Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến tác dụng sinh học của vị thuốc đại hoàng - Pdf 30

Bộ Y tê
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

CŨI

NGUYỄN PHƯƠNG ANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÊ BIẾN ĐẾN t á c d ụ n g
SINH HỌC CỦA VỊ THUỐC ĐẠI HOÀNG
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHÓA 1999 - 2004)
- Người hướng dẫn: TS. Phùng Hòa Bình
TS. Vũ Thị Trâm
- Nơi thực hiện: Bộ môn Dược học cổ truyền
Bộ môn dược lý
Trường ĐH Dược Hà Nội
- Thời gian thực hiện: Tháng 02 - 5/2004
HÀ NỘI, THÁNG 5 - 2004
LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 3 tháng thực hiện, được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các
bạn, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tà i" Nghiên cứu ảnh hưởng
của phương pháp chế biến đến tác dụng sinh học của vị thuốc Đại hoàng".
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- TS. Phùng Hoà Bình
- TS. Vũ Thị Trâm
Đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
- Các thầy cô giáo trong 2 bộ môn Dược học cổ truyền và bộ môn Dược
lý đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm.
Sinh viên
Nguyễn Phương Anh
MỤC LỤC
Trang

CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
DL Dược liệu
MNC Mẫu nghiên cứu
ĐHS Đại hoàng sống
ĐHV Đại hoàng sấy ở nhiệt độ 140°c trong 20 phút
ĐHC Đại hoàng sấy ở nhiệt độ 220°c trong 10 phút
ĐHSV Đại hoàng sao vàng
ĐHSC Đại hoàng sao cháy
SKLM Sắc ký lớp mỏng
ĐẶT VẤN ĐỂ
Chế biến cổ truyền ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền
dược học cổ truyền. Ban đầu dược liệu được chế rất đơn giản chủ yếu để bảo
quản. Về sau, dựa theo các học thuyết đông y ( ngũ hành, tạng tượng, ), các
phương pháp chế biến dần hoàn thiện và đa dạng hơn.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng của
chế biến đến vị thuốc đã cho thấy: chế biến làm biến đổi thành phần hoá học
qua đó tác dụng của vị thuốc có thể thay đổi. Chế biến có vai trò rất quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả chữa bệnh và độ an toàn của dược liệu.
Song việc chế biến phần lớn phụ thuộc vào kinh nghiệm, gây khó khăn cho
việc sử dụng, đặc biệt khi đưa dược liệu vào bào chế công nghiệp. Điều đó đòi
hỏi phải có nhiều nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của chế biến đến dược
liệu, trên cơ sở đó tiêu chuẩn hoá các phương pháp chế biến.
Chính vì vậy, đề tài ’’Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chê
biến đến tác dụng sinh học của vị thuốc Đại hoàng” được tiến hành với các
mục tiêu sau:
- Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến thành phần Anthranoid trong Đại
hoàng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ biến đổi tác dụng sinh học của Đại
hoàng.
Kết quả của thực nghiệm là cơ sở để bước đầu xây dựng tiêu chuẩn về

dược liệu sống. Dùng cho dược liệu có cấu tạo mỏng manh hoặc chứa dược
chất dễ bị phân huỷ bởi nhiệt độ.
+ Sao vàng (hoàng sao): t° sao 100°c - 140°c, có sao riêng hoặc trích. Sản
phẩm bề mặt ngoài màu vàng hoặc vàng đậm, bên trong có màu thuốc sống,
có mùi thơm, tăng tác dụng qui tỳ, giảm tính lạnh của vị thuốc.
+ Sao vàng hạ thổ: Sao vàng, đổ thuốc xuống hố đất nhằm cân bằng âm
dương cho vị thuốc. Thực chất đây là phương pháp hạ nhiệt nhanh, tránh sự
ảnh hưởng tiếp theo của nhiệt độ.
+ Sao vàng xém cạnh: t° sao 170°c - 200°c, vị thuốc có bề mặt ngoài màu
vàng, rìa cạnh đen.
+ Sao đen (hắc sao): t° sao khoảng 200°c, bề mặt ngoài sản phẩm màu
đen, bên trong màu vàng, mùi thơm cháy, tăng tác dụng tiêu thực, giảm tính
mãnh liệt của vị thuốc.
+ Sao cháy (thán sao): t° sao 200°c - 240°c, bề mặt ngoài sản phẩm có
màu đen, bên trong có màu nâu đen, mùi thơm cháy, làm tăng tác dụng cầm
máu của vị thuốc.
* Sao cố phụ liệu (sao gián tiếp) là phương pháp sao mà vị thuốc được
truyền nhiệt qua phụ liệu trung gian: như sao cách cám, sao cách cát, sao cách
bột hoạt thạch
Ngoài ra, còn một số phương pháp hoả chế khác mà trong khoá luận này
chúng tôi không có điều kiện đề cập sâu như sấy, nung, chế sương, lùi, hoả
phi, nướng.
1.1.2 - Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thành phần hóa học của vị thuốc:
Nhiệt độ tác động đến thành phần hóa học của vị thuốc có thể làm tăng
khả năng giải phóng hoạt chất, phân hủy hoạt chất làm mất tác dụng và
chuyển hóa hoạt chất sang dạng khác.
3
Sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến thành phần hóa học của vị thuốc có thể
chia thành nhiều mức độ.
* Sự biến đổi về thành phần hóa học:

Mạch môn sao cách cát hàm lượng Saponin giảm còn 0,93%, so với mẫu
sống 3,01%. [14]
Hàm lượng berberin, palmatin giảm khoảng 45-95% so với mẫu sống[13]
Như vậy nhiệt độ ảnh hưởng đến thành phần hoá học của vị thuốc, nhiệt
độ càng cao, thời gian tác động càng lâu, thành phần hoá học và hàm lượng
càng thay đổi. Sự thay đổi thành phần hóa học có thể dẫn đến sự biến đổi tác
dụng sinh học của vị thuốc.
1.1.3 - Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tác dụng sinh học của vị thuốc.
- Ở t° < 140°c, thành phần hóa học ít thay đổi nên không có sự thay đổi
về tác dụng sinh học, dược liệu được dùng với tác dụng nguyên thủy của nó.
Thử tác dụng chống ho trên chuột nhắt trắng được gây ho bằng NH3, giữa
hai mẫu đào nhân bỏ vỏ sao nhỏ lửa đến vàng và đào nhân sống cho kết quả
không khác nhau. [16]
- Ở t° > 140°c, tác dụng sinh học của vị thuốc thay đổi đáng kể.
Thử tác dụng lợi mật của Hoàng liên ở các mẫu sống, sấy ở 140°c,
160°c, 200°c, 220° C/30' cho thấy mẫu sống có tác dụng lợi mật cao hơn các
mẫu sấy, tác dụng giảm rõ rệt khi sấy ở 200°c, 220°C/30'. [13]
5
Hạt và dầu Ba đậu sống là thuốc độc bảng A, chế Ba đậu bằng cách ép bỏ
dầu, bã còn lại đem sao vàng (Ba đậu sương), hoặc sao đen (Hắc ba đậu) thì
độc tính và tác dụng tả hạ cũng giảm. [15]
1.2 - VỊ THUỐC ĐẠI HOÀNG
Vị thuốc Đại hoàng là rễ (Radix Rhei) hoặc thân rễ (Rhizoma Rhei) của
nhiều loài Đại hoàng : Chưởng diệp Đại hoàng (R. palmatum L.), Đường cổ
đặc Đại hoàng (R. tangutcum Maxim.ex Balf.), Dược dụng Đại hoàng
(R.officinale Baill.), họ rau răm (Polygonaceae).[2 ] [ 8 ]
Hai loài R. palmatum và R.officinale được sử dụng nhiều nhất và qui
định trong DĐVNIII, DĐ Trung Quốc.
1.2.1- Thành phần hoá học. [2, 8, 24]
Thành phần hoạt chất chính trong Đại hoàng là các Anthranoid tồn tại

như Senidin A, B là dimer dianthron của rhein. Các heterodianthron có Rhein
A, B, C; Palmidin A, B, C: Senidin c.
Các Heterodianthron
Các monomer
Palmidin A
Emodin
Aloe-emodin
Palmidin B
Aloe-emodin
Chrysophanol
Palmidin c
Chrysophanol Emodin
Rhein A
Rhein
Physcion
Sennidin c
Aloe-emodin
Rhein
Anthraquinon là dạng oxy hoá của anthranoid trong Đại hoàng.
Anthranon và anthranol là dạng khử. Sự chuyển dạng được thể hiện qua sơ đồ
dưới đây:
Athraquinon Anthron Anthranol Dihydroanthranol
Dạng anthranon và anthranol dễ bị ôxy hoá thành anthraquinon. Hai dạng
khử này chỉ tồn tại trong dược liệu tươi vào mùa đông.
Các anthraquinon trong Đại hoàng có màu từ vàng, vàng cam đến đỏ
gạch. Dễ thăng hoa, nên có thể lợi dụng tính chất này để định tính bằng phản
ứng vi thăng hoa trên lam kính, soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tinh thể hình
kim màu vàng. Các anthraquinon không tan trong nước, tan trong các dung
môi hữu cơ (ether ethylic, ether dầu hoả, benzen, acid acetic băng ), tan trong
dung dịch kiềm (khả năng hoà tan phụ thuộc vào vị trí nhóm - OH ở vị trí a

8
- Tác dụng lợi niệu, tăng bài tiết Na+, K+ gây kiềm hoá nước tiểu.
Thử nghiệm trên thỏ cho thấy Emodin, rhein và aloe-emodin có tác
dụng ức chế cạnh tranh với Na+/ K+ - ATPase màng tê bào của tuỷ thận thỏ.
Emodin làm tăng thể tích nước tiểu lên 5,9 lần, tăng thải trừ Na+ lên 4,4 lần và
K+ lên 3 lần so với lô chứng.
Khi uống hoặc thụt theo đường trực tràng, Đại hoàng làm giảm nồng độ
urê huyết ở bệnh nhân bị suy thận mãn tính. Các nghiên cứu lâm sàng cho
thấy thuốc làm chậm sự phát triển của tình trạng suy thận và giảm các triệu
chứng như buồn nôn và chán ăn. [27]
- Dạng glucosid có tác dụng ức chế hoạt lực của tyrosinase và quá trình
sinh tổng hợp melanin [21]. Emodin, được phân lập từ loài R. cuspidatum,
được cho là có tác dụng trên. [25]
- Cao dược liệu có thể ức chế việc sản xuất Interferon (INF) và
Interleukin - 1 của đại thực bào. Sử dụng nghiệm pháp Placebo cho thấy chuột
cống trắng bị viêm thận dị ứng, dùng Đại hoàng có tỷ lệ sống sót cao hơn so
với lô chuột dùng thuốc giả. [2 1 ]
- Tác dụng ức chế ung thư: Rhein có tác dụng ức chế ung thư màng bụng.
Emodin ức chế ung thư vú ở chuột với liều 75 mg/kg thể trọng [1]. Emodin ức
chế mạnh hô hấp ở màng, quá trình oxy hoá khử của một số acid am in và chất
chuyển hoá trung gian của glucose ở tế bào ung thư của tổ chức liên kết.
- Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Đại hoàng có tác dụng ức chế tụ cầu,
liên cầu khuẩn tan máu, trực khuẩn lỵ, thương hàn, phó thương hàn, bacillus
subtilis, Clostridium perfringens, fusobacterium và bacteriodes fragilis. Tác
dụng này có được là do Đại hoàng ức chế sự hô hấp ở ty thể. Rhein, emodin và
aloe-emodin ức chế men NADP dehydrogenase.
Đại hoàng được dùng trong trường hợp viêm túi mật do vi khuẩn kỵ khí
gây ra, đặc biệt có kèm theo táo bón. [27]
9
Có khả năng ức chế Helicobacter pylori (4 chất có tác dụng là Emođin,

+ Chỉ huyết: Đại hoàng sao cháy dùng cho trường hợp bị trĩ do thuốc
vừa có tác dụng tẩy và cầm máu,
1.2.4 - Công dụng.
♦> Theo Đông y:
Đại hoàng được dùng nhiều trong các bài thuốc chữa táo bón. Với tác
dụng lợi tiêu hoá dùng liều dưới lg/ngày, làm thuốc tẩy dùng 1 - lOg/ngày.
Một số bài thuốc chứa Đại hoàng: [5, 11]
* Bài Đại thừa khí thang
Đại hoàng 12g Mang tiêu 16g Hậu phác 12g Chỉ thực 12g
Đại hoàng chế với rượu. Bài thuốc được sắc uống nóng.
Dùng trong chứng Dương minh phủ, đại tiện táo kết, bụng đầy chướng
đau, sốt cao mê sảng, rêu lưỡi vàng dày khô. Chứng nhiệt kết bàng lưu, đi
ngoài nước trong thối. Bệnh viêm túi mật, viêm ruột thừa có kèm táo bón.
Bài Đại thừa khí thang bỏ mang tiêu thành Tiểu thừa khí thang dùng khi
bệnh còn nhẹ. Bỏ chỉ thực, hậu phác, thêm cam thảo thành Điều vị thừa khí
thang cho tác dụng hoà hoãn hơn.
* Bài Đại hoàng phụ tử thang
Đại hoàng 12g Phụ tử chế 16g Tế tân 8 g
Dùng chữa táo bón do hàn thực.
* Bài Tang dịch thừa khí thang
Huyền sâm 40g Mạch môn 32g Sinh địa 32g
Đại hoàng 12g Mang tiêu 6 g
Dùng khi nhiễm khuẩn sốt cao gây táo bón mất nước.
* Bài Đại hoàng mẫu đơn bì thang
Đại hoàng Đông qua nhân Đào nhân
Mẫu đơn bì Mang tiêu
11
Trị chứng ung nhọt trong ruột, đại tiện táo bón.
* Bài Đại hoàng phác tiêu thang
Đại hoàng (chưng) Phác tiêu Cam thảo

- Dùng lâu, thuốc gây táo bón do sự tích luỹ tanin. Vì thế Đại hoàng
không được dùng điều trị táo bón mãn tính.
- Acid chrysophanic không có hoạt tính, thải trừ qua thận, có vai trò như
một chất chỉ thị màu trong nước tiểu. Màu vàng nếu nước tiểu acid, màu đỏ
nếu nước tiểu kiềm. [3]
- Có sự thay đổi màu sắc của niêm mạc ruột ở bệnh nhân sử dụng thuốc
nhuận tẩy anthranoid trong một thời gian dài. Màu niêm mạc sẽ trở lại bình
thường trong vòng 4-12 tháng sau khi ngừng thuốc. [2 0 , 2 1 ]
- Do tác dụng gây xung huyết đối với các mạch máu trĩ, không nên dùng
cho người bị trĩ.
- Lạm dụng thuốc nhuận tẩy loại kích thích có thể dẫn đến chứng liệt
ruột, tăng aldosteron, mắc chứng phân nhiễm mỡ, thay đổi giải phẫu của ruột
và chứng nhuyễn xương.
- Tinh thể canxi oxalat có nhiều trong dược liệu có thể gây ra bệnh đái ra
oxalat ở người bị sỏi thận oxalic và u nang. [8 ]
- Có tác dụng cả lên cơ trơn của bàng quang và tử cung, do đó phụ nữ có
thai hoặc người bị viêm bàng quang không nên dùng. Bài tiết qua sữa mẹ một
phần nên hạn chế dùng ở phụ nữ đang cho con bú vì thuốc có thể gây tiêu
chảy ở trẻ. [2 ]
* Chống chỉ định:
Theo đông y, Đại hoàng không nên dùng trong các trường hợp sau: [5]
- Người già dương hư, suy yếu.
- Người mất máu, thiếu máu.
- Phụ nữ đang có kinh nguyệt, có thai.
13
Việc dùng thuốc nhuận tẩy có chứa dẫn chất Anthranoid cần có sự
chỉ định của bác sĩ, đặc biệt khi dùng trong thời gian dài. Không dùng cho trẻ
dưới 10 tuổi. Thuốc không nên dùng trong một số trường hợp sau: dính ruột,
hẹp môn vị, mắc chứng khó nuốt, loét niêm mạc ruột, viêm ruột thừa, hội
chứng kích thích hậu môn và đang trong tình trạng mất nước và điện giải

Đại hoàng bột 10kg
Mật ong 20kg
Sau khi được dạng hồ, đem đồ 2 giờ cho chín đều, tạo thành thỏi, phơi tới
khô chừng 70%, đem ủ 10 ngày tới khi trong ngoài mềm đều, cắt thành phiến
dầy 5 - 6 mm. Phơi âm can.
15
PHẨN 2
THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
2.1 - NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THựC NGHIỆM.
2.1.1 - Nguyên vật liệu.
2.1.1.1 - Nguyên liệu:
- Dược liệu Đại hoàng mua tại Công ty Dược liệu Trung ương I.
2.1.1.2 - Hóa chất, dung môi (đạt tiêu chuẩn phân tích):
- Hóa chất: H2 S04, NaOH, NaHC03, FeCl3, MgS04, Magie acetat, dung
dịch NH3, NaCl 0,9 %.
- Dung môi: Ether ethylic, methanol, toluen, ethyl acetat, acid formic
2.1.1.3 - Súc vật thí nghiệm:
+ Chuột nhắt trắng, chủng Swiss, trọng lượng 18-23 gam, mua tại Học
viện Quân y.
+ Thỏ khỏe mạnh, trọng lượng 1,8 - 2 kg mua tại viện Vệ sinh dịch tễ
Trung ương.
2.1.1.4 - Phương tiện:
- Cân phân tích Sartorius (Đức).
- Máy xác định độ ẩm Precisa HA60.
- Tủ sấy Shellab, Memmert.
- Máy đo quang Lambda Ez 210.
- Bể nuôi cơ quan cô lập Ugo basile.
- Các dụng cụ thuỷ tinh: bộ sinh hàn hồi lưu, bình gạn và một số dụng
cụ khác.
- Các dụng cụ mổ súc vật thí nghiệm.

m - Khối lượng dược liệu (gam).
h - Độ ẩm của dược liệu .
Yêu cầu dược liệu phải chứa ít nhất 2,2% hàm lượng hydroanthracen
tính theo rhein.
2.1.2.3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến tác dụng
sinh học của Đại hoàng.
❖ Thử tác dụng nhuận tràng, theo hai mô hình:
- Exvivo (trên cơ quan cô lập): Thử tác dụng làm tăng nhu động ruột trên
ruột thỏ cô lập.
- Invivo: Thử tác dụng kéo và giữ nước, so sánh với MgS04 trên chuột
nhắt trắng.
* Thử Exvivo:
- Nguyên tắc: Dựa trên sự đáp ứng của ruột thỏ cô lập với thuốc thử. Ghi
hoạt động của ruột trong dịch nuôi ruột, quan sát sự thay đổi hoạt động của
ruột trong điều kiện dịch nuôi ruột có và không có thuốc thử.
Thí nghiệm được thực hiện trên máy ghi 1 kênh Ugo-basile.
Ruột thỏ được cô lập từ thỏ sống và nuôi trong Ty rode ruột.
Ruột thỏ lấy khoảng 1-1,5 cm, được sử dụng không quá 8 giờ kể từ khi
cô lập. Thử với 6 mẫu ruột thỏ.
* Thử In vi vo:
- Nguyên tắc: Dựa trên sự tăng khối lượng ruột của chuột nhắt trắng sau
khi uống thuốc một thời gian. So sánh khối lượng ruột giữa các lô dùng thuốc
thử với lô chứng (uống nước NaCl 0,9%) và lô đối chiếu dùng MgS04 30% .
Đồng thời so sánh khối lượng ruột giữa các lô thử khác nhau.
Hàm lượng % dẫn chất hydroanthracen(C%) tính theo Rhein bằng công
18
Chuột nhắt trắng khoẻ mạnh, trọng lượng 20 - 23 gam, để đói từ 10 - 20
giờ, được chia đều thành các lô không phân biệt đực cái, được uống với liều
0,5 ml / chuột.
Lô trắng: uống NaCl 0,9%.

các mức nhiệt độ và thời gian.
- Dược liệu được sao theo phương pháp cổ truyền ở hai mức sao vàng, sao
cháy.
* Nhận xét: sau khi sấy Đại hoàng ở các mức nhiệt độ và thời gian khác
nhau như đã mô tả ở trên, màu sắc của vị dược liệu thay đổi. So sánh màu sắc
dược liệu được sao với màu của các mẫu dược liệu sấy, chúng tôi thấy:
- Mức nhiệt độ sấy 140°C/20', 30' cho màu tương đương với màu dược
liệu sao vàng.
- Mức nhiệt độ sấy 200°C/20', 30' và 220°c/10' cho màu từ nâu đen đến
đen, tương đương với màu dược liệu sao cháy.
2.2.2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến
thành phần Anthranoid trong vị thuốc Đại hoàng.
2.2.2. 1 - Định tính.
Các MNC gồm dạng sống ĐHS, dạng sao vàng ĐHV, dạng sao cháy
ĐHC và các mẫu sấy ở nhiệt độ và thời gian 140°c/10',20',30', 200°C/20',30',
220°c/10'
* Phản ứng Bortraeger:
Lấy khoảng 0,05 - 0,2g DL các MNC cho vào ống nghiệm dung tích
10ml, thêm 5mml dung dịch H2 S04, đun sôi đều, lọc qua giấy lọc vào binh
gạn. Lắc dịch chiết với Ether ethylic, gạn lớp Ether.
Lấy lml dịch chiết, thêm vào lml NaOH 10%. Phản ứng dương tính khi
dung dịch xuất hiện màu đỏ sim.
* Phản ứng Bortraeger xác định sự có mặt của Acid chrysophanol:
Lấy lml dịch chiết ether ethylic, thêm vào lml dung dịch NH3, lớp nước
có màu đỏ sim.
20
Gạn bỏ lớp kiềm màu đỏ, thêm dung dịch NaOH vào, lớp ether nhạt màu,
lớp kiềm đậm màu lên thì dược liệu có chứa Acid chrysophanic.
Kết quả: các MNC đều cho kết quả (+) với phản ứng Bortraeger và có
mặt Acid chrysophanic.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status