TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
TÊN ĐỀ TÀI :
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÔNG NGHỆ CAO
Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Đỗ Đức Bình
Họ và tên sinh viên : Phạm Ngọc Tú
Mã sinh viên : CQ528816
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
Hệ : Chính quy
Thời gian thực hiện : 18/01/2014- 30/05/2014
Hà Nội, 04-2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề thực tập này hoàn thành là do sự giúp đỡ,chỉ bảo
tận tình của GS.TS Đỗ Đức Bình và chính bản thân em nghiên cứu thu thập,số liệu,tài
liệu một các nghiêm túc,tuyệt đối không sao chép bất cứ chuyên đề,đề án,luận văn
nào khác.
Nếu có gì sai sót với lời cam đoan này em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội,ngày 30 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Phạm Ngọc Tú
8 HHTP Hòa Lạc Hitech Park Khu công nghệ cao Hòa Lạc
9 MMES MicroElectroMechanicalSystem Hệ vi cơ điện tử
10 R&D Reasearch and Developement Nghiên cứu và phát triển
11 RFID Radio Frequency
Indentification
Thiết bị đọc thẻ
12 SHTP Sai gon Hitech Park Khu công nghệ cao Sài Gòn
13 SHTT Sở hữu trí tuệ DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1-Thu hút FDI vào công nghệ cao theo lĩnh vực đầu tư năm 2012 24
4
Biểu đồ 1.2-Giá trị xuất khẩu của SHTP từ năm 2008-2012 29
Biểu đồ 1.3-Tỉ trọng khu vực vốn FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội và GDP cả
nước giai đoạn 2001-2012 32
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
8
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM GIAI ĐỌAN
2007-2014
10
1.1 Đặc điểm của FDI và công nghệ cao và sự cần thiết phải thu hút
vốn FDI vào công nghệ cao ở Việt Nam
10
1.1.1. Đặc điểm của FDI vào công nghệ cao
10
2.1 Định hướng phát triển công nghệ cao và thu hút FDI vào công
nghệ cao ở Việt Nam đến năm 2020
38
2.1.1 Định hướng chung thu hút FDI tới năm 2020
38
2.1.2 Định hướng thu hút FDI vào các khu công nghệ cao tới năm 2020
39
2.1.3 Các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến năm 2020
41
2.2 Giải pháp tăng cường thu hút FDI vào công nghệ cao
ở Việt Nam đến năm 2020
45
2.2.1 Các giải pháp chung
45
2.2.2 Các giải pháp cụ thể
46
2.3 Một số kiến nghị
51
2.3.1 Các kiến nghị chung về chính sách thu hút và ưu đãi dành cho công
nghệ cao
51
2.3.2 Các kiến nghị cụ thể trên từng lĩnh vực
54
KẾT LUẬN
61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
6
PHỤ LỤC
tạo điều kiện thuận lới cho các dự án FDI công nghệ cao nhanh chóng vào Việt nam.
Vì vậy,đề tài: ‘Đầu tư trực tiép nước ngoài vào công nghệ cao ở Viêt Nam’
được chọn để nghiên cứu.
8
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng FDI vào công nghệ cao của Việt
Nam ,đề án đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư FDI vào công nghệ cao
tạo gia giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghệ cao ở Việt Nam
3.2 Phạm vi : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghệ cao từ 2007-2013 và
định hướng đến năm 2020
4.Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp: phân tích,so sánh và tổng hợp
Nguồn tài liệu được thu thập từ Bộ Khoa học và công nghệ,Bộ Kế hoạch và Đầu
tư và một số nguồn tài liệu khác
5.Kết cấu của đề tài
Ngoài Lời mở đầu,Kết luận,Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, chuyên đề
được trình bày trong 2 chương:
Chương 1 :Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghệ cao ở Việt
Nam giai đoạn 2007-2014
Chương 2: Định hướng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào công nghệ cao ở Việt Nam đến năm 2020
CHƯƠNG 1:
9
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
- Dây chuyền công nghệ đạt trình độ tiên tiến, sản phẩm xuất khẩu được, hoặc
sản phẩm tiêu thụ trong nước phải có chất lượng tương đương sản phẩm nhập khẩu
cùng loại. Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm của Doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
ISO 9000.
- Giá trị trang thiết bị công nghệ tính bình quân cho một đầu người là 40.000
USD trở lên. Đối với các dự án chuyên sản xuất các phần mềm máy tính được coi như
đạt tiêu chuẩn quy định tại mục này.
- Tỷ lệ giá trị các linh kiện, bộ phận có kỹ thuật cao do bản thân dự án sản xuất (Tỷ
lệ nội địa hóa) phải đạt ít nhất là 2% doanh thu hàng năm hoặc tổng giá trị các linh kiện,
bộ phận có kỹ thuật cao do đó dự án sản xuất và do các doanh nghiệp công nghiệp khác
tại Việt Nam sản xuất phải đạt ít nhất là 15% doanh thu hàng năm của dự án.
- Số lao động trong dự án :
* Có ít nhất 40% tổng số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên của dự án
được thực tập nghiệp vụ ở nước ngoài (tại các cơ sở R&D và/hoặc tại các cơ sở sản
xuất hiện đại).
* 100% cán bộ trung cấp và công nhân phải được dự án đào tạo nghiệp vụ hoặc tay
nghề, trong đó ít nhất 5% được đào tạo trên dây chuyền sản xuất hiện đại ở nước ngoài.
- Chi phí cho công tác nghiên cứu – triển khai, đào tạo, huấn luyện chiếm tỷ lệ
không dưới 2% doanh thu hàng năm.Nếu hoạt động nghiên cứu – triển khai, đào tạo,
huấn luyện được thực hiện miễn phí (hoặc một phần miễn phí) thì giá trị miễn phí
cũng được tính.
* Đối với các dự án có doanh thu lớn, hàng năm từ 10.000.000 USD trở lên thì tổng
chi phí nghiên cứu – triển khai, đào tạo, huấn luyện hàng năm ít nhất là 200.000 USD.
* Nếu dự án có hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được Bộ chuyên ngành phê
duyệt thì dự án được xem như đạt tiêu chuẩn quy định tại điểm này.
- Doanh thu hàng năm tính theo đầu người phải đạt tương đương 70.000 USD trở
lên. Đối với các dự án có vôn pháp định trên 30.000.000 USD và với số lao động trên
1.000 người không phải tính chỉ tiêu này.
- Đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường theo quy định của nhà nước Việt Nam
1.1.1.3 Đặc điểm của FDI vào công nghệ cao:
nghệ trung bình của thế giới, 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc
hậu. Không ít trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp, yếu
12
kém trong quản lý nhà nước để nhập khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bị lạc hậu gây
ô nhiễm môi trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị chuyển giao công nghệ.
“Công nghệ thấp dẫn đến các DN tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công, một
số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ cao
lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra gia trị gia
tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu”.
Việt Nam là một nước đông dân với dân số trẻ,nhu cầu về các sản phẩm thiết bị
công nghệ cao là rất lớn,tăng mạnh qua từng năm.
Việc phát triển công nghệ cao giúp Việt Nam đẩy nhanh tiến trình công nghiệp
hóa,hiện đại hóa,ngoài ra công nghệ cao cũng kích thích,kéo theo các ngành công
nghiệp khác phát triển (như một nhà máy sản xuất điện thoại di động của Samsung ở
Bắc Ninh đã kéo theo hàng trăm nhà máy vệ tinh sản xuất linh kiện phục vụ nhu cầu
đầu vào của Samsung)
Việc thu hút được nhiều công nghệ mới, tiên tiến, Việt Nam đã sản xuất ra được
nhiều sản phẩm mới mà trước đây trong nước chưa có. Việc chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài thông qua FDI hạn chế đến mức tối đa việc nhập khẩu nhiều loại hàng hóa
thuộc các lĩnh vực: dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng mới, hàng điện tử gia dụng,
phương tiện giao thông… Các doanh nghiệp FDI tạo ra được nhiều sản phẩm có chất
lượng cao, với hình thức, mẫu mã đẹp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong
nước và xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài như các sản phẩm điện tử, cơ khí, chế
tạo… Nhiều doanh nghiệp FDI tổ chức sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công
nghệ cao, xuất khẩu gần 100% sản phẩm ra thị trường nước ngoài thuộc các lĩnh vực
điện tử, quang cơ - điện tử, như Công ty TNHH Nidec Tosok, Muto, Nissei… Có
doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực R&D như Công ty TNHH Renesas Việt Nam với
mục tiêu nghiên cứu, phát triển và thiết kế các phần cứng (vi mạch) và các phần mềm
chức năng cho IC bán dẫn (mạch tích hợp)… Mặt khác, nhiều doanh nghiệp trong
nước, do sức ép của thị trường cạnh tranh ngày càng cao được tạo ra bởi các sản phẩm
nghiệp chế xuất (với thuế suất thu nhập doanh nghiệp là 20% trong vòng 15 năm, trong đó
có 2 năm đầu được miễn thuế và 4 năm tiếp theo được giảm 50% (còn 10%)…;.Ngoài ra
những dự án FDI lớn có vốn đầu tư trên 100 triệu USD có thể được chính quyền địa
phương hỗ trợ tới 50% tiền thuê hạ tầng cho diện tích đất sử dụng.
Chính phủ đã quy định rất rõ vai trò của Bộ Khoa học và Công nghệ và các
Bộ, ngành khác trong việc cấp giấy chứng nhận công nghệ cao cho các DN. Bộ Kế
14
hoạch và Đầu tư là Bộ đầu mối chủ trì việc thu hút đầu tư nước ngoài và họ cũng thấy
phải khuyến khích các DN FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao. Do đó, đã có sự
phối hợp rất chặt chẽ để giúp các DN thấy được ưu đãi của Việt Nam trong thu hút đầu
tư ở lĩnh vực này.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập văn phòng cấp giấy chứng nhận công
nghệ cao năm 2011 và chúng tôi đã phối hợp với các hiệp hội DN, các khu công
nghiệp để tuyên truyền tới các DN FDI tại Việt Nam. Hiện nay quá trình để cấp giấy
đầu tư hết sức thuận lợi cho các DN FDI nhưng cũng rất thận trọng trong quá trình hậu
kiểm để tránh để Việt Nam trở thành bãi rác công nghiệp
Thực tế, ngay sau khi Luật Công nghệ cao có hiệu lực (1/7/2009), đã có không
ít ý kiến phản hồi về việc các tiêu chí công nghệ cao được xây dựng quá cao và chưa
phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam. Vấn đề không chỉ nằm ở danh mục các
sản phẩm công nghệ cao, mà còn ở quy định doanh nghiệp phải có tổng chi bình quân
cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) hàng năm phải đạt ít nhất 1% tổng
doanh thu; có số lao động có bằng đại học trở lên trực tiếp tham gia thực hiện R&D
phải đạt ít nhất 5% tổng số lao động của dự án.
Các quy định này được cho là quá cao, khiến ngay cả các tập đoàn hàng đầu
thế giới, như Samsung, Nokia… cũng khó với tới, đang cản trở Việt Nam thu hút đầu
tư vào CNC, mặc dù đây là lĩnh vực đang được khuyến khích đầu tư.
* Ví dụ điển hình là công ty Samsung Việt Nam (SEV)
Do đáp ứng tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao nên SEV đã hưởng mức thuế
suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo kể từ
khi có thu nhập chịu thuế.,được miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu linh kiện
khoảng 80% tổng lượng máy in laser mà Canon đang sản xuất mỗi năm và đáp ứng
khoảng 35% cho thị trường xuất khẩu. Canon hy vọng năm nay sẽ đạt doanh thu 1 tỷ
USD, sau khi đầu tư gần 300 triệu USD vào Việt Nam.
Nối tiếp các nhà đầu tư Nhật là các dự án đến từ Hoa Kỳ. Sự kiện tập đoàn bán
dẫn hàng đầu thế giới Intel (Mỹ) cho khởi công xây dựng nhà máy tại SHTP với số
vốn 1 tỷ USD đã phần nào khẳng định vị thế mới của Việt Nam như một điểm đến cho
các nhà đầu tư hoạt động công nghệ cao. Theo các chuyên gia, sự có mặt của Intel
được xem như là sự xác nhận tích cực đối với môi trường đầu tư, do đó, chỉ sau hai
tháng Intel cho khởi công nhà máy, tập đoàn điện tử hàng đầu Mỹ – Jabil - cũng nối
gót đầu tư vào SHTP với vốn lên đến 100 triệu USD.
16
Bên cạnh đó các nhà đầu tư Đài Loan (Trung Quốc) giờ đây xem Việt Nam như
là một điểm đến an toàn, có chi phí lao động thấp, với kế hoạch rót hàng tỷ USD để
sản xuất. Cụ thể, Foxconn – “đại gia” gia công các sản phẩm điện tử lớn nhất thế giới
như máy nghe nhạc Ipod, điện thoại di động Nokia, máy tính xách tay, máy ảnh
Sony… đã đầu tư dự án 5 tỷ USD ở Bắc Ninh và Bắc Giang. Dự án khi hoàn thành
toàn bộ sẽ tạo việc làm cho khoảng 50.000 lao động và có giá trị xuất khẩu 3,5 tỷ đôla
Mỹ mỗi năm. Kế hoạch đầu tư này của Foxconn nhằm phân tán rủi ro vì hiện tập đoàn
đã đầu tư một nguồn vốn rất lớn ở Trung Quốc.
Trong khi đó, Tập đoàn TECO cũng đã xúc tiến liên doanh với SaigonTel đầu
tư 1 tỷ đôla Mỹ xây dựng trung tâm phần mềm ở khu đô thị Thủ Thiêm. Trung tâm này sẽ
được đầu tư theo mô hình Trung tâm Phần mềm NanKang ở Đài Bắc, dự kiến thu hút
khoảng 100 công ty tin học, máy tính đang hoạt động tại trung tâm NanKang (Đài Bắc)
vào Việt Nam hoạt động. Các nhà đầu tư công nghệ cao hướng về Việt Nam có nhiều lý
do : chính sách cởi mở trong thu hút đầu tư và tận dụng thời cơ Việt Nam gia nhập WTO.
Yếu tố chi phí lao động thấp, hạ giá thành sản phẩm cũng là mối quan tâm lớn.
b/Phát triển cả trung tâm Nghiên cứu và Phát triển R&D
Không chỉ dừng lại ở việc sản xuất, một số “đại gia” còn hướng đến việc đưa
Việt Nam trở thành nơi nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Sau 2 nhà máy sản
xuất các sản phẩm điện tử công nghệ cao tại Hà Nội, Matsushita Electric – hãng sở
nhưng trong vòng 2 năm tới, khi đạt công suất tốt đa, có thể sản xuất 600.000 sản
phẩm/năm.
Trong khi đó, Trung tâm R&D được thiết kế để phục vụ cho cả các nhà máy
của Panasonic Appliances ở Thái Lan, Indonesia, Philippines. Như vậy, với việc đưa
Nhà máy Sản xuất máy giặt và Trung tâm R&D đi vào hoạt động, Panasonic đang hiện
thực hóa kế hoạch tăng cường đầu tư vào Việt Nam được họ công bố từ tháng 9/2011.
Bên cạnh đó công ty Panasonic Appliances Việt Nam đã được thành lập từ năm
2003 và hiện có nhà máy sản xuất tủ lạnh ở KCN Thăng Long. Nhà máy Sản xuất máy
giặt là nhà máy thứ hai của công ty này tại Việt Nam.
Trong quý II/2013, Hải Phòng có thể cấp chứng nhận đầu tư cho dự án nhà máy
sản xuất các sản phẩm máy giặt, máy điều hòa nhiệt độ, tivi và linh kiện điện tử dùng
cho ô tô của Tập đoàn LG (Hàn Quốc). Hiện nay, việc xem xét các cơ chế ưu đãi đầu
tư cho dự án này đang ở giai đoạn cuối.Nhà máy của LG dự kiến được xây dựng tại
18
Khu công nghiệp Tràng Duệ (Hải Phòng), với quy mô lớn, trong đó riêng giai đoạn I
vào khoảng 300 triệu USD
d/Công nghiệp sản xuất linh kiện điên tử và linh kiện cho cơ khí chính xác
Ở phía Bắc,Panasonic cũng đang chuẩn bị đưa nhà máy chuyên sản xuất bo
mạch đa lớp ALIVH (linh kiện dùng cho điện thoại thông minh và các thiết bị đầu
cuối đa chức năng khác), đặt tại KCN Thăng Long (Hà Nội), đi vào hoạt động.
Trong khi đó, vào ngày 19/3/2013, tức là chỉ trước khi nhà máy sản xuất máy
giặt đi vào hoạt động, Công ty Panasonic Eco Solution cũng đã được tỉnh Bình Dương
trao chứng nhận đầu tư để triển khai xây dựng nhà máy 38 triệu USD, chuyên sản xuất
các loại phích cắm điện, linh kiện điện tử… .trong tháng 4/2013, nhà máy này đã được
khởi công xây dựng và năm 2014 sẽ đi vào hoạt động và sản xuất hàng loạt.
Tại Thái Nguyên,công ty Bujeon cũng đã đầu tư 10 triệu usd xây nhà máy phụ
trợ cho Samsung.Đây sẽ là nhà máy sản xuất linh kiện điện tử cho điện thoại di động
và ti vi LCD đầu tiên tại Thái Nguyên và thứ 2 của Công ty Bujeon Electronics tại
Việt Nam (nhà máy thứ nhất đặt tại Bắc Ninh). Công suất thiết kế của nhà máy là 500
triệu sản phẩm/năm, nhà máy dự kiến sử dụng khoảng 15.000 lao động khi cả 3 xưởng
linh kiện điện tử sử dụng trong máy điện thoại, máy ảnh, máy vi tính…, với tổng vốn
đầu tư 320 triệu USD, tại Hải Phòng và Hưng Yên. Nhà máy ở Hải Phòng đã đi vào
hoạt động trong tháng 10/2012, trong khi đó, nhà máy ở Hưng Yên dự kiến sẽ
chính thức sản xuất từ tháng 8/2013.Ngòai ra vào tháng 2/2014, Công ty TNHH Si
Flex Việt Nam sẽ đầu tư khoảng 106 triệu USD trong 3 năm để sản xuất một số loại
linh kiện điện tử. Các sản phẩm của Công ty sẽ được bán cho các hãng điện tử như:
Samsung; LG; Nokia; Hitachi… Dự án sẽ được chia thành 2 giai đoạn, trong đó giai
đoạn đầu bắt đầu từ tháng 8/2014, bao gồm việc lắp đặt các dây chuyền sản xuất, dự
kiến sử dụng 1.000 lao động; giai đoạn 2 được triển khai từ quý 2/2016, là giai đoạn đi
vào sản xuất các linh kiện. Đến năm 2018, Công ty dự kiến sẽ sử dụng khoảng 10.000
lao động.
Ở phía Nam, là các dự án tăng vốn, tăng vốn nhiều nhất trong số này là dự án của
Công ty TNHH Sài Gòn STEC tại KCN Việt Nam –Singapore II-Bình Dương (VSIP
2) chuyên sản xuất bản mạch điện tử camera trong điện thoại di động để xuất khẩu, với
20
mức tăng 175 triệu usd Mỹ, nâng tổng vốn đầu tư của công ty hiện nay lên khoảng 340
triệu usd Mỹ.
Công ty TNHH Wonderful Sài Gòn Electrics (Nhật Bản) hoạt động trong KCN VSIP
chuyên sản xuất camera module dùng cho điện thoại di động, sản xuất các loại vi mạch
tích hợp dung lượng cao, các loại bo mạch điện tử (PCB) dùng cho thiết bị mạng thế
hệ sau cũng tăng thêm 150 triệu usd Mỹ, nâng tổng vốn đầu tư của công ty lên 240
triệu usd Mỹ.Công ty TNHH Nitto Denko Việt Nam tại KCN VSIP tăng gần gấp đôi
vốn đầu tư, nâng tổng vốn đầu tư của công ty lên 50 triệu USD Mỹ,hay On
Semiconductor, với nhà máy mở rộng, vốn đầu tư 75 triệu USD, ở KCN Biên Hòa 2
(Đồng Nai) để sản xuất mạch tích hợp lai (HIC) và các linh kiện bán dẫn rời dùng cho
xe hơi, thiết bị gia dụng cùng các ứng dụng công nghiệp khác.
Cũng trong năm 2013, ngày 29.3 TP HCM đã trao chứng nhận đầu tư cho dự án
tăng thêm 95 triệu USD của công ty Nidec Tosok Vietnam (thuộc tập đoàn Nidec
Corporation, Nhật) đang hoạt động tại khu chế xuất Tân Thuận.Nguồn đầu tư mới này
đã tăng tổng vốn đầu tư của tập đoàn Nidec vào Việt Nam lên xấp xỉ 900 triệu USD,
mô-đun năng lượng mặt trời phim mỏng, sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm 2012. Nhà
máy sử dụng công nghệ tiên tiến của First Solar với tổng công suất trên 250 MW và
quy mô sản xuất của nhà máy còn có thể được mở rộng trong tương lai. First Solar dự
kiến sẽ lắp đặt các mô-đun 3 MW trên nóc nhà máy. Dự kiến sau khi hoạt động sản
xuất kinh doanh ổn định, First Solar sẽ mở rộng quy mô nhà máy lên gấp 4 lần so với
giai đoạn 1, năng lực đầu tư có thể lên 1 - 1,2 tỉ USD. Sản lượng ban đầu của nhà máy
sẽ được xuất khẩu 100%, tuy nhiên, First Solar cũng sẵn sàng cung cấp sản phẩm cho
các dự án điện mặt trời tại VN.
Trong tháng 1 năm 2013 vào sáng ngày 07/01/2013, Công ty CP Đầu tư chuyển
giao Worldtech và Tập đoàn GLOBAL SPHERE-UAE đã tổ chức Lễ khởi công Dự án
Tổ hợp nhà máy Pin mặt trời với tổng vốn đầu tư 300 triệu USD tại KCN Phong Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế.Dự án Tổ hợp Nhà máy Pin Mặt trời do Công ty CP Đầu tư
chuyển giao Worldtech và Tập đoàn GLOBAL SPHERE-UAE(Các tiểu vương quốc A
rập thống nhất) làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư là 300 triệu USD , diện tích thuê
đất 15 ha và diện tích toàn bộ dự án là 30 ha tại KCN Phong Điền. Đây là một dự án
có quy mô lớn về nguồn vốn, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng về mặt công nghệ, môi
22
trường. Là dự án công nghệ cao sản xuất ra các sản phẩm công nghệ sạch, sử dụng
nguồn năng lượng tái tạo để phát điện, góp phần giảm ô nhiễm môi trường. Việc triển
khai thành công Dự án sẽ mở ra một triển vọng mới cho ngành công nghiệp công nghệ
cao, chế biến sâu các sản phẩm từ vùng nguyên liệu cát trắng Phong Điền. Dự án có
công suất 65 MWp/năm, dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động sau 30 tháng thi
công. Sản phẩm chính của tổ hợp gồm pin năng lượng mặt trời, kính OTC, kính xây
dựng và các loại thủy tinh màu cao cấp; trong đó 90% sản phẩm sẽ được bao tiêu xuất
khẩu sang các nước trên thế giới và 10% sẽ tiêu thụ trong nước
*Công nghệ sinh học
Ngày 7/6/2013 hãng dược phẩm Nippon Zoki (Nhật Bản) chính thức khởi công
xây dựng Nhà máy công nghệ sinh học đầu tiên tại Việt Nam. Dự án sử dụng 10,6 ha
đất (dự kiến giai đoạn I sử dụng 3 ha). Tổng vốn đầu tư của dự án 90 triệu USD (giai
đoạn I là 62 triệu USD). Nhà máy Nippon Zoki (Nhật Bản) tại KCN Quế Võ là nhà
xuất tôm giống của công ty Uni President(Đài Loan) tại Quảng Trị.
1.3.1.3 Ngành dịch vụ
a/Dịch vụ viễn thông
Bằng chứng là, theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư), trong 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn FDI trong lĩnh vực thông tin và
truyền thông vẫn tiếp tục tăng, với 54 dự án cấp mới và 13 dự án tăng vốn, có tổng vốn
đầu tư trên 400 triệu USD. Trong đó, đáng chú ý nhất là Dự án Công ty cổ phần Viễn
thông Việt - Nga (liên doanh giữa Alltech Telecom Ltd với Tập đoàn Bưu chính Viễn
Thông Việt Nam - VNPT và Công ty TNHH Cung cấp giải pháp dịch vụ giá trị gia
tăng của nhà đầu tư Síp), với tổng vốn đầu tư 375 triệu USD.Dự án này sẽ mất khoảng
5-7 năm để đạt được mục tiêu về tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR). Khi đi vào hoạt động,
Dự án sẽ cung cấp các dịch vụ Internet băng rộng di động trên nền công nghệ mới
4G/LTE.
Tuy nhiên, thời điểm mà Dự án có thể chính thức đưa vào hoạt động lại phụ
thuộc khá nhiều vào lộ trình chung của Việt Nam về việc triển khai cấp phép công
nghệ 4G/LTE. Hiện Bộ Thông tin và Truyền thông mới chỉ cấp phép thử nghiệm công
nghệ 4G/LTE cho 5 doanh nghiệp.Sau khi nhận được giấy phép thử nghiệm công nghệ
này, VNPT đã hợp tác với Alltech Telecom để thử nghiệm hệ thống và dịch vụ
4G/LTE tại Việt Nam. Còn Alltech, ngoài việc tham gia đầu tư vào thị trường Việt
Nam, cũng đã có những bước đi nhằm chuẩn bị cho việc triển khai công nghệ 4G/LTE
tại một số thị trường khác như Campuchia, Lào, Myanmar
Chưa có được dự án đầu tư cụ thể như Alltech Telecom, nhưng gần đây, nhiều
nhà đầu tư Pháp, Nhật Bản, Phần Lan cũng đã rậm rịch tìm hiểu cơ hội đầu tư vào
lĩnh vực Internet, dịch vụ dữ liệu, dịch vụ nội dung số cho di động tại Việt Nam thông
qua các cuộc làm việc B2B với các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra Huawei hay ZTE của Đài Loan cũng đã đầu tư vào Việt Nam, các nhà
mạng viễn thông trong nước, trước đây, chủ yếu sử dụng các thiết bị hạ tầng mạng của
các tập đoàn (thuộc các nước phát triển trong nhóm G7) như Motorola, Siemens,
25