LỜI MỞ ĐẦU
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một trong cách tạo vốn có hiệu quả
đối với các nước đang phát triển. FDI được coi như là một trong các “cú hích” quan
trọng đặc biệt khi các nước này gặp phải những khó khăn trong quá trình phát triển
về vốn, công nghệ, các kinh nghiệm và những kiến thức trong quản lý. Chính vì vậy,
trong các chính sách phát triển của mình, các nước đang phát triển đều tạo ra môi
trường thu hút thuận lợi. Việt Nam cũng là một trong những nước như thế. Trong
những năm vừa qua chúng ta đã lien tục ban hành những chính sách nhằm thu hút
FDI và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên trong thời gian qua, FDI mới
chỉ tập trung chủ yếu đối với một số ngành công nghiệp, dịch vụ, còn đối với nông
nghiệp, vốn FDI có tăng trong những năm gần đây nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng số vốn FDI vào nền kinh tế, chưa xứng với tiềm năng phát triển của
ngành trong nền kinh tế. Trong khi đó, GDP do nông nghiệp tạo ra vẫn giữ vị trí hàng
đầu, trên 50% giá trị xuất khẩu là nông sản, 80% dân số sống ở nông thôn, nguồn
sống chính dựa vào nông nghiệp. Vậy thực trạng của tình hình thu hút FDI vào ngành
nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Nguyên nhân chính của vấn
đề này là gì? Và chúng ta cần làm thế nào để thu hút một cách có hiệu quả vốn FDI
trong Nông nghiệp? Điều này đã và đang trở thành một vấn đề hết sức quan trọng và
đang được rất nhiều người quan tâm. Xuất phát từ thực trạng của FDI trong nông
nghiệp và tính cấp thiết của vấn đề này, trong bài viết này em xin trình bày những
hiểu biết của mình về em “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành
Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000 -2015”. Do sự hiểu biết còn hạn chế nên
bài nghiên cứu của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô để bài nghiên cứu của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Chương I
1
Những vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Nông
nghiệp Việt Nam.
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1 Khái niệm:
định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình
thức này không có những ràng buộc về chính trị cũng như không để lại gánh nặng nợ
nần cho nền kinh tế của nước tiếp nhận vốn FDI. Mặt khác, quyền lợi của các nhà
đầu tư nước ngoài đi liền với dự án đầu tư, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư. Do đó, nhà đầu tư phải
tìm hiểu các điều kiện môi trường và dự kiến lỗ lãi trước khi tiến hành đầu tư, chỉ khi
chắc chắn hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư sẽ cho kết quả tốt nhà đầu tư
nước ngoài mới thực hiện đầu tư. Vì vậy, FDI thường mang tính khả thi và hiệu quả
kinh tế cao. Tuy nhiên, tính khả thi và hiệu quả kinh tế nghiêng về bên nào hơn, nhà
đầu tư hay nước nhận đầu tư, phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư.
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy
định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân
chia dựa vào tỷ lệ này. Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, trong doanh
nghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị
theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vốn pháp định liên doanh. Như vậy, tùy
vào hình thức chủ thể được thành lập theo giấy phép đầu tư, nhà đầu tư phía nước
ngoài có thể trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành các hoạt động của doanh nghiệp FDI tùy
theo tỷ lệ góp vốn trong doanh nghiệp liên doanh.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, bí quyết kinh doanh, học hỏi được kinh nghiệm quản lý
của nước nước đi đầu tư. Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác khó có thể
giải quyết được và cũng chính là vấn đề mà các nước tiếp nhận vốn đầu tư, đặc biệt
là các nước đang và kém phát triển rất quan tâm.
- Nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát hoạt động đầu tư. Nó thể hiện
quyền sở hữu đối tượng đầu tư và quyền ra các quyết định quan trọng. Cho nên, kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của
3
nhà đầu tư. Sau khi trừ đi các khoản đóng góp theo quy định của nước chủ nhà, nhà
đầu tư nước ngoài nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.
hóa công trình) và kinh doanh trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi
nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ
nhà.
Đặc trưng của hình thức này :
- Cơ sở pháp lý là hợp đồng.
- Vốn đầu tư của nước ngoài.
- Họat động theo dạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc theo liên doanh.
- Đối tượng hợp đồng thường là các công trình cơ sở hạ tầng.
1.1.3.5. Đầu tư mới, mua lại và sát nhập (M&A)
Đầu tư mới: là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây
dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là
kênh chủ yếu để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang
phát triển.
Mua lại và sát nhập: là hình thức chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các
doanh nghiệp hiện có. Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và
tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các
nước phát triển, các nước NICs và rất phổ biến trong những năm gần đây.
1.1.3.6. Các hình thức FDI theo quy định của luật pháp Việt Nam
Tại Việt Nam, FDI chủ yếu vẫn được thực hiện dưới các hình thức đầu tư mới.
Luật Đầu tư được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã công nhận hình thức mua lại và sáp nhập là một hình
thức FDI mới, là một điểm bổ sung cho Luật Đầu tư năm 1996. Cụ thể, các hình thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp được đầu tư bằng 100%
vốn của nhà đầu tư nước ngoài, thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do họ thành
lập tại nước nhận đầu tư và họ tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp
tư nhân và có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
6
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO) là văn bản ký kết giữa
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với các nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng, khi xây dựng xong sẽ chuyển giao công trình đó cho Nhà nước
Việt Nam. Sau đó nhà đầu tư sẽ được Chính phủ Việt Nam dành cho quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và lợi nhuận.
Đối với hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), sau khi xây dựng và
chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được thanh toán theo
thoả thuận trong hợp đồng hoặc được tạo điều kiện thực hiện dự án đầu tư khác để
thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
Thứ tư là các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Cho đến nay, các hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp
liên doanh và đầu tư theo hợp đồng như hợp đồng BCC, BOT vẫn là những hình thức
phổ biển, được các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ưa chuộng. Ngoài ra, theo
Luật đầu tư của Việt Nam năm 2005 cũng quy định một số hình thức đầu tư trực tiếp
khác.
Đầu tư phát triển kinh doanh: Những nhà đầu tư nước ngoài đang thực hiện đầu
tư tại Việt Nam được phép đầu tư để phát triển hoạt động kinh doanh đó như mở
rộng quy mô, nâng cao năng suất, năng lực kinh doanh hoặc đầu tư để đổi mới công
nghệ, nâng cao chất lượng và giảm ô nhiễm môi trường.
Góp vốn mua cổ phẩn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư: Nhà đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam có quyền góp vốn, mua cổ phần của các công ty chi nhánh tại
Việt Nam. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư được Chính phủ Việt Nam quy
định cụ thể đối với một số ngành và lĩnh vực. Khi đó, nhà đầu tư sẽ có quyền tham
gia quản lý hoạt động của công ty mà mình góp vốn và mua cổ phần, đồng thời phải
thực hiện đúng những nghĩa vụ quy định về tỷ lệ vốn góp, hình thức đầu tư và lộ
trình mở cửa thị trường của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Mua lại và sáp nhập (M&A): Tại Việt Nam, hình thức mua lại và sáp nhập mới
được công nhận và quy định trong Luật đầu tư 2005. Theo đó, các nhà đầu tư nước
từ các công ty nước ngoài, thu ngọai tệ từ các họat động dịch vụ phục vụ cho FDI.
1.1.4.2 ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
8
FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước
chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn
có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng
dụng của nước chủ nhà. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường được thực
hiện chủ yếu bởi các TNCs, dưới hình thức: chuyển giao trong nội bộ giữa các chi
nhánh của một TNCs và chuyển giao giữa các chi nhánh TNCs. Phần lớn công nghệ
được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang nước đang phát triển ở hình
thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước ngoài,
dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công
nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công
nghệ marketing.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn góp
phần tích cực đối với tăng trưởng năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của
nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các họat động nghiên cứu và phát triển
của các chi nhánh TNCs ở nước ngoài là cải biến công nghệ cho phù hợp với điều
kiện sử dụng của địa phương. Dù vậy, các họat động cải tiến công nghệ của các
doanh nghiệp ĐTNN đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công
nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp
tăng cường năng lực phát triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong quá trình sử
dụng công nghệ nước ngòai, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học
được cách thiết kế, chế tạo…. công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều
kiện sử dụng của địa phương và biến chúng thành công nghệ của mình. Nhờ có
những tác động tích cực trên, khả năng thành công của nước chủ nhà được tăng
cường, vì thế nâng cao năng suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy được tăng trưởng.
1.1.4.3 ĐTNN góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới.
Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ này
được thể hiện ở các khía cạnh : xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu
dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, họăc thuê họ thông qua các hợp đồng gia
công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã đóng góp tích cực tạo ra
việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như ngành may mặc, điện tử, chế
biến.
10
Thông qua khoản trợ giúp tài chính họăc mở các lớp đào tạo dạy nghề, FDI
còn góp phần quan trọng đối với phát triển giáo dục của nước chủ nhà trong các lĩnh
vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý. Nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đã đóng góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ thông, cung cấp một số thiết bị
giảng dạy cho các cơ sở giáo dục của nước chủ nhà, tổ chức các chương trình phổ
cập kiến thức cơ bản cho người lao động bản địa làm việc trong dự án (trong đó có
nhiều lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài ).
Đây là các tác động kép của FDI đối với nền kinh tế : tạo thêm việc làm cũng
có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ
trong nước. Tuy nhiên, sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong các nước nhận
đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó.
1.1.5 . Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI
Môi trường đầu tư nước ngoài là một trong yếu tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng
trực tiếp tới việc thu hút FDI, nó là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc
đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu tố về
tình hình chính trị, chính sách – pháp luật, vị trí địa lý- điều kiện tự nhiên, trình độ
phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa – xã hội.
1.1.5.1 Tình hình chính trị
Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu
để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư
cho các nhà đâu tư nước ngoài. Mặt khác, sự ổn định về chính trị còn là tiền đề cần
thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm rủi ro cho các nhà đầu tư. Một
nước không thể thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị
luôn luôn mất ổn định.
1.1.5.2. Chính sách, pháp luật
1.1.6. Một số các lý thuyết về FDI :
1.1.6.1. Các học thuyết vĩ mô:
1.1.6.1.1. Lý thuyết thương mại quốc tế của Heckcher và Ohlin – HO (1993)
Giả đinh rằng không có sự lưu chuyển các yếu tố sản xuất qua biên giới và hiệu quả
kinh tế không phụ thuộc vào quy mô thị trường các nước.
Tuy nhiên, trong thực tế thì sự sẵn có của 2 yếu tố sản xuất là lao động và vốn của 2
nước lại khác nhau. Mô hình HO chỉ ra rằng sản lượng của 2 nước sẽ tăng lên nếu
12
như mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu hàng hóa và sử dụng nhiều yếu tố sản
xuất dư thừa và nhập khẩu những hàng hóa dùng nhiều yếu tố khan hiếm. Do đó sự
xuất hiện hoạt động thương mại quốc tế được giải thích từ sự chênh lệch tính dư thừa
và khan hiếm của các yếu tố sản xuất giữa các nước.
1.1.6.1.2. Mô hình MacDougall – Kemp (1964)
Mô hình này được xây dựng trên các giả định: nền kinh tế thế giới chỉ có 2 nước I và
II; trước khi di chuyển vốn thì năng suất cận biên của vốn đầu tư ở nước I ( thừa vốn)
thấp hơn ở nước II ( thiếu vốn) ; theo quy luật thì năng suất cận biên của vốn giảm
dần. Luồng FDI sẽ hình thành và di chuyển từ nước I sang nước II cho đến khi
năng suất cận biên của vốn ở 2 nước là bằng nhau. Kết quả là sản lượng thế giới tăng
lên do sử dụng 1 cách hiệu quả hơn các nguồn lực sản xuất. Mô hình cũng giải thích
sự ảnh hưởng khác nhau của FDI ở nước nhận đầu tư và nước đi đầu tư. ở nước I ,
thu nhập từ sử dụng vốn tăng lên do năng suất cận biên của vốn tăng, trong nước II
thì diễn ra ngược lại. Như vậy FDI mang lại lợi ích cho cả 2 nước.
1.1.6.1.3. Lý thuyết của Krugman( 1983)
Lý thuyết này giải thích nguyên nhân của đầu tư nước ngoài với mục đích khai thác
hiệu quả của vốn là do có sự khác biệt về chính sách kinh tế vĩ mô của các nước tham
gia đầu tư. Lý thuyết này cũng giải thích đầu tư nước ngoài từ góc độ hiệu quả sử
dụng yếu tố đầu tư như 2 lý thuyết trên.
1.1.6.2. Các học thuyết vi mô
Nếu như các học thuyết vĩ mô đứng trên góc độ quốc gia để xem xét lý thuyết FDI
thì các học thuyết vi mô lại đứng trên góc độ các doanh nghiệp hoặc các ngành kinh
khác về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Dựa trên phân tích về lợi thế
cạnh tranh, lý thuyết này chỉ ra rằng việc thu hút nguồn vốn FDI phụ thuộc rất nhiều
vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại. Một trong các nhân tố đó là tăng trưởng
kinh tế.
Ví dụ, Chakrabarti (2001) tranh luận rằng tăng trưởng cao tại các nước sở tại sẽ thu
hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường và đầu tư…
1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp ở Việt Nam
1.2.1 Nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Có rất
nhiều cách hiểu khác nhau về nông nghiệp. Theo nghĩa hẹp nông nghiệp gồm có
14
ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp – các hoạt
động liên quan đến việc trồng cấy và đầu tư canh tác trên đất nhằm mục đích sản xuất
ra sản lượng lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Như vậy đối
tượng chính của của nông nghiệp theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm loại cây trồng được
thuần hóa canh tác trên đất. Còn hiểu theo nghĩa rộng nông nghiệp bao gồm cả ngành
lâm nghiệp và ngành thủy sản. Vì thế đối tượng của nông nghiệp được mở rộng sang
cả các loại vật nuôi trên cạn và dưới nước. Các đối tượng này là những sinh vật sống,
tiến hóa trong lịch sử đa phần được con người chọn lọc và cải tạo theo mục đích mà
con người mong muốn. Khác với ngành sản xuất khác, các đối tượng của ngành nông
nghiệp cần phải được cấy và phát triển trên đất trong điều kiện sinh trưởng phát triển
của các quy luật tự nhiên. Vì thế mà nông nghiệp luôn gắn chặt với điều kiện về đất
đai và khí hậu thời tiết ở mỗi vùng, địa phương cụ thể.
1.2.2 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con
người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện nay, nông nghiệp ngày
càng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là
trong mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia. Nông nghiệp có những vai
công nghiệp hóa và đô thị hóa, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ
đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ
nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều, số lao động này dịch chuyển, bổ sung
cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính chất quy luật của mọi
quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2.3. Nông nghiệp và nông thôn là thị truờng tiêu thụ lớn của công nghiệp và
dịch vụ
Hầu hết ở các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu sản xuất
và tư liệu tiêu dùng được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là
khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông
thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh
mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua khu vực
16
nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển,
từng bước nâng cao chất lượng để có thể cạnh tranh với thị trường thế giới.
1.2.2.4. Nông nghiệp góp phần tăng thu ngoại tệ nhờ xuất khẩu nông sản
Đối với các nước đang phát triển, nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu
nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm, thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so
với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có
ngoại tệ chủ yếu là dựa vào các loại nông – lâm – thủy sản. Xu hướng chung ở các nước
trong quá trình công nghiệp hóa, trong giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự
phát triển cao của nền kinh tế. Là một nước nông nghiệp, kim ngạch xuất khẩu nông
nghiệp của Việt Nam luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam. Trong đó có nhiều sản phẩm chiếm giữ mức kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ
USD như gạo, cà phê, cao su… Dó đó, nông nghiệp vẫn là ngành xuất khẩu quan
trọng để tăng thu ngoại tệ về cho đất nước.
1.2.2.5. Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn tới môi trường sinh thái, và là cơ sở trong
sự phát triển bền vững của môi trường. Phát triển nông nghiệp đúng hướng, nông
biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản
xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản
phẩm.
1.2.3.3 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi
Các loại cây trồng và vật nuôi phát sinh, phát triển theo quy luật sinh học (sinh
trưởng, phát triển và diệt vong). Do là cơ thể sống nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố
ngoại cảnh. Mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến
sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây
trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân
nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất
trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Vì vậy để chất lượng giống cây
trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, các giống hiện có,
nhập nội những giống cây tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống cây mới có
năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương.
1.2.3.4. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
18
Đây là đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân của tính
thời vụ trong nông nhiệp là xuất phát từ chính quá trình sản xuất của nông nghiệp. Do
quy luật phát triển sinh học, điều kiện thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, ánh sang, lượng
mưa, độ ẩm của mỗi loại cây trồng là khác nhau, vì thế cần có sự chăm sóc khác nhau
vào từng giai đoạn phát triển. Hơn nữa, chu kỳ sản xuất trong ngành nông nghiệp là
kéo dài; không như các ngành khác có chu kỳ sản xuất ngắn, chu kỳ của ngành nông
nghiệp thường là 3 - 4 tháng, 1 năm hoặc thậm chí là 5 năm hay lâu hơn nữa ( cà phê,
tiêu, điều, các loại cây ăn quả lâu năm…). Vì thế để họat động nông nghiệp diễn ra
một cách thuận lợi cần phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư –
kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc
bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những
thời điểm nông nhàn.
1.2.3.5. Khả năng sinh lợi trong ngành nông nghiệp là không cao.
Yếu tố này được quyết định bởi tính chất của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chu
hưởng tới thời gian thu hồi vốn đầu tư trong nông nghiệp, mặt khác ảnh hưởng tới
thời gian thu hồi vốn đầu tư của ngành kinh tế nông thôn có sử dụng nguyên liệu
nông nghiệp hoặc liên quan tới nông nghiệp.
+ Họat động đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhất là trong
nông nghiệp thường diễn ra trên phạm vi rộng lớn. Phần lớn các họat động đầu tư
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có phạm vi không gian rộng lớn hơn trong các
lĩnh vực khác. Chính vì điều này lại làm tăng tính phức tạp của việc quản lý điều
hành các công việc của thời kỳ đầu tư xây dựng các công trình cũng như thời kỳ khai
thác các công trình đầu tư.
1.2.5. Nội dung đầu tư phát triển vào ngành Nông nghiệp Việt Nam:
Đối với ngành trồng trọt và chế biến nông sản: Nguồn vốn đầu tư cần tập
trung vào các dự án xây dựng các vùng trồng và chế biến nông sản xuất khẩu như lúa
gạo, cây lương thực, rau quả, cà phê, cao su, chè,... theo hướng thâm canh, nâng cao
chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đổi mới thiết bị các xưởng chế biến,...
Đối với ngành chăn nuôi và chế biến các sản phẩm chăn nuôi: Cần tập trung
thu hút đầu tư vào các dự án sản xuất giống lợn, bò và gia cầm có chất lượng cao tại
các vùng có điều kiện thuận lợi về lao động, đất đai, đảm bảo vệ sinh môi trường khi
phát triển chăn nuôi với quy mô lớn, đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư sản xuất thức
ăn gia súc có chất lượng cao.
20
Đối với ngành trồng rừng - chế biến gỗ: Cần hướng đầu tư vào các dự án sản
xuất giống cây có chất lượng, năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừng
nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ, lâm sản.
Đối với ngành thủy sản: Cần hướng đầu tư vào các dự án nuôi trồng và đánh
bắt các loại hải sản có giá trị cao, khuyến khích việc tạo ra các giống con có giá trị
cao phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam
1.2.6. Sự cần thiết của việc thu hút FDI vào ngành nông nghiệp ở Việt Nam
Cũng như đối với nền kinh tế nói chung, vài trò của nguồn vốn FDI đối với
ngành nông nghiệp cũng rất quan trọng, thể hiện:
1.2.6.1 Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp.
Nguồn vốn FDI cũng tạo điều kiện cho nông sản nước ta có cơ hội thâm nhập
vào thị trường thế giới. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có lợi thế về hệ thống
phân phối của họ trên thị trường thế giới. Khi có sự tham gia của họ vào ngành nông
nghiệp, mở ra nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới, nâng cao
chất lượng nông sản, và từ đó lại giúp nước ta khai thác, tận dụng được những lợi thế
của mình và tiếp tục phát triển . Đồng thời, với các dự án của các nhà đầu tư nước
ngoài, thì giá trị của nông sản cũng được nâng cao, tăng thêm giá trị xuất khẩu, làm
tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước.
1.2.6.4. Góp phần nâng cao việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên của
ngành nông nghiệp.
Việc tăng cường thu hút vốn đầu tư vào ngành nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho
ngành sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên đất - rừng - sông, hồ, biển… do có điều
kiện đầu tư cho sản xuất, giảm thiểu tình trạng lãng phí tài nguyên đang diễn ra ở
nhiều nơi do không có điều kiện đầu tư hoặc sử dụng không đúng cách. Hơn thế nữa,
việc tăng cường đầu tư cũng góp phần khai thác thế mạnh của vùng, tạo nên sản
phẩm mang tính đặc sản, vừa nâng cao giá trị sản phẩm, vừa sử dụng tối đa nguồn tài
nguyên nông nghiệp.
Như vậy, ta có thể thấy rằng, là một ngành kinh tế chính của đất nước, nông
nghiệp Việt Nam có vai trò quan trọng đối với cả kinh tế lẫn trong cả đời sống xã hội.
Tuy nhiên, do những đặc điểm gắn liền với cách thức sản xuất của ngành mà ngành
nông nghiệp vẫn chưa có được sự đầu tư thích đáng cho nhu cầu phát triển. Chính vì
vậy, để phát triển nông nghiệp trong thời gian tới, yêu cầu của việc thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, thu hút công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại vào phát triển
22
ngành là một trong yêu cầu tất yếu hiện nay. Vì vậy Việt Nam cần đưa ra những
chính sách, biện pháp, phương hướng nhằm thúc đẩy, tăng cường thu hút vốn FDI
vào ngành nông nghiệp.
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng thu hút FDI vào ngành nông nghiệp
Do những đặc điểm khác biệt của sản xuất nông nghiệp, việc thu hút FDI vào
ngành nông nghiệp cũng phải chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau. Các
kinh doanh. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống điện, nước, đường xá, hệ
thống thủy lợi. Ngoài ra nhà đầu tư còn quan tâm tới các hệ thống dịch vụ như bưu
điện,ngân hàng, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác.
1.2.7.4. Thủ tục hành chính
Những thủ tục thông thoáng trong quá trình cấp giấy phép, triển khai dự án
và quản lý dự án giúp cho các doanh nghiệp có vốn FDI tiết kiệm không nhỏ thời
gian và tiền bạc cho nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình thực hiện một dự án,
do đó nhanh chóng đưa được dự án đi vào hoạt động. Với việc sớm đi vào hoạt
động, các sảm phẩm sẽ sớm ra đời, giúp các nhà đầu tư chiếm lĩnh thị trường, tăng
sức cạnh tranh khiến dự án đầu tư trở nên có lãi, là cơ sở quan trọng để các nhà
đầu tư nước ngoài xem xét để đầu tư hay không, và cũng là cơ sở đầu tiên đảm
bảo cho nước chủ nhà có thể thu được các khoản thuế
1.2.7.5. Thị trường sản phẩm.
Thị trường sản phẩm tạo ra đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo cho
họat động của các DN diễn ra một cách thuận lợi, quá trình sản xuất kinh doanh được
liên tục. Một thị trường sản phẩm lớn, hướng ra xuất khẩu, vừa khuyến khích được
các nhà đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa nâng cao được thương hiệu của
sản phẩm, từ đó lại khuyến khích thu hút đầu tư.
24
Chương II
Thực trạng thu hút FDI vào nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn
2000 – 2010
2.1. Khái quát về ngành nông nghiệp Việt Nam:
Ngành nông nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những bước tiến vượt
bậc và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cụ thể:
Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm
nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Nông nghiệp nước ta đã đáp ứng cơ bản nhu cầu
lương thực và thực phẩm trong nước, an ninh lương thực đảm bảo, đã hình thành
những vùng sản xuất nông sản hàng hóa qui mô tương đối lớn, tỷ suất hàng hóa tăng
nhanh, một số mặt hàng nông sản đã khẳng định vị thế trên thị trường thế giới như