
mặt hàng hay sản xuất những hàng hóa nào đó có cùng quy trình hoặc phụ thuộc
một phần quy trình sản xuất hàng hóa chính. Ví dụ công ty sản xuất sữa tươi có thể
sản xuất thêm bơ, phomat,…
- Đa dạng hoá theo chiều ngang: Là việc doanh nghiệp bổ sung cho chủng
loại hàng hóa của mình những mặt hàng hoàn toàn không có liên quan gì hoặc
không cùng quy trình sản xuất với mặt hàng đang kinh doanh nhưng có thể làm
cho khách hàng hứng thú hơn.
- Đa dạng hoá hỗn hợp: Là việc doanh nghiệp thực hiện đồng thời kinh doanh
đa dạng hóa đồng tâm và đa dạng hóa theo chiều ngang. Phương thức kinh doanh
này cần lượng vốn rất lớn, do đó chỉ phù hợp với các công ty quy mô lớn, có tiềm
lực tài chính hùng mạnh.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh
nghiệp
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.1. Các yếu tố bên ngoài
1.3.1.1. Môi trường vĩ mô
*Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên có thể
khai thác, các điều kiện về địa lý như địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu,… Điều
động kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Nếu nền kinh tế trong nước và kinh tế
quốc tế tăng trưởng cao sẽ làm tăng thu nhập của hộ gia đình và doanh nghiệp, dẫn
đến tăng khả năng thanh toán cho nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu đầu tư. Thị trường
của doanh nghiệp sẽ được mở rộng, áp lực cạnh tranh giảm, doanh nghiệp sẽ có
điều kiện mở rộng sản xuất, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Khi nền kinh tế rơi vào
suy thoái nó sẽ tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng ngược
lại, làm cho thị trường bị thu hẹp và áp lực cạnh tranh lớn hơn. Doanh nghiệp có
nguy cơ bị giảm lợi nhuận, thua lỗ thậm chí phá sản.
* Môi trường văn hóa xã hội
Các vấn đề về văn hóa xã hội như phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân
trí có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu của nhu cầu trên thị tường. Doanh nghiệp phải
nắm bắt được văn hóa xã hội địa phương mới có thể sản xuất được sản phẩm thỏa
mãn thị hiếu của người tiêu dùng. Văn hóa xã hội còn tác động trực tiếp đến việc
hình thành môi trường văn hóa doanh nghiệp, thái độ cư xử, ứng xử của doanh
nghiệp đối với nhà cung cấp, khách hàng và cả đối với các đối thủ cạnh tranh.
* Môi trường khoa học công nghệ
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, sự phát triển nhanh chóng
trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh
tranh của mọi doanh nghiệp có liên quan. Chuyển giao công nghệ đã, đang và sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của mọi doanh nghiệp. Áp dụng những kỹ thuật
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghệ tiên tiến nhất sẽ giúp tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản
phẩm, tạo ra những sản phẩm mới cải tiến mẫu mã… giúp doanh nghiệp ngày càng
thu hút được khách hàng. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam muốn nhanh chóng
vươn lên, tạo ra khả năng cạnh tranh để đứng vững ngay trên sân nhà và vươn ra
thị trường thế giới thì không thể không chú ý nâng cao khả nghiên năng cứu và
phát triển công nghệ; không chỉ là chuyển giao, làm chủ công nghệ nhập ngoại mà
phải có khả năng sáng tạo được kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
các nhà cung cấp lại gây sức ép tăng giá đầu vào thì doanh nghiệp sẽ phải tăng giá
bán, khiến cho tính cạnh tranh của sản phẩm giảm sút, hoặc phải chấp nhận giảm
lợi nhuận để giữ được khách hàng.
* Các doanh nghiệp trong ngành
Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp
đang kinh doanh cùng ngành nghề, cùng khu vực thị trường. Số lượng, quy mô,
sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Theo M. Porter, tám vấn đề sau sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ: số lượng đối thủ cạnh tranh là nhiều hay
ít? mức độ tăng trưởng của ngành là nhanh hay chậm? chi phí cố định là cao hay
thấp? các đối thủ cạnh tranh có đủ ngân sách có đủ khả năng khác biệt hóa sản
phẩm hay chuyển hướng kinh doanh hay không? năng lực sản xuất của các đối thủ
có tăng hay không và nếu tăng thì tăng ở tốc độ nào? tính chất đa dạng sản xuất
kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh ở mức độ nào? mức độ kỳ vọng của các đối
thủ cạnh tranh vào chiến lược kinh doanh của họ và sự tồn tại của rào cản rời bỏ
ngành
* Đối thủ tiềm ẩn
Các doanh nghiệp sẽ tham gia vào thị trường là đối thủ mới xuất hiện hoặc sẽ
xuất hiện trên khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động. Tác động
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của các doanh nghiệp này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của những doanh nghiệp đó
(quy mô, công nghệ, đội ngũ quản lý…). Sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh
làm tăng mức độ cạnh tranh trong ngành.
Theo M.Porter, những nhân tố sau tác động đến quá trình tham gia thị
trường của các đối thủ mới: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tế của
quy mô, bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hóa sản phẩm,
yêu cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận đường dây phân
Năng lực marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các ý tưởng liên
quan đến việc hình thành, xác định giá cả, xúc tiến và phân phối hàng hóa và dịch
vụ để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn mục tiêu của mọi cá nhân và tổ chức.
Doanh nghiệp có hoạt động marketing mạnh sẽ thỏa mãn được các nhu cầu của
khách hàng, đảm bảo cung cấp sản phẩm với chất lượng theo yêu cầu sản xuất và
giá cả phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt lợi
nhuận trong dài hạn.
* Năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp tập trung vào các vấn đề quy mô, cơ
cấu, trình độ kỹ thuật hình thức tổ chức quá trình sản xuất… Các nhân tố trên tác
động trực tiếp đến chi phí kinh doanh, thời gian sản xuất và đáp ứng cầu về sản
phẩm. Doanh nghiệp có khả năng sản xuất hàng hóa có chất lượng với chi phí
thấp, chủng loại phong phú đáp ứng thị hiếu của khách hàng sẽ có nhiều thuận lợi
để chiếm lĩnh thị trường.
* Chất lượng nguồn nhân lực
Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp. Toàn bộ lực
lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm cả lao động quản trị, lao động nghiên
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cứu và phát triển, đội ngũ lao động trực tiếp tham gia vào sản xuất. Nhân lực đóng
vai trò quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, là tài sản quý giá của
doanh nghiệp. Mọi năng lực khác như năng lực tài chính, năng lực sản xuất, năng
lực marketing… chỉ có thể được phát huy nếu doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo
được đội ngũ lao động có chất lượng.
1.4. Các tiêu chí đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp
1.4.1 Khả năng mở rộng và duy trì thị phần
Khả năng mở rộng và duy trì thị phần của doanh nghiệp là tiêu chí quan
trọng nhất đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Nó cho thấy
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Những doanh nghiệp có năng lực vượt trội
một số khía cạnh:
Thời gian thực hiện hợp đồng: Doanh nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ hợp
đồng. Hàng hóa phải được cung cấp đúng hạn, không kéo dài gây thiệt hại cho
khách hàng.
Mạng lưới phân phối: doanh nghiệp càng có có nhiều địa điểm bày bán sản
phẩm thì người tiêu dùng càng cảm thấy thoải mái trong việc lựa chọn, đánh giá
hàng hóa.
Các dịch vụ hậu mãi như lắp đặt, bảo hành, bảo dưỡng… giúp cho người
mua yên tâm sử dụng sản phẩm.
2. Sự cần thiết phải phát triển thị trường trong nước của các doanh nghiệp
Việt Nam sản xuất giày dép xuất khẩu
2.1. Giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị
trường quốc tế hiện nay về da giày (xếp thứ 4 về xuất khẩu giày dép), riêng ở thị
trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc.
Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có mức tăng trưởng trung
bình hàng năm 16%, đạt 3,96 tỉ USD năm 2007.
Biểu đồ 1.1 - Kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008:
Kim ngạch xuất khẩu giầy dép các loại nhìn chung các năm đều tăng nhất là
các năm gần đây. Nhưng đến năm 2009 thì tình hình này hoàn toàn thay đổi, theo
Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu trong quý 1 của ngành da giày chỉ đạt 915
triệu USD, bằng 89,2% so với cùng kỳ năm 2008. Đây là lần đầu tiên trong vòng
bảy năm gần đây, ngành xuất khẩu chủ lực của VN gặp khó khăn ngay từ quý đầu
tiên của năm.
Kim ngạch xuất khẩu giày dép của các doanh nghiệp xuất khẩu giày dép
Việt Nam tăng giảm thất thường vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: môi trường
kinh tế của các nước nhập khẩu (nếu kinh tế tăng trưởng cao thì lượng cầu sẽ tăng
Nền kinh tế toàn cầu đang bị tác động nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài
chính và các nền kinh tế phát triển đã lần lượt đi vào suy thoái. Hiện nay thì khối
Liên minh châu Âu (EU) đã rơi vào suy thoái rồi . Việt Nam là một nước rất là mở
SVTH Lục Thị Trang Lớp KTPT 47A
25