PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ
Penaues monodon THÂM CANH Ở BẠC LIÊU
Huỳnh Văn Hiền
1
& Trần Thị Mỹ Trinh
2
TÓM TẮT
Việc phân tích các chỉ tiêu về kinh tế và kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú được thực hiện tại Bạc Liêu từ
tháng 03-07/2011 với số mẫu là 68 hộ (25 hộ nuôi tôm sú qui mô nhỏ và 43 hộ qui mô lớn). Diện tích nuôi tôm sú
trung bình là 1,5±1,0 ha/hộ nuôi tôm sú qui mô nhỏ là 0,6 ha/hộ và hộ qui mô lớn là 2,1 ha/hộ. Mật độ thả nuôi
trung bình là 18,7 con/m
2
/vụ, mật độ nuôi qui mô nhỏ (18,7 con/m
2
/vụ) và qui mô lớn (18,9 con/m
2
/vụ) tương đương
nhau. Hệ số FCR trung bình của những hộ nuôi qui mô nhỏ (1,6) thấp hơn qui mô lớn (FCR=1,8). Năng suất tôm sú
trung bình là 2,5±1,3 kg/ha/vụ, nuôi qui mô nhỏ (3,1±1,4 tấn/ha/vụ) cao hơn so với nuôi qui mô lớn (2,2±1,1
tấn/ha/vụ). Tổng chi phí đầu tư nuôi tôm sú là 197,0±125,1 Tr.đồng/ha/vụ, nuôi tôm sú qui mô nhỏ (207,2
Tr.đồng/ha/vụ) cao hơn só với qui mô lớn (154,4 Tr.đồng/ha/vụ). Chi phí biến đổi hàng năm là 189,4±125,1 triệu
đồng/ha/vụ, trong đó qui mô nhỏ (262,4 Tr.đồng/ha/vụ) cao hơn so với nuôi qui mô lớn (147,0 Tr.đồng/ha/vụ).
Trong cơ cấu chi phí biến đổi thì chi phí thức ăn là chiếm tỷ lệ cao nhất dù nuôi qui mô nhỏ (54,9%) hay qui mô lớn
(60,7%). Thu nhập trung bình là 360,3±211,6 Tr.đồng/ha/vụ, nuôi qui mô nhỏ có thu nhập (444,2 Tr.đồng/ha/vụ)
cao hơn so với nuôi qui mô lớn (311,5 Tr.đồng/ha/vụ). Lợi nhuận trung bình là 163,3±132,5 Tr.đồng/ha/vụ, đối với
nuôi qui mô nhỏ (174±165,4 Tr.đồng/ha/vụ) cao hơn qui mô lớn (157,1±110,7 Tr.đồng/ha/vụ). Giá thành sản xuất
1kg tôm sú đối với những hộ nuôi qui mô nhỏ (89,9 ngàn đồng/kg) cao hơn so với nuôi qui mô lớn (77,2 ngàn
đồng/kg). Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nuôi tôm sú là 0,8 lần, qui mô nhỏ có tỷ suất lợi nhuận (0,6 lần) thấp
hơn so với nuôi qui mô lớn (1,0 lần). Có 4 biến tương quan có ý nghĩa thống kê với lợi nhuận gồm: (i) Hệ số FCR;
(ii) Chi phí trả lãi tiền vay (ngàn đồng /ha/vụ); (iii) Qui mô diện tích nuôi (1= qui mô diện tích nhỏ (<=1ha); 2=
qui mô lớn (>1ha)) và (iv) Chi phí thức ăn (ngàn đồng/ha/vụ).
03-07/2011. Tổng quan sát mẫu là 68 hộ nuôi tôm (với 25 hộ nuôi tôm sú qui mô nhỏ và 43 hộ
nuôi tôm sú qui mô lớn). Phương pháp vấn trực tiếp ngẫu nhiên bằng bảng câu hỏi soạn sẵn được
áp dụng khi thu thập số liệu. Các phương pháp thống kê mô tả (tần suất, giá trị trung bình và độ
lệch chuẩn) được sử dụng để mô tả, kiểm định thống kê (T-test) để so sánh, phân tích và đánh giá
các chỉ tiêu tài chính cũng như kỹ thuật của qui mô nuôi nhỏ và qui mô nuôi lớn. Phân tích hồi
quy đa biến của các biến độc lập (X
j
) tác động có ý nhĩa lên biến phụ thuộc Y (lợi nhuận). Sử
dụng phần mềm SPSS for Windows để nhập và phân tích số liệu.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Một số thông tin chung về chủ hộ nuôi tôm sú ở Bạc Liêu
Qua khảo sát cho thấy các chủ hộ nuôi tôm sú tại Bạc Liêu có độ tuổi trung bình là 39,0±
8,0 tuổi. Tôm sú nuôi bắt đầu từ năm 1998, lúc đầu việc nuôi còn nhỏ lẻ mãi đến năm 2002 việc
nuôi tôm mới phát triển mạnh (Trần Văn Việt, 2006). Mô hình nuôi tôm thâm canh cho năng
suất cao chỉ mới phát triển trong vài năm gần đây ở Bạc Liêu
Hình 3.1: Tuổi và kinh nghiệm của chủ hộ nuôi tôm sú tại Bạc Liêu
Kinh nghiệm nuôi tôm sú của người dân trung bình là 6,8± 2,6 năm. Qua kết quả điều tra
được thể hiện qua Hình 3.1 cho thấy kinh nghiệm nuôi tôm từ 4-6 năm chiếm tỷ lệ cao nhất
(33,8%) và người nuôi tôm có kinh nghiệm trên 10 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất (4,4%), bên cạnh
đó thì kinh nghiệm nuôi từ 8-10 năm chiếm tỷ lệ cũng khá cao (25%).
Hình 3.2: Trình độ chuyên môn của hộ dân nuôi tôm sú
Trình độ chuyên môn của người dân nuôi tôm tại Bạc Liêu chủ yếu là dựa vào kinh
nghiệm chiếm đến 73,3%. Một số hộ nuôi tôm sú ở Bạc Liêu có trình độ chuyên môn cũng khá
cao như ở những hộ nuôi tôm qui mô lớn có trình độ đại học, cao đẳng chiếm đến 9,1%, có sự
tham gia tập huấn là 36,4% và có 81,8% số hộ nuôi dựa theo kinh nghiệm tích luỹ của bản thân.
Bên cạnh đó, những hộ nuôi tôm ở qui mô nhỏ tuy trình độ chuyên môn hầu hất là ở bậc trung
cấp (25%). Ngoài ra thì những hộ này cũng thường xuyên tham gia những lớp tập huấn chiếm tới
25% và đa phần cũng chỉ là nuôi dựa theo kinh nghiệm tích luỹ từ bản thân (50%).
Bảng 3.1: Nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật nuôi tôm sú tại Bạc Liêu
Nguồn Thông tin
(2006) cũng cho thấy những hộ nuôi vụ nghịch hay còn gọi là nuôi trái vụ (vụ 2) chiếm tỷ lệ thấp
(21,2%). Theo kết quả điều tra thì hộ nuôi tôm sú thâm canh ở Bạc Liêu có số vụ nuôi trong năm
trung bình là 1,7 vụ/năm có nghĩa là nuôi 2 năm được 3 vụ và chủ yếu là chỉ nuôi tôm vào vụ
chính 1 vụ/năm. Để nuôi tôm sú đạt kết quả tốt và giảm thấp thiệt hại có thể xảy ra do biến động
thời tiết khác thường, người nuôi tôm cần thả tôm giống theo lịch thời vụ đã khuyến cáo; thường
xuyên chăm sóc quản lý tốt môi trường ao nuôi; chủ động phòng ngừa dịch bệnh và thu hoạch
dứt điểm khi tôm đạt giá trị thương phẩm (Sở NN&PTNT Bạc Liêu, 2011).
Mật độ thả giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sản lượng, năng suất và kích cỡ tôm
thu hoạch cũng như thời gian nuôi trong một vụ. Kết quả phân tích số liệu cho thấy mật độ thả
giống tôm sú trung bình của mô hình nuôi thâm canh Bạc Liêu là 18,7 con/m
2
, trong đó nuôi qui
mô nhỏ có mật độ tôm sú giống thả nuôi trung bình (18,5 con/m
2
) có xu hướng thấp hơn so với
qui mô lớn (18,9 con/m
2
).
Diện tích nhỏ hơn 0,5 ha thì thả 5-10 con/m
2
. Trong trường hợp nuôi thâm canh có sử
dụng quạt hay máy sục khí thì có thể thả với mật độ cao hơn. Đối với tôm sú, những hộ nuôi có
mật độ dao động 25-35 con/m
2
thường mang lại lợi nhuận cao, còn những hộ nuôi mật độ thấp từ
15-8 con/m
2
thì có ít rủi ro hơn nhưng lợi nhuận mang lại tương đối thấp.
Hình 3.3: Mật độ nuôi tôm sú thả nuôi phân theo qui mô diện tích
Những hộ nuôi tôm có mật độ từ 15-20 con/m
Tuy nhiên, trong nghề nuôi tôm bất kỳ một loại bệnh nào xảy ra là điều không mong muốn và
dẫn đến thiệt hại kinh tế cho người nuôi.
Hình 3.5: Một số loại bệnh thường gặp ở tôm sú
Sản lượng tôm sú nuôi thu hoạch trung bình là 3,5±3,1 tấn/vụ/hộ, sản lượng này có sự
khác biệt rất lớn giữa qui mô nhỏ (1,6±0,7 tấn/hộ) và qui mô lớn (4,5±3,5 tấn/hộ) có sự khác biệt
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Bảng 3.2: Sản lượng, kích cỡ, giá bán và năng suất tôm sú nuôi tại Bạc Liêu
Diễn giải
Qui mô nhỏ
(<=1ha) n=25
Qui mô lớn
(>1ha) n=43
Tổng
(n=68)
Sản lượng tôm thu hoạch (tấn/vụ) 1,6
a
±0,7 4,5
b
±3,5 3,5±3,1
Kích cỡ bình quân (con/kg) 35,0±9,6 36,2±11,8 35,8±11,0
Gía bán bình quân (1000đ/kg) 137,9±35,2 140,1±32,0 139,3±32,9
Năng suất (kg/ha) 3.079±1.393,0
a
2.228,7±1.071,7
b
2.541,3±1.259,2
Ghi chú: các ký tự có cùng chữ cái trong cùng một dòng thì có sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê bằng kiểm định T-Test
Giá bán của tôm sú gia tăng theo kích thước thu hoạch, kích cỡ thu hoạch trung bình của
tôm sú nuôi đạt 35,8±11,0 con/kg, đối với các hộ nuôi qui mô nhỏ thì có kích cỡ thu hoạch (35,0
(n=68)
Tổng chi phí 270,2±17,1
a
154,4±56,1
b
197,0±125,1
Chi phí cố định 7,8±7,5 7,4±5,6 7,6±6,3
Chi phí biến đổi 262,4
a
±171,5
b
147,0±56,2 189,4±125,1
Cơ cấu chi phí biến đổi (%)
100 100 100
Thức ăn
54,9 60,7 57,9
Phòng trị bệnh
14,5 11,0 12,8
Trả lãi vay
12,7 5,7 9,4
Sên vét cải tạo
5,5 6,2 5,8
Nhiên liệu
3,9 5,6 4,8
Con giống
3,4 5,9 4,7
Thuê thu hoạch
3,4 2,4 2,6
Thuê lao động
1,4 1,7 1,5
Thu nhập (Tr.đ/ha/vụ) 444,2±272,0
a
311,5±150,0
b
360,3±211,6
Lợi nhuận (Tr.đ/ha/vụ) 174,0±165,4 157,1±110,7 163,3±132,5
Giá thành (1.000đ/kg) 89,8±37,9 77,2±30,0 81,8±81,8
Lợi nhuận (1.000đ/kg) 48,1±47,2 62,9±43,2 57,5±45,0
Tỷ suất lợi nhuận (lần) 0,6 1,0 0,8
Ghi chú: các ký tự có cùng chữ cái trong cùng một dòng thì có sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê bằng kiểm định T-Test
Thu nhập trung bình từ nuôi tôm sú thâm canh ở Bạc Liêu là 360,3±211,6 triệu
đồng/ha/vụ, mô hình nuôi qui mô nhỏ có thu nhập (444,2 triệu đồng/ha/vụ) cao hơn so với nuôi
qui mô lớn (311,5 triệu đồng/ha/vụ) và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nuôi tôm
sú thâm canh thì số hộ nuôi có hiệu quả, có lợi nhuận chiếm tỷ lệ rất cao (89,7%), còn số hộ nuôi
bị lỗ vốn chiếm tỷ lệ thấp (10,3%).
Kết quả khảo sát cho thấy lợi nhuận trung bình của mô hình tôm sú thâm canh ở Bạc Liêu
là 163,3±132,5 triệu đồng/ha/vụ, đối với nuôi qui mô nhỏ là 174±165,4 triệu đồng/ha/vụ và nuôi
ở qui mô lớn là 157,1±110,7 triệu đồng/ha/vụ và có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa
hai qui mô sản xuất (p>0,05). Theo Trần Văn Việt (2006), nuôi tôm sú thâm canh tại Bạc Liêu
có khoảng 49% hộ nuôi tôm bị lỗ vốn ở vụ 1 và năm 2010 thì có 11,4% số hộ nuôi tôm sú bị
thua lỗ (Lê Xuân Sinh & ctv., 2011).
Giá thành sản xuất 1kg tôm sú đối với những hộ nuôi qui mô nhỏ (89,9 ngàn đồng/kg)
cao hơn so với nuôi qui mô lớn (77,2 ngàn đồng/kg). Đây là lợi thế rất lớn của mô hình nuôi tôm
sú qui mô lớn là giảm được một khoản chi phí đáng kể.
Lợi nhuận trung bình trong nuôi tôm sú thâm canh ở Bạc Liêu là 57,5 ngàn đồng/kg,
trong khi đó nuôi qui mô nhỏ có lợi nhuận (48,1 ngàn đồng/kg) thấp hơn so với qui mô lớn (62,9
ngàn đồng/kg) và có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nuôi tôm sú là 0,8 lần, có nghĩa lá 1 đồng chi phí bỏ ra
để nuôi tôm thì thu lại được 0,8 đồng lợi nhuận. Khi so sánh về qui mô diện tích thì nuôi tôm sú
X
4
= Chi phí thức ăn (1.000đ/ha/vụ)
Hệ số chuyển hoá thức ăn FCR có mối tương quan nghịch với lợi nhuận có nghĩa là FCR
tăng lên 1 lần thì lợi nhuận sẽ giảm đi tương ứng 222,1 triệu đồng/ha/vụ (giả định rằng khi các
yếu tố khác không thay đổi). Tương tự thì chi phí trả lãi tiền vay cũng có mối tương quan nghịch,
có nghĩa là khi lãi tiền vay tăng lên 1 ngàn đồng/ha/vụ thì lợi nhuận sẽ giảm tương ứng là 0,9
ngàn đồng/ha/vụ (giả định rằng các yếu tố khác không thay đổi) Đối với qui mô diện tích nuôi
tôm thì có tương quan thuận, có nghĩa là từ nuôi qui mô nhỏ đầu tư nuôi với qui mô lớn hơn
thêm 1 ha (có nghĩa là >3ha) thì lợi nhuận sẽ tăng thêm 54,4 triệu đồng/ha/vụ (giả định rằng các
yếu tố khác không thay đổi). Chi phí thức ăn cho nuôi tôm có mối tương quan thuận với lợi
nhuận, khi chi phí thức ăm nuôi tôm tăng lên 1 ngàn đồng/ha/vụ thì lợi nhuận sẽ tăng thêm 1,9
ngàn đồng/ha/vụ (giả định rằng các yếu tố khác không thay đổi).
4. KẾT LUẬN
Diện tích nuôi tôm sú thâm canh bình quân là 1,5± 1,0ha. Trong đó, những hộ nuôi tôm
sú qui mô nhỏ có diện tích bình quân là 0,6ha và nuôi tôm sú qui mô lớn là 2,1ha.
Mức nước trong ao nuôi có độ sâu trung bình là 0,9m, nuôi tôm sú qui mô nhỏ có độ sâu
thấp hơn so với nuôi qui mô lớn.
Mật độ tôm sú thả nuôi trung bình là 18,7± 4.3 con/m
2
, nuôi qui mô nhỏ có mật độ thả
nuôi thấp hơn so với nuôi qui mô lớn.
Hệ số FCR trung bình trong mô hình nuôi sú tại Bạc Liêu là 1,6, trong khi đó nuôi qui mô
nhỏ có hệ số FCR cao hơn so với nuôi qui mô lớn.
Năng suất trung bình của mô hình nuôi tôm sú là 2,5 tấn/ha/vụ, trong đó mô hình nuôi
tôm sú qui mô nhỏ có năng suất cao hơn so với nuôi tôm sú qui mô lớn.
Tổng chi phí của mô hình nuôi tôm sú bình quân là 197,0±125,1 triệu đồng/ha/vụ, trong
đó qui mô nhỏ có chi phí đầu tư cao hơn so với qui mô lớn.
Chi phí biển đổi trung bình khi nuôi tôm sú là 189,4 triệu đồng/ha/vụ, qui mô nuôi nhỏ có
chi phí biến đổi cao hơn so với nuôi qui mô lớn. Trong cơ cấu chi phí biến đổi thì chi phí thức ăn
hướng nhiệm vụ năm 2011.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011 và phương
hướng nhiệm vụ năm 2012.
Tổng cục thống kê, 2010. Số liệu thống kê Việt Nam 2009. Nhà xuất bản thống kê Hà Nội.
Trần Văn Việt (2006). Ảnh hưởng của việc đầu tư và quản lý đối với nghề nuôi tôm ven biển của
tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí khoa học, trường Đại học Cần Thơ, trang 106 – 114.
ANALYSING SOME TECHNICAL-ECONOMIC ASPECTS OF BLACK TIGER SHRIMP
(PENAUES MONODON) INTENSIVE CULTURE IN BAC LIEU PROVINCE
Huỳnh Văn Hiền
2
& Trần Thị Mỹ Trinh
2
2 Bộ môn Quản lý & Kinh tế Nghề cá - Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ;
Email: [email protected]
ABSTRACT
The study was implemented in Bac Lieu province, from March, 2011 to July 2011 by investigating 68 households, of
which 25 samples came from small-scale farmers and the rest were large-scale farmers. The average culturing area
was 1.5±1.0 ha/household, with the corresponding of the small-scale was significant smaller than the large-scale,
namely 0.6 ha/household compared to 2.1 ha/household. The average stocking density was similar between the
small-scale and the large-scale, being 18.7 ind/ m
2
/crop and 18.9 ind/ m
2
/crop respectively. As regard the average
FCR ratio, the small-scale was 1.6 compared to 1.8 of the large-scale. The average yield of the small-scale (3.1±1.4
ton/ha/crop) was higher than the large-scale (2.2±1.1 ton/ha/crop). The average total investment cost was
197.0±125.1 million VND/ha/crop, with the equivalent of the small-scale being 207.2 million VND/ha/crop higher
than those of the large-scale (154.4 million VND/ha/crop). Regarding annual variable cost, the small-scale (262,4
million VND/ha/crop) was significant higher than the large-scale (147.0 million VND/ha/crop), in which the feeding
cost was the highest one for both the small-scale (54.9%) and the large-scale (60.7%). The average income was