LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữ một
vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội, nhiều nguyên
liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu (khi ngoại thương phát triển). Bước
vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh
thái,… nông nghiệp được dự báo là vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy. Trong thế kỷ
XX, nông nghiệp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, phát triển từ giai đoạn sản
xuất nông nghiệp truyền thống sang giai đoạn hiện đại hoá nông nghiệp, nhờ vậy kinh
tế nông thôn và đời sống của người dân nông thôn cũng có nhiều chuyển biến. Đặc biệt,
trong vài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh chóng của những xu thế lớn trên thế
giới, như cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế,
kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và
nông dân đã có những sự thay đổi.
Ở Việt Nam chúng ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, những thành tựu
của 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế,… đã góp phần làm thay đổi nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và
nông dân. Nghị quyết 5 của Trung ương khoá IX đã đặt giải pháp về công tác quy
hoạch ở vị trí đầu tiên trong hệ thống giải pháp nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn trong thời kỳ 2001- 2010. Nghị quyết khẳng định: “Quy hoạch phát
triển nông nghiệp, nông thôn phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế- xã
hội cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học, công nghệ và thị trường;… Chú trọng làm tốt quy hoạch những vùng sản xuất
hàng hoá tập trung(cây con, sản phẩm, ngành nghề…); quy hoạch xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng, xã, thị trấn; gắn
1
kết chặt chẽ với an ninh - quốc phòng, phòng chống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai,
bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc".
Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực
nông lâm nghiệp còn hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế
mạnh của Việt Nam và ngày càng có xu hướng giảm sút. Mặt khác, so với hoạt động
của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư cũng như nhà đầu tư
giành được ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó.
Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp
sau giữa hai thực thể và các doanh nghiệp liên kết một cách chặt chẽ.
Như vậy, động cơ chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần vốn được sử
dụng ở nước ngoài gắn liền với việc tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc phục vụ việc kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhận phần vốn đó.
Luật đầu tư 2005 mà Quốc hội khóa XI của Việt Nam đã thông qua khái niệm về
“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài”. FDI là một hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài
bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt
Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định
của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan
tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một
nền kinh tế( được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong
một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước
ngoài( được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước
ngoài).
2. Phân loại
2.1. Phân loại theo tỷ lệ sở hữu vốn
2.1.1. Vốn hỗn hợp ( vốn trong nước và nước ngoài )
2.1.1.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, thường được áp dụng phổ biến trong
các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia công và dịch vụ. Các bên tham
gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn. Do vậy
loại hình này thích hợp với các nhà đầu tư nước ngoài có ít tiềm lực về vốn.
2.1.1.2. Doanh nghiệp liên doanh (công ty liên doanh)
Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc các bên nước ngoài
cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi
chiều rộng ( chiều ngang – HI) và đầu tư theo chiều sâu ( chiều dọc – VI).
2.2.1. Đầu tư theo chiều rộng ( HI)
Là hình thức chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất một sản phẩm
nào đó (công nghệ, kỹ năng quản lý...) và chuyển việc sản xuất sản phẩm này ra nước
ngoài.
2.2.2. Đầu tư theo chiều sâu ( VI )
5
Là hình thức mà chủ đầu tư chú ý đến việc khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên
dồi dào và lao động rẻ ở nước ngoài để sản xuất các sản phẩm có thể nhập lại về nước
mình hay xuất khẩu sang nước khác.
2.3. Phân loại theo phương thức thực hiện
FDI có thể thực hiện theo 2 hướng là đầu tư mới ( greenfield ) hoặc sáp nhập và
mua lại ( M&A – Merger and Acquisition ).
2.3.1. Đầu tư mới
Là việc chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở bằng cách xây dựng các doanh nghiệp mới
ở nước ngoài, đây là hướng đi truyền thống và thường được chủ đầu tư của các nước
phát triển áp dụng ở nước đang phát triển.
2.3.2. Sáp nhập hoặc mua lại
Sáp nhập hoặc mua lại các công ty của nước khác thường được tiến hành giữa
các nước phát triển, các NICs và rất phổ biến trong những năm gần đây.
Các nước đang phát triển chủ yếu lựa chọn phương thức đầu tư mới do ở các
nước này năng lực sản xuất còn thiếu và yếu. Đầu tư mới sẽ giúp hình thành nên hàng
loạt cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới mà nhà nước nhận
đầu tư chưa từng có.
3. Vai trò của đầu tư nước ngoài
3.1. Vai trò đối với nước đi đầu tư
Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của Lênin thì FDI là yếu tố sống còn của
CNTB, do đó mục đích tiến hành đầu tư ra nước ngoài nhằm :
- Mục đích kinh tế : tìm kiếm lợi nhuận.
Kéo dài chu trình sống của công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điều kiện
nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và các định chế tài
chính quốc tế như ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng phát triển châu Á ,
7
có điều kiện tiếp nhận công nghệ tiên tiến thông qua các dự án đầu tư. Thông qua FDI,
các công ty trong nước có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu, tăng
quy mô sản xuất cũng như khả năng tiếp cận đến mạng lưới tiếp thị quốc tế.
Tuy nhiên, mức độ khai thác các tiềm năng này phụ thuộc rất nhiều vào chính
sách thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể là một
động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng ở các nước đang phát triển, nhưng nó
cũng có thể gây rối loạn cho quá trình phát triển nếu không được quản lý cẩn trọng. Các
nguy cơ tiềm ẩn đối với đầu tư nước ngoài có thể là yêu cầu bảo vệ thị trường nội địa
(qua đó làm méo mó thị trường); mất khả năng kiểm soát đối với các ngành thuộc sở
hữu nước ngoài; chịu ảnh hưởng lớn hơn trước những cú sốc từ bên ngoài.
3.2.3. Góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ
Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những công nghệ tiên tiến, hiện đại
trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, sẽ được du nhập vào đất
nước, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn. Các doanh nghiệp có có
vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn sẽ có tác dụng thúc đẩy các doanh
nghiệp trong nước đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường trong nước và quốc tế.
3.2.4. Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Ngày nay sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không còn đơn
thuần phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà phần lớn phụ thuộc vào
chất lượng của nguồn nhân lực. Do vậy, một trong những cách tốt nhất để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực là tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế bởi ở đó người lao động
có điều kiện nâng cao trình độ, tay nghề và kỹ năng sản xuất. Hơn nữa môi trường cạnh
tranh để tìm kiếm việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, người lao động
buộc phải tìm tòi, học hỏi và thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, ý
thức kỷ luật... để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các công ty, xí nghiệp trong và ngoài
nước.
nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với nước chưa phát triển, khoa học kỹ thuật còn lạc hậu. Đại
bộ phận, xét một cách tổng thể, các nước đang phát triển và kém phát triển có trên 80%
dân số và 70% lao động xã hội tập trung ở nông thôn với sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trình độ lao động thấp. Người nông ở đây, họ vừa là
những người sản xuất vừa là những người tiêu thụ sản phẩm của chính công ty họ làm
ra. Bởi vì, tính phối hợp liên ngành (cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) còn ở
mức độ thấp, đóng góp từ khu vực nông nghiệp vào thu nhập quốc dân chưa cao và bất
ổn định.
Bên cạnh đó, nông nghiệp Việt Nam còn có đặc điểm nổi bật khác do những điều
kiện tự nhiên và lịch sử đặc biệt.
Nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới, đất nước trải dài theo hướng Bắc – Nam, phần
lớn địa hình là đồi núi, ba mặt tiếp giáp với biển…chính vì vậy có thảm thực vật phong
phú, đa dạng, có tiềm năng sinh khối lớn, nhiều loại vật có giá trị kinh tế cho phép phát
triển một nền nông nghiệp đa dạng và có thể đi vào chuyên canh nhiều loại cây con.
Hiện nay, nông nghiệp nước ta sản xuất lương thực chủ yếu là cây lúa nước nhưng phân
tán, việc áp dụng các kỹ thuật cơ giới hóa, hiện đại hóa vào sản xuất nông nghiệp thiếu
kinh nghiệm và còn nhiều bất cập.
- Nước ta đất chật, dân số không ngừng tăng lên khả năng mở rộng quy mô sản xuất
nông nghiệp hạn chế.
- Việc chuyển nền nông nghiệp nước ra sang sản xuất hàng hóa gặp nhiều khó khăn về
vốn, kỹ thuật, trình độ lao động, khả năng quản lý…
Đây là những đặc điểm nổi bật cần phải khắc phục nhanh chóng tạo tiền đề cho nhiệm
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nước ta theo hướng bền vững.
10
2. Vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với
các nước đang phát triển. Bởi vì các nước này đa số người dân sống dựa vào nghề nông.
Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân, Chính phủ cần có chính sách
tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất cây trồng và tạo ra nhiều
việc làm ở nông thôn.
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài tương đối phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của ngành, nguồn vốn được thu hút khá đồng đều vào các lĩnh vực trồng trọt, chế
biến nông, lâm sản, sản xuất mía đường, sản xuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc,
gia cầm, trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy;
- Các dự án FDI đã góp phần tạo thêm năng lực sản xuất mới, công nghệ sản xuất tiên
tiến, nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông lâm sản. Các chương trình mía đường,
trồng và chế biến rau quả, chương trình trồng rừng, chuyển giao công nghệ mới, tạo ra
các loại giống cây trồng, giống vật nuôi và các sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn quốc
tế;
- Tạo việc làm cho hàng vạn lao động công nghiệp (đến nay có khoảng 75.000 lao động
công nghiệp đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI của ngành), sản xuất nguyên liệu
và các dịch vụ lao động cho công nghiệp chế biến, v.v... Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật ngày càng trưởng thành, công nhân được nâng cao trình độ, tay nghề;
12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
I. Chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp
Mục tiêu của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam là thu
hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở
rộng xuất khẩu. Hoạt động thu hút FDI liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có
khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực và nông nghiệp dường như cũng
không là phải ngoại lệ.
Thời gian qua, chính sách thu hút FDI đã được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện
dần từng bước một cách có hệ thống, và nông nghiệp cũng đang là một trong các lĩnh
vực mà nhà nước quan tâm, chú trọng tới. Sau đây là một số chính sách đối với việc thu
hút FDI vào kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng.
* NĐ108 /2006/NĐ-CP: Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp thuộc danh mục đặc biệt ưu
và có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét
gia hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
2. Nhà đầu tư đầu tư trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư được
miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy định của pháp luật
về đất đai và pháp luật về thuế.
14
* Ưu đãi về sử dụng đất đai (Nghị định 142)
- Tuỳ từng dự án, được miễn tiền thuê đất từ 3 – 15 năm.
- Dự án lĩnh vực đặc biệt khuyến khích tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn:
Miễn tiền thuê đất.
* Ưu đãi tín dụng (NĐ 151, NĐ 106, NĐ 41)
- Mức vốn cho vay tối đa 70% tổng vốn đầu tư của dự án do Ngân hàng Phát triển Việt
Nam quyết định.
- Thời hạn cho vay dựa trên khả năng thu hồi vốn và trả nợ tối đa là 12 năm; dự án đặc
thù cho vay tối đa là 15 năm...
- Lãi suất cho vay xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng lần đầu và không thay
đổi cho cả thời hạn vay.
* Ưu đãi về thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp (NĐ 124)
• Miễn thuế: Với một số dịch vụ sản xuất
• Ưu đãi 10%: Doanh nghiệp mới tại địa bàn kinh tế đặc biệt khó khăn, thời hạn 15 năm
• Ưu đãi 20%:
– Doanh nghiệp mới tại địa bàn kinh tế khó khăn, thời hạn 10 năm.
– Hợp tác xã NN, suốt thời gian hoạt động.
• Miễn 4 năm đầu, Giảm 50% thuế một số năm tiếp theo:
– Doanh nghiệp mới lĩnh vực XH hóa tại địa bàn kinh tế khó khăn.
* Miễn thuế GTGT (NĐ 87)
• Nông sản chưa chế biến hoặc sơ chế
• Sản phẩm là giống.
• Sản phẩm là dịch vụ phục vụ NN.
• Sản phẩm muối.
động công nghiệp và hàng vạn lao động nông nghiệp, nộp ngân sách trên 17 triệu USD,
16
tạo ra kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 500 triệu USD. Tỉ lệ vốn đưa vào thực hiện bình
quân khoảng 50% tổng số vốn đăng ký.
2. Phân bố FDI theo địa phương
Hầu hết các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế về
vùng nguyên liệu, có điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế chính sách ưu
đãi về đầu tư như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Lâm
Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Trong đó,
Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp theo là Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây
Ninh và Lâm Đồng.
Bảng 2: FDI vào nghành nông nghiệp phân theo địa phương.
TT Địa phương Số dự án
Vốn đăng ký
(USD)
Vốn thực hiện
(USD)
Tỷ lệ vốn điều
lệ (%)
1 Bình Dương 265 1109622258 450439627 20.31
2 Đồng Nai 103 1058744864 468793875 21.14
3 TPHCM 85 268579865 101309892 4.57
4 Tây Ninh 25 222527500 149407680 6.74
5 Lâm Đồng 77 172100716 105429882 4.75
6 Long An 19 150201700 56433936 2.54
7 Vũng Tàu 24 108443720 48023720 2.17
8 Nghệ An 6 105838640 50638000 2.28
9 Thanh Hóa 9 87079000 33290000 1.50
10 Ninh Bình 5 63329672 26322529 1.19
11 Các tỉnh khác 348 1336397754 727966035 32.82