ẢNH HƯỞNG của mật độ ƯƠNG lên TĂNG TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG cá LINH ỐNG cirrhinus jullieni từ 15 đến 60 NGÀY TUỔI TRONG bể COMPOSITE - Pdf 30

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CÁ
LINH ỐNG Cirrhinus jullieni TỪ 15 ĐẾN 60 NGÀY TUỔI TRONG BỂ COMPOSITE
Lê Văn Lễnh
Đại học An Giang
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiên tại trại thực nghiệm thủy sản, khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại
học An Giang. Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2011.
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức được bố trí trong bể composite có thể tích 0,5 m
3
theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên và
3 lần lặp lại. Cá linh ống từ 1 đến 14 ngày tuổi được ương trong bể composite 3 m
3
cho ăn lòng đỏ trứng + bột đậu
nành, tới ngày thứ 15 thì bố trí với 4 mật độ lần lượt là: 1000 con.m
-3
; 1500 con.m
-3
; 2000 con.m
-3
và 2500 con.m
-3
.
Trong thời gian bố trí thí nghiệm cho cá ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp 40% đạm.
Kết quả sau 45 ngày ương, tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc biệt (SGR, %.ngày
-1
) ở các nghiệm thức 1, 2, 3 và 4
lần lượt là 12,37 %.ngày
-1
; 11,05 %.ngày
-1
; 8,51 %.ngày

cho ĐBSCL làm phong phú thêm nguồn cá tự nhiên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn
lợi thủy sản ở ĐBSCL đang có xu hướng giảm dần do một số nguyên nhân tác động.
Theo Ths. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia đất ngập nước (tổ chức WWF tại Việt Nam) cảnh báo
các đập thủy điện trên dòng chính sông Mêkông có nguy cơ làm giảm lượng nước đổ về ĐBSCL.
Đó là nguyên nhân làm giảm 75% lượng phù sa, kéo theo giảm lượng cá trắng từ 220.000 -
440.000 tấn/năm.
Ngoài ra, do xây dựng các đê bao ngăn lũ làm ngăn chặn việc di cư sinh sản của một số loài như cá
cá linh, cá rô đồng, cá sặc … Đồng thời, việc đánh bắt thủy sản không hợp lí làm giảm lượng cá
con và cá đang trong thời gian di cư sinh sản. Do những nguyên nhân trên mà nguồn lợi thủy sản
đang giảm dần, một số loài cá đang bị khai thác cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng.
Chính vì thế, việc cho sinh sản nhân tạo thành công ở một số loài cá như cá tra, basa, cá linh ống
… có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày
càng bị cạn kiệt, tăng sản lượng khai thác nguồn lợi thủy sản có giá trị kinh tế cho địa phương và
các khu vực lân cận.
Hiện nay, một số loại cá cho sinh sản nhân tạo thành công đã mang lại giá trị kinh tế cao và là
sản phẩm xuất khẩu cho các thị trường tiêu thụ nước ngoài. Bên cạnh đó, một số loài cá tuy
không phải là sản phẩm xuất khẩu nhưng chúng là sản phẩm được cư dân toàn vùng ưa thích như
cá Linh ống (Cirrhinus jullieni). Có thể nói, cá linh ống là một loài thủy sản được thiên nhiên ưu
ái ban tặng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với cá linh cư dân có thể chế biến những món
ăn khác nhau như: mắm cá linh, cá linh hun khói, canh chua cá linh …
Việc cho sinh sản nhân tạo cá Linh ống đã được tiến hành thử nghiệm và thành công. Nhằm góp
phần hoàn thiện qui trình sinh sản nhân tạo cá linh ống vì vậy tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của
mật độ ương lên tăng trưởng và tỷ lệ sống cá Linh ống (Cirrhinus jullieni) từ 15 đến 60 ngày
tuổi trong bể composite” là sự cần thiết.
Mục tiêu đề tài: Khảo sát khả năng tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Linh ống từ 15 ngày tuổi đến
60 ngày tuổi nhằm tìm được mật độ nuôi thích hợp để ương nuôi cá đạt hiệu quả cao.
Nội dung đề tài:
(i) Theo dõi các yếu tố môi trường trong bể nuôi (pH, nhiệt độ, DO, NH
4
+

Cá được cho ăn tối đa theo nhu cầu, cho ăn 2 lần (7h00 và 17h00) trong ngày.
Sử dụng sục khí 24/24. Thay nước (3 ngày thay 50% nước).
Các chỉ tiêu theo dõi
Một số chỉ tiêu môi trường nước trong bể ương: nhiệt độ, pH, DO, NH
4
+
/NH
3
, NO
2
. Kiểm tra
bằng test. Trước khi bố trí thí nghiệm, tiến hành cân đo mẫu cá (30 con) để xác định khối lượng
và chiều dài ban đầu. Trong thời gian nghiên cứu, cá được thu mẫu 15 ngày/lần để xác định sự
tăng trưởng của cá ương. Theo dõi tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc biệt hay tương đối (SGR,
%.ngày
-1
), tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (DWG, g.ngày
-1
), tăng trưởng chiều dài tuyệt đối
(DLG, cm.ngày
-1
).
Tỉ lệ sống của cá ở các nghiệm thức được xác định vào cuối thời gian nghiên cứu.
2.3. Phương pháp tính toán và xử lí số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 2007, SPSS 16.0.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các chỉ tiêu về môi trường
Nhiệt độ giữ vai trò quan trọng đối với các quá trình sinh hóa trong tự nhiên. Những thay đổi về
nhiệt độ nước có thể ảnh hưởng đến nhiều mặt của chất lượng nước. Các loài thủy sản và những
thành viên liên quan đến chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái nước rất nhạy cảm đối với nhiệt độ

Hình 3: Biến động oxy của các nghiệm thức
NH
3
là yếu tố quan trọng có sự ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, sinh trưởng đối với thủy sinh vật. NH
3
là khí độc đối với thủy sinh vật còn NH
4
không độc và nồng độ NH
3
gây độc đối với cá là 0,6 –
2,0 mg.l
-1
(Trương Quốc Phú và Vũ ngọc út, 2006). NH
3
là chất độc theo liều lượng, rất độc đối
với cá nuôi: nồng độ 0,5 – 1mg.l
-1
là đủ gây chết cá. (Nguyễn Đình Trung, 2000). Trong thí
nghiệm này giá trị NH
3
trung bình của các nghiệm thức dao động từ 0,38 – 0,41 mg.l
-1
.
Hình 4: Biến động NH
3
của các nghiệm thức
Nitrite vừa là sản phẩm của quá trình Nitrate hóa và phản Nitrate hóa, NO
2
gây độc cho tôm cá,
tác dụng độc khi NO

30
0,0521 ± 0,0044
c
0,0442 ± 0,0019
b
0,0392 ± 0,0055
ab
0,0323 ± 0,0021
a
DWG 0,0031 ± 0,0003
c
0.0026 ± 0,0001
b
0,0023 ± 0,0004
ab
0,0018 ± 0,0002
a
SGR 15,22 ± 0,53
c
14,22 ± 0,28
bc
13,41 ± 0,88
b
12,09 ± 0,4
a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống
kê ở mức (p > 0,05) và các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở mức (p < 0,05).
Qua bảng 1 cho thấy tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Linh ống 30 ngày tuổi ở nghiệm
thức 1 khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05), nghiệm thức 2

-1
và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <
0,05). Tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (DWG, g.ngày
-1
) ở 3 mật độ cũng có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Trong đó, tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày cao nhất
là ở mật độ 500 con.m
-3
(0,0074 g.ngày
-1
) và thấp nhất là 0,0030 g.ngày
-1
ở mật độ 1500 con.m
-3
.
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Linh ống 30 ngày tuổi
NT1 NT2 NT3 NT4
Kích thước thả L
15
0.89 0.89 0.90 0.91
30 ngày
L
30
1,69 ± 0,04
c
1,59 ± 0,01
b
1,48 ± 0,03
a
1,44 ± 0,02

-1
tương ứng 3,05 %.ngày
-1
). Kết quả thực tế
thí nghiệm cho thấy mật độ ương khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến sự tăng trưởng về
chiều dài lẫn khối lượng của cá Linh ống 30 ngày tuổi.
3.3. Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá ương trong bể composite từ 31 – 45
ngày tuổi
Từ bảng 3 cho thấy sau 45 ngày ương, nhìn chung sự tăng trưởng về khối lượng của cá Linh ống
đạt cao nhất ở nghiệm thức 1, kế đến lần lượt là nghiệm thức 2, 3 và sự tăng trưởng thấp nhất ở
nghiệm thức 4. Sự khác biệt về tăng trưởng giữa nghiệm thức 1 với nghiệm thức 2, 3 và nghiệm
thức 4 có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Về tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối, cá Linh ống 45 ngày tuổi ở nghiệm thức 1 cao nhất
(0,0284 g.ngày
-1
) giảm dần theo chiều tăng của mật độ và thấp nhất ở nghiệm thức 3 (0,0039
g.ngày
-1
). Khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức 1 với 3 nghiệm thức còn lại, giữa
nghiệm thức 2 với 2 nghiệm thức 3 và 4 (p < 0,05). Nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4 không có
sự khác biệt về mặt thống kê.
Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Linh ống 45 ngày tuổi
NT1 NT2 NT3 NT4
Kích thước P
30
0.0521 0.0442 0.0392 0.0323
45 ngày
P
45
0,4777 ± 0,0128

mặt thống kê giữa 3 nghiệm thức 2, nghiệm thức 3 và 4.
Ngoài ra, thực nghiệm còn cho thấy cá Linh ống ở giai đoạn 15 tới 30 ngày tuổi lớn nhanh hơn
cá Linh ống ở giai đoạn 31 tới 45 ngày tuổi.
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Linh ống 45 ngày tuổi
NT1 NT2 NT3 NT4
Kích thước L
30
1,69 1,59 1,48 1,44
45 ngày
L
45
3,44 ± 0,06
d
3,03 ± 0,01
c
2,41 ± 0,09
b
2,08 ± 0,18
a
DLG 0,1164 ± 0,0040
d
0,0960 ± 0,0012
c
0,0622 ± 0,0050
b
0,0427 ± 0,0121
a
SGR 4,73 ± 0,14
c
4,3 ± 0,06

-3
vẫn là cao nhất và giảm dần lần lượt
theo mật độ tăng từ 1500 con.m
-3
, 2000 con.m
-3
, thấp nhất ở mật độ 2500 con.m
-3
.
Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối của cá Linh ống ở nghiệm thức 1 khác biệt có ý nghĩa
thống kê với các nghiệm thức 2, 3 và 4 (0,0606 g.ngày
-1
; 0,0364 g.ngày
-1
; 0,0075 g.ngày
-1
;
0,0070 g.ngày
-1
) (p < 0,05). Nghiệm thức 2 khác biệt so với nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4 (p >
0,05). Không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa 2 nghiệm thức 3 và 4. Sự chênh lệch về khối
lượng của cá Linh ống giữa các nghiệm thức ngày càng rõ rệt.
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Linh ống 60 ngày tuổi
NT1 NT2 NT3 NT4
Kích thước P
45
0,4777 0,2115 0,1291 0,0912
60 ngày
P
60

), sau đó lần lượt là nghiệm thức 1 (7,11 %.ngày
-1
), nghiệm thức 4 (5,60 %.ngày
-1
) và
nghiệm thức 3 thấp nhất (4,59 %.ngày
-1
). Sự khác biệt này giữa nghiệm thức 1 và nghiệm thức 4
là có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), nhưng giữa 3 nghiệm thức 1, 2, 3 không có sự khác biệt
(p > 0,05). Giữa 3 nghiệm thức 2, 3 và nghiệm thức 4 cũng không khác biệt về mặt thống kê.
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Linh ống 60 ngày tuổi
NT1 NT2 NT3 NT4
Kích thước L
45
3,44 3,03 2,41 2,08
60 ngày
L
60
4,17 ± 0,10
c
3,59 ± 0,25
b
2,68 ± 0,09
a
2,48 ± 0,04
a
DLG 0,0487 ± 0,0110
b
0,0373 ±0,0162
ab

-3
và 2000 con.m
-3
. Về mặt
thống kê, nghiệm thức 1 khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức 2, 3 (p > 0,05) và khác
biệt có ý nghĩa với nghiệm thức 4 (p < 0,05); nghiệm thức 2 và 3 không khác biệt so với các
nghiệm thức còn lại (p > 0,05).
Kết quả này cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của mật độ ương lên sinh trưởng của cá Linh ống ở giai
đoạn 60 ngày tuổi. Đồng thời, cá Linh ống ở giai đoạn này có sự tăng trưởng chậm hơn so với
các loài cá bản địa khác cụ thể là: cá Chài đạt trọng lượng 2,37 g – 2,54 g và chiều dài trung bình
5,96 cm – 6,26 cm sau 60 ngày ương (Hoàng Quang Bảo & ctv, 2005); cá Mè hôi 2,48 g – 2,82 g
và 5,76 cm – 6,86 cm sau 60 ngày ương (Đặng Văn Trường & ctv, 2005).
3.5. Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá ương trong bể composite từ 15 – 60
ngày tuổi
Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá Linh ống từ 15 – 60 ngày tuổi
Nghiệm
thức
NT1 (1000.m
-3
) NT2 (1500.m
-3
) NT3 (2000.m
-3
) NT4 (2500.m
-3
)
Khối lượng
ban đầu
P
15

0,0043 ± 0,0003
a
SGR
(%.ngày
-1
)
12,37 ± 0,07
d
11,05 ± 0,24
c
8,51 ± 0,23
b
8,04 ± 0,14
a
Chiều dài
ban đầu
L
15
(cm) 0,89 ± 0,00
a
0,89 ± 0,01
a
0,90 ± 0,00
a
0,91 ± 0,01
a
Chiều dài
cuối
L
60

2,22 ± 0,04
a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống
kê ở mức (p > 0,05) và các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở mức (p < 0,05).
Các dữ liệu từ bảng 6 cho thấy, khối lượng và chiều dài ban đầu của cá được bố trí vào các
nghiệm thức không khác biệt về mặt thống kê, chứng tỏ khối lượng và chiều dài của cá được sử
dụng giữa các nghiệm thức và trong từng nghiệm thức là đồng đều nhau.
Khối lượng mẫu cá 60 ngày tuổi thu được và tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối ở nghiệm
thức 1 khác biệt có ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức 2, 3 và nghiệm thức 4 (p < 0,05);
nghiệm thức 2 khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4; không có sự khác biệt
giữa nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4 về mặt thống kê (p > 0,05). Tốc độ tăng trưởng khối lượng
đặc biệt của cá ở các nghiệm thức khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05). Tốc độ tăng
trưởng khối lượng tuyệt đối và đặc biệt của cá Linh ống 60 ngày tuổi được ghi nhận cao nhất ở
nghiệm thức 1 (0,0307 g.ngày
-1
và 12,37 %.ngày
-1
); giảm dần theo chiều tăng của mật độ ở các
nghiệm thức lần lượt là 0,0167 g.ngày
-1
và 11,05 %.ngày
-1
(nghiệm thức 2); 0,0053 g.ngày
-1

8,51 %.ngày
-1
(nghiệm thức 3); 0,0043 g.ngày
-1

). Mật độ ương khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến
tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá Linh ống 60 ngày tuổi.
Nhìn chung, mật độ để ương cá Linh ống từ 15 – 60 ngày tuổi cho tốc độ sinh trưởng tốt nhất là
1000 con.m
-3
3.6. Tỷ lệ sống của cá Linh ống ương trong bể từ 15 – 60 ngày tuổi
Bảng 8: Tỷ lệ sống cá Linh ống
Nghiệm thức NT1 NT2 NT3 NT4
Tỷ lệ sống (%) 90,47 ± 4,96
a
93,42 ± 7,93
a
81,47 ± 5,23
a
80,16 ± 7,89
a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống
kê ở mức (p > 0,05).
Bảng 8 cho thấy tỷ lệ sống của cá Linh ống ở các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa về mặt
thống kê, có giá trị theo thứ tự ở các nghiệm thức là 90,47%; 93,42 %; 81,47 % và 80,16 %. So
với kết quả của Lê Phan Anh Phụng (2011), tỷ lệ sống của cá trong quá trình ương cá Linh ống
bằng ao đất đến 30 ngày tuổi với các mật độ 500 con.m
-3
, 1000 con.m
-3
và 1500 con.m
-3
lần lượt
là 32,97%; 27,61%; 23,81% có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p<0,05).
Điều này có thể được giải thích do sự khác nhau về độ tuổi của cá Linh ống trong từng thí

-1
.
Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc biệt (SGR, %.ngày
-1
) giữa các nghiệm thức 1, 2, 3 và nghiệm
thức 4 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Cao nhất ở nghiệm thức 1 (12,37 %.ngày
-1
) và
thấp nhất ở nghiệm thức 4 (8,04 %.ngày
-1
).
Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (DLG, cm.ngày
-1
) khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các
nghiệm thức (p < 0,05). Nghiệm thức 1 (0,07 cm.ngày
-1
) cao hơn nghiệm thức 2 (0,06 cm.ngày
-
1
); 3 (0,04 cm.ngày
-1
) và 4 (0,03 cm.ngày
-1
).
Tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc biệt (SGR, %.ngày
-1
) giữa các nghiệm thức 1, 2, 3 và nghiệm
thức 4 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Cao nhất ở nghiệm thức 1 (3,43 %.ngày
-1
) và

6. Nguyễn Lê Hoàng Yến và Trương Quốc Phú. 2006. Khả năng hấp thụ amonia của zeolite tự
nhiên trong môi trường nước ở các độ mặn khác nhau. Tạp chí khoa học trường Đại học
Cần Thơ, tr 1-7.2006
7. Trương Quốc Phú. 2000. Giáo trình quản lý chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản. Khoa
Thủy sản trường Đại học Cần Thơ.
8. Trương Quốc Phú và Vũ Thị Ngọc Út. 2006. Bài giảng quản lý chất lượng nước. Khoa Thủy
sản trường Đại học cần Thơ.
ABSTRACT
This study was conducted at the Experimental Farm of Fisheries, Faculty of Agriculture and Natural Resources, An
Giang University and was carried out June to October 2011.
The experiment with 4 treatments were designed in composite tank (0,5 m
3
) in completely randomized design with
three replicates (per treatment). The fries from 1 to 14 days old were stocked in composite tank (3 m
3
) and were fed by
eeg yolk + soy flour. 15
th
day, the fries were designed with 4 densities of 1.000 inds.m
-3
, 1.500 inds.m
-3
, 2.000 inds.m
-3
,
2.500 inds.m
-3
. The fries were fed by commercial pellet feed 40% protein for 45 days period.
The result after 45 days rearing, specific growth rate (SGR, %.day
-1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status