NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU ĐẬU NÀNH TRONG THỨC ĂN LÊN SINH
TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ NÂU Scatophagus argus
Nguyễn Tử Minh
1
, Hoàng Nghĩa Mạnh
1
, Nguyễn Thị Phương Lan
2
1
Trường Đại học Nông Lâm Huế,
2
Trường Đại học Ngoại Ngữ Huế
TÓM TẮT
Cá nâu (Scatophagus argus) phân bố chủ yếu ở Vịnh Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ và thường sống ở các
bãi đá ngầm, bến cảng, các vịnh tự nhiên, vùng rừng ngập mặn ven biển, vùng cửa sông và cả vùng hạ lưu các con
suối. Cá nâu có chất lượng thịt thơm ngon, ít xương dăm, hợp khẩu vị đông đảo người tiêu dùng nên là đối tượng nuôi
giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến trên địa bàn Thừa Thiên Huế. Cá giống thí nghiệm được lấy từ nguồn cá tự
nhiên có khối lượng trung bình 8,08 ± 0,08 g/con; bố trí nuôi trong giai thể tích 2m
3
cắm tại các ao nuôi thủy sản
khu vực phá Tam Giang, với mật độ 10 con/m
3
. Cá được cho ăn 4 khẩu phần ăn với các hàm lượng dầu ăn khác
nhau (2%, 6%, 10% và 0%), hàng ngày cho cá ăn 2 - 5% khối lượng thân. Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong quá
trình nuôi, các yếu tố môi trường được ghi nhận nằm trong khoảng giới hạn, thích hợp cho sinh trưởng của cá nâu.
Khẩu phần thức ăn với các mức lipid khác nhau khác nhau trong khẩu phần có ảnh hưởng đến sinh trưởng và hệ số
chuyển hóa thức ăn của cá (p<0,05), nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá nâu (p>0,05). Nghiệm thức
thức ăn 6% dầu đậu nành cho sinh trưởng nhanh nhất và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất (DGR
w
= 0,239
g/ngày; DGR
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2011 đến 07/2011 tại vùng Đầm phá Tam Giang,
tỉnh Thừa Thiên Huế. Thí nghiệm được bố trí trong 12 giai, mỗi giai có kích thước 3 x 1,5 x 1,5
m với dung tích sử dụng 2 x 1 x 1 m tương đương diện tích 2 m
3
. Giai nuôi thiết kế chủ yếu bằng
lưới, dây cước (mắt lưới 2a = 2mm) và được đan, ráp căng, phẳng xung quanh 5 mặt của giai
nuôi và được đặt cạnh nhau trong cùng một diện tích ngập nước nhằm đảm bảo nguyên tắc đồng
đều các yếu tố môi trường trong thí nghiệm. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (CT1: 2%, CT2:
6%, CT3: 10% và CT4: 0% lipid) với 3 lần lặp lại/nghiệm thức và được bố trí theo phương pháp
ngẫu nhiên hoàn toàn (RCD).
Cá thả được lựa chọn kỹ, khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, không trầy
xước, chất nhớt trên cơ thể cá sạch, vây vảy còn nguyên vẹn, không bị dị hình, dị tật Kích cỡ
cá thả ban đầu (4 – 6 cm; 8,0 g/con) với mật độ 20 con/giai.
Cá được cho ăn bằng thức ăn tự phối chế trên cơ sở cân bằng các yếu tố lipid, khoáng, xơ
thô và năng lượng theo công thức thí nghiệm (bảng 1) 2 lần/ngày: 8 – 9h sáng và 16 – 17h chiều.
Cho ăn với lượng thức ăn bằng 2 – 5% khối lượng thân. Trong quá trình cho ăn thường xuyên
phải theo dõi để điều chỉnh cho phù hợp, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi lớn có thể giảm
hoặc ngừng cho ăn.
Bảng 1. Thành phần nguyên liệu của các công thức thức ăn trong thí nghiệm
Nguyên liệu CT1 (g) CT2 (g) CT3 (g) ĐC (g)
Bột cá 38 38 38 38
Bột đậu nành 30 30 30 30
Cám gạo 9,3 5,3 1,3 11,3
Bột bắp 12 12 12 12
Bột mì 7,0 7,0 7,0 7,0
Dầu đậu nành 2 6 10 0
Premix khoáng 1,7 1,7 1,7 1,7
Tổng 100 100 100 100
Nguyên liệu chế biến thức ăn và mẫu thức ăn phân tích các chỉ tiêu (Protein thô, Lipid thô,
b
0,177±0,009
b
1,078±0,035
b
8,11±0,10
a
22,47±0,26
c
177,33±7,77
c
0,239±0,004
c
1,356±0,022
c
8,00±0,01
a
19,37±0,63
b
142,00±8,00
b
0,189±0,010
b
1,142±0,049
b
8,11±0,10
a
16,07±0,23
a
98,67±5,33
0,039±0,007
b
4,43±0,33
a
7,23±0,33
c
63,33±0,67
c
0,047±0,0000
c
4,43±0,33
a
6,90±0,58
b
55,67±1,76
b
0,041±0,010
b
4,50±0,01
a
6,63±0,33
a
47,67±0,67
a
0,035±0,007
a
Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và sai số chuẩn.
Các giá trị trên cùng hàng có các kí tự (a, b, c) khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0.05).
Đồng thời các chỉ tiêu sinh trưởng khác nhau về khối lượng nghiên cứu cũng cho thấy ở
tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng ngày (DGR
L
); chỉ số sinh trưởng hàng ngày (DGI) giữa các
nghiệm thức trong thí nghiệm đều có sự sai khác với ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).
3.2. Ảnh hưởng của các loại thức ăn có tỷ lệ dầu đậu nành khác nhau trong thành phần lên tỷ
lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá nâu
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về chất lượng thức
ăn và khả năng quản lý thức ăn của người nuôi. Giá trị FCR càng thấp thì chi phí sản xuất càng
giảm (giảm chi phí thức ăn mà nó chiếm khoảng 30 – 60% chi phí sản xuất). Hơn nữa, môi
trường nuôi sẽ ít bị ô nhiễm do lượng thức ăn dư thừa gây ra. FCR thấp, tỷ lệ sống cao cũng như
tốc độ tăng trưởng nhanh là điều người nuôi mong muốn. Sau khi kết thúc thí nghiệm, chúng tôi
tiến hành kiểm tra số lượng cá còn lại để xác định tỷ lệ sống và định lượng thức ăn để xác định
chỉ tiêu FCR trong đợt thí nghiệm và kết quả được thể hiện trong bảng 4 như sau:
Bảng 4. Tỷ lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá ở các nghiệm thức thức ăn
Các chỉ tiêu đánh giá
Công thức thức ăn
CT1 CT2
CT3
ĐC
Tỷ lệ sống (%)
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
96,67±1,67
a
2,77±0,09
ab
96,67±1,67
a
trong khoảng giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá nâu.
Khẩu phần thức ăn với các mức lipid khác nhau khác nhau trong khẩu phần có ảnh hưởng đến
sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá (p<0,05), nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống
của cá nâu (p>0,05).
Nghiệm thức thức ăn 6% dầu đậu nành cho sinh trưởng nhanh nhất và hệ số chuyển hóa thức
ăn thấp nhất (DGR
w
= 0,239 g/ngày; DGR
L
= 0,047 cm/ngày và 2,34); cá sinh trưởng chậm nhất
và hệ số chuyển hóa thức ăn cao nhất ở nghiệm thức thức ăn không bổ sung dầu đậu nành
(DGR
w
= 0,133 g/ngày; DGR
L
= 0,035 cm/ngày và 2,94). Tỷ lệ sống của cá tương đối cao (93,33
– 96,67%).
4.2. Kiến nghị
Cần nghiên cứu thêm về nhu cầu dinh dưỡng của cá nâu (Scatophagus argus) đối với protein,
khoáng cũng như mối quan hệ giữa các yêu tố này với lipid nhằm cung cấp các thông tin đầy đủ có
cơ sở khoa học rõ ràng về nhu cầu dinh dưỡng của cá nâu đồng thời nhằm tạo ra các loại thức ăn có
giá thành sản phẩm thấp nhưng mang lại tăng trưởng cao trong quá trình nuôi.
Tiến hành những phân tích sâu hơn về sự thay đổi thành phần sinh hóa giữa các cá thể nuôi
khi bổ sung các hàm lượng lipid khác nhau trong khẩu phần ăn để có đánh giá chính xác sự ảnh
hưởng của thành phần lipid đến sự sinh trưởng và phát triển của cá nâu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Trần Ngọc Hải, 2006. “Giáo trình Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá biển”. Trường Đại Học
Cần thơ.
2. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2005. “Cá nước ngọt Việt Nam, tập 3, Họ cá nâu
Scatophagidae”. Nxb nông nghiệp, Hà Nội.
L
= 0,035 cm/day
and 2,94). The survival rate of spotted scat, as recorded at the end of the experiment, ranged relatively high from 93,33% to
96,67%.
Key words: Spotted scat, Scatophagus argus, lipid, survival rate, Tam Giang, Thừa Thiên Huế.