SỰ PHÁT TRIỂN PHÔI rươi từ QUÁ TRÌNH THỤ TINH NHÂN tạo và ẢNH HƯỞNG của độ mặn TRONG ƯƠNG ấu TRÙNG rươi tylorrhynchus heterochaetus lên GIAI đoạn METACHOPHORA - Pdf 30

SỰ PHÁT TRIỂN PHÔI RƯƠI TỪ QUÁ TRÌNH THỤ TINH NHÂN TẠO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG RƯƠI Tylorrhynchus
heterochaetus LÊN GIAI ĐOẠN METACHOPHORA
Phạm Công Thảo
*
, Nguyễn Thức Tuấn
**
, Nguyễn Quang Chương
***
GIỚI THIỆU
Nghiên cứu này thử nghiệm việc cho rươi thụ tinh trong điều kiện nhân tạo, đánh giá và mô tả lại sự phát
triển của phôi rươi trong môi trường nước lợ (15‰). Nghiên cứu cũng bố trí thí nghiệm ương nuôi và đánh giá ảnh
hưởng của độ mặn (0‰, 5‰, 10‰, 015‰) lên tỷ lệ sống của ấu trùng rươi đến giai đoạn Metachophora. Kết quả
thí nghiệm đã cung cấp thêm những kiến thức quan trọng về Sinh học phát triển của rươi, tính khả thi trong thụ tinh
nhân tạo và ương nuôi ấu trùng, đồng thời xác định được khoảng độ mặn phù hợp cho sự phát triển của ấu trùng
rươi.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus) là loài động vật không xương sống, thuộc lớp giun
nhiều tơ (polycheata), sinh sống chủ yếu trong vùng nước lợ, có vai trò khá quan trọng trong hệ
sinh thái. Rươi phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia. Ở nước ta chúng thường
xuất hiện nhiều ở các tỉnh như Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Khánh
Hoà, Côn Đảo,… Rươi chỉ xuất hiện vào những thời vụ nhất định trong năm. Sự xuất hiện của
chúng thường gắn liền với hoạt động sinh sản và liên quan đến các yếu tố như thuỷ triều, thời
tiết, tuần trăng, nhiệt độ,…, trong đó độ mặn là một yếu tố đặc trưng và liên quan trực tiếp đến
vùng rươi lên. Những hiểu biết chi tiết về sự thích ứng với môi trường, sinh học phát triển,… của
rươi còn rất ít, nên rất cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Từ lâu, rươi được biết đến bởi các món ăn đặc sản, ngon và bổ dưỡng của người dân vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, nguồn lợi rươi tự nhiên đang trở nên khan hiếm do nhu cầu sử
dụng ngày càng cao và việc bảo vệ, khai thác chưa được chú trọng. Gần đây, tại một số vùng ven
biển, người dân đã biết vận dụng việc thu giống tự nhiên đưa vào các đầm lớn để nuôi, bổ sung phân
bón, tạo điều kiện thuận lợi cho Rươi sinh trưởng và phát triển tốt nên cho sản lượng và năng suất thu

- Xác định sức sinh sản của Rươi
Sức sinh sản tuyệt đối (số trứng/cá thể): Fa = n * V
Trong đó - n: Lượng trứng có trong 1ml dung dịch sau khi cho 1 cá thể sinh sản
- V: Thể tích dung dịch pha loãng (ml)
3.2. Phương pháp theo dõi sự phát triển phôi và ấu trùng
- Quan sát trực tiếp: Sử dụng kim tiêm, vợt (kích thước mắt lưới 60µm), lam kính để thu
trứng và quan sát trên kính hiển vi ghi lại hình ảnh các giai đoạn phát triển của phôi và ấu trùng.
- Xác định tỷ lệ thụ tinh sau khi cho thụ tinh 30 phút: Dùng vợt vớt trứng kiểm tra từng xô,
trứng được quan sát kính hiển vi, lấy giá trị trung bình cho các mẫu quan sát.
- Xác định tỷ lệ nở sau khi trứng nở hết
T
s
(%) =
1
2
T
T
*100
Trong đó: T
1
: số trứng đã thụ tinh; T
2:
số trứng đã nở
Ấu trùng rươi từ thụ nh nhân tạo
CT 1 (0‰) CT 2(5‰) CT 3 (10‰) CT 4 (15‰)
-Theo dõi các yếu tố môi trường (Nhiệt độ, DO, Ph)
- Xác định tỷ lệ sống lên ấu trùng 3 a
Kết luận
3.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của
ấu trùng rươi đến giai đoạn Metachophora

41589 ± 26
2 Tháng 9 46207 ± 31
Trung bình 43898
Sức sinh sản của rươi vào tháng 9 cao hơn (46207 ± 31) so với rươi tháng 5 (41589 ± 26).
Điều này do rươi cái tháng 9 thường có kích thước lớn, khía cạnh khác có thể do sức sinh sản của
rươi trong thời vụ chính (tháng 9) cao hơn thời vụ phụ (tháng 5).
1.2. Sự phát triển phôi và tỷ lệ nở của ấu trùng rươi
Kết quả quan sát, theo dõi trực tiếp sự phát triển của các trứng đã thụ tinh trên kính hiển vi
điện tử đã xác định được một số thời kỳ phát triển của phôi rươi như sau:

Hình 3. Trứng ở các giai đoạn 2, 4 và 8 phôi bào
Sau thụ tinh 2-2,5giờ: Xuất hiện rãnh phân cắt, phân chia trứng thành 2 phôi bào dọc theo
cực động vật và cực thực vật.
Sau 3,5 – 4giờ : Xuất hiện rãnh phân cắt thứ 2 phân cắt trứng thành 4 phôi bào
Sau 5-6 giờ phôi đã phân cắt lần thứ 3 thành 8 tế bào, nhưng ở lần phân cắt này không đều
nhau 4 tế bào ở phía trên nhỏ hơn và nằm giữa các góc của 4 tế bào bên giới. Theo tác giả Lưu
thị Dung và Phạm Quốc Hùng đây là hiện tượng phân cắt hoàn toàn theo kiểu xoắn ốc, nguyên
nhân là do thoi phân cắt nằm nghiêng hoặc do phôi bào mới hình thành di chuyển mạnh.
Sau 6-10 giờ, phôi tiếp tục phân cắt, nhưng rất khó quan sát và đếm số lượng tế bào
Sau 10-17h là giai đoạn đầu phôi nang và cuối phôi vị, phôi vị phát triển theo hình thức lan
phủ.
Hình 4. Quá trình phát triển phôi vị
Sau 24 giờ, ấu trùng Trochophora với đặc điểm hình cầu, xuất hiện vành tiêm mao viền đỏ
giúp cho chúng có thể di chuyển theo kiểu xoay vòng. Những trứng không thụ tinh sau khoảng
thời gian từ 20-24h chúng sẽ tự vỡ ra và tan biến vào nước
- Tỷ lệ nở của ấu trùng: Qua thí nghiệm cho rươi thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ nở từ các trứng thụ tinh lên ấu
trùng trochophora đạt khoảng 65,75%.
2. Ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ lệ sống của ấu trùng rươi
2.1. Các yếu tố môi trường cơ bản trong thí nghiệm
Bảng 2. Diễn biến nhiệt độ, DO và pH trong thí nghiệm


±
44,619,6
10,033,6

±
51,623,6
11,037,6

±
82,761,7 →
85,772,7 →
5‰
7,264,25
57,005,26

±
6,288,26
68,068,27

±
58,618,6
17,038,6

±
56,621,6
15,036,6

±
83,769,7 →

16,038,6

±
51,621,6
12,037,6

±
86,767,7 →
82,775,7 →
Nhiệt độ nước dao động từ 25,2 – 28,5
o
C, DO trong khoảng từ 6,19 – 6,58mg/l, pH từ 7,61 - 7,86.
Nhìn chung, các thông số môi trường đều nằm trong khoảng phù hợp cho sản xuất giống thủy sản nước lợ
và đảm bảo đồng nhất giữa các công thức thí nghiệm.
2.2. Tỷ lệ sống của ấu trùng đến giai đoạn Metachophora
Sau 3 ngày ương, tất cả ấu trùng đã phát triển đến giai đoạn Metachophora, Phần đầu có 2
đôi mấu lồi cảm giác, có 2 mắt. Cơ thể có 3 đôi chi bên, trên mỗi chi có các tia và lông tơ, chi
bên giúp cho ấu trùng bơi lội tự do và có định hướng. Đuôi có thuỳ.
Hình 5. Ấu trùng trung gian (35 giờ)(phải)và ấu trùng Metachophora (trái)
Các công thức thí nghiệm đã thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (mức α= 0,05) về tỷ lệ
sống sau quá trình ương nuôi. Kết quả thí nghiệm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.Tỷ lệ sống của ấu trùng 3 tia trong các độ mặn khác nhau
Độ mặn
Đợt TN
0‰ 5‰ 10‰ 15‰
MaxMin
SdTB

±
MaxMin

±
c
TLS đợt 2
00
00,000,0

±
a
78,4569,43
06,185,44

±
b
16,6795,64
11,198,65

±
c
78,6764,66
42,040,67

±
c
TLS
trung bình
00
00,000,0

±
a

sức sinh sản tuyệt đối của rươi vào tháng 9 đạt 46207, tháng 5 đạt 41589 trứng/cá thể, tỷ lệ nở ra
ấu trùng trochophora đạt 65,75%.
2. Sự phát triển của phôi diễn ra bình thường tại độ mặn 15‰. Giai đoạn 2 tế bào diễn ra
sau thụ tinh 2-2,5 giờ, giai đoạn 4 tế bào sau 3-4giờ, giai đoạn 8 tế bào sau 5-6h, giai đoạn phôi
vị sau 10-17h, sau 17-30h phôi phát triển sang giai đoạn ấu trùng Trochophora.
3. Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của ấu trùng rươi. Trong nước ngọt ấu
trùng rươi bị chết hoàn toàn. Độ mặn thuận lợi cho ấu trùng rươi phát triển là 10‰ - 15‰ (63,3
– 66,7%). Độ mặn 5‰ cho tỷ lệ sống của ấu trùng rươi thấp hơn (45,34%).
Đề xuất ý kiến
1. Tiếp tục nghiên cứu về các đặc điểm sinh học phát triển ở các giai đoạn khác trong
vòng đời của rươi.
2. Cần nghiên cứu các vấn đề khác như thức ăn, nhiệt độ,… để tiến đến hình thành quy
trình sản xuất giống rươi nhân tạo. Trong đó độ mặn ương nuôi ấu trùng nên chọn từ 10 -15‰.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Trần Bái (Tái bản 2007),Động vật học không xương sống (Giáo trình dùng cho trường đại
học sư phạm), NXB giáo dục
2. Phan Hồng Dũng (2007), Nguồn lợi Rươi biển, bản tin khoa học công nghệ,
http://www.rimf.org.vn/bantin/tapchi.
3. Lưu thị Dung-Phạm Quốc Hùng (2005), Mô phôi học thuỷ sản.NXB nông nghiệp
4. Lê Quý Đôn (1773), Vân đài loại ngữ, theo Nguyễn Văn Khang (1991), Rươi và nguồn lợi. Báo
khoa học và đời sống, số 48.
5. Nguyễn Quang Chương (2008), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của Rươi ở một số
tỉnh Miền Bắc Việt Nam, Báo cáo khoa học, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
6. Nguyễn Đức Hội (1997) Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản, Viện nghiên cứu
nuôi trồng thủy sản I
7. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên (1980), Đinh loại động vật không xương
sống nước ngọt bắc Việt Nam, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
8. Pham Dinh Trong (2006) About some biological characteristics and the spawning seaon of
Tylorrhunchus (Quatrefaget) in the northern coast Viet Nam, Hai Phong Sud-Institute of
Oceanography Marine Resourcse & Environment-Vol.6, http://www.marinespecis.org/aphia.php?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status