Luận văn: Tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng người dân Huế - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng người
dân Huế
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2014
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Huế từng được biết đến là thủ phủ của xứ Đàng Trong và là kinh đô một thời
của triều đình nhà Nguyễn. Mảnh đất ấy qua lịch sử phát triển đã sản sinh ra rất
nhiều giá trị vật chất cũng như tinh thần mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn thấy nó
hiện hữu và mang lại nhiều giá trị tích cực cho cuộc sống con người như: hệ thống
đền đài, lăng tẩm, kiến trúc cung đình, đền đài miếu mạo, các âm điệu nhẹ nhàng,
trầm bổng của ca Huế, hay những làng nghề thủ công truyền thống như: làng nón
Phú Cam, làng hoa giấy Thanh Tiên, làng gốm Phước Tích, tranh dân gian làng
Sình… Các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của xứ Huế đã tạo nên một bản sắc
riêng so với các vùng đất khác trên cả nước, từ những đường cong kiến trúc độc
đáo, những âm điệu trầm bổng của một thể loại nhạc riêng, đến những sản phẩm thủ
công do chính bàn tay của các nghệ nhân sáng tạo có tính kế thừa rất độc đáo.
Ngành nghề thủ công truyền thống giữ một vị trí khá quan trọng trong đời
sống tâm linh, tín ngưỡng và văn hóa của người dân xứ Huế, chính những sản phẩm
thủ công ấy là một gia vị không thể thiếu bổ sung thêm cho đời sống tinh thần
người dân nơi đây. Bên cạnh một số làng nghề thủ công truyền thống đáp ứng cho
nhu cầu ấy như làng nghề hoa giấy Thanh Tiên, nghề làm trướng - liễn - câu đối
làng Chuồn (hiện đã mất), nghề tranh gương, nghề làm gốm… thì tranh làng Sình là
một trong số những làng nghề truyền thống mà đến hiện nay vẫn giữ được vai trò
đó. Mặt khác, Huế vốn là nơi còn lưu giữ khá đậm những nét văn hóa truyền thống
của vùng đất qua quá trình giao lưu, tiếp biến và tích hợp, từ đó đã tạo nên những
đặc trưng riêng trong đời sống tâm linh và tôn giáo, ảnh hưởng rất lớn và xuyên
suốt trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Sự trường tồn của tín ngưỡng dân

thống” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1994) của tác giả Nguyễn Hữu Thông, dẫn giải
cho chúng ta cái nhìn tổng quát về lịch sử của vùng đất Huế, sự ra đời của các làng
nghề truyền thống nơi đây, từ những dữ liệu đó sẽ cung cấp cho luận văn về sự ra
đời của dòng tranh làng Sình từ những vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành, phát
triển vùng đất Huế, làng Lại Ân – nơi sản sinh của dòng tranh làng Sình, gắn với vị
trí địa lý, đặc điểm tự nhiên cũng như những nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng là khởi
nguồn cho sự ra đời của dòng tranh làng Sình.
Hay trong cuốn “Tín ngưỡng dân gian Huế” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1995)
của tác giả Trần Đại Vinh đã cung cấp cho luận văn cái nhìn bao quát về nguồn gốc
hình thành tín ngưỡng dân gian Huế, đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố, từ sự ảnh
hưởng tín ngưỡng của lưu dân Việt từ phía Bắc vào Huế, của cư dân tiền trú Chăm
Pa, của người Hoa và đặc biệt là của Tam giáo: Phật, Lão, Nho mà cho tới ngày nay
rõ nét nhất vẫn là ảnh hưởng của đạo Phật trên toàn vùng Huế. Chính những yếu tố
trên đã góp phần hình thành tín ngưỡng riêng của cư dân vùng Huế, từ đó có những
dẫn giải về sự ra đời và phát triển của dòng tranh làng Sình nhằm đáp ứng cho
những nhu cầu tín ngưỡng của người nơi đây.
Luận văn còn tổng hợp được một số nguồn tư liệu khác của T.S Phan Thanh
Bình - hiệu trưởng trường Đại học Nghệ thuật Huế có liên quan trực tiếp đến đề tài
như: “Một dòng tranh dân gian trên đất Huế” (Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ
thuật - 1995), “Tranh thờ dân gian làng Sình, quá khứ, hiện tại và nhu cầu” (Tham
luận tại Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể -
1994), “Tranh dân gian Việt Nam từ Đông Hồ đến Sình” (Tạp chí Thông tin KHCN
TT Huế - 1995) và Tôn Thất Bình “Tranh thờ dân gian làng Sình, quá khứ, hiện tại
và nhu cầu” (Tạp chí Huế Xưa và Nay – 1994). Từ đó có những nhận định riêng
trong quá trình miêu tả và so sánh về sự tồn tại, phát triển của tranh dân gian làng
Sình từ xưa và nay.
Tiếp đến, trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” (Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001) của tác giả Ngô Đức Thịnh cũng cung cấp
cho luận văn nhiều thông tin liên quan, đó là những cứ liệu về khái quát tranh thờ
của các dòng tranh lớn như Hàng Trống, Đông Hồ, Kim Hoàng và của các dân tộc

Luận văn còn cần phải kể đến những đóng góp trong báo cáo kết quả nghiên
cứu khoa học năm 2012 “Nghề và làng nghề thủ công truyền thống huyện Phú
Vang” của Phân viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế, đã cung cấp cho đề tài
về một số ngành nghề của huyện Phú Vang như nghề dệt vải Dương Nổ, nghề làm
giấy ở Thanh Lam Bồ, nghề làm muối Diêm Trường, Phụng Chánh… trong đó có
nghề tranh làng Sình và cái nhìn cụ thể hơn về vùng đất địa phương của làng Sình,
từ điều kiện tự nhiên, địa lý, dân cư đến lược sử vùng đất. Từ đó phần nào lý giải
cho sự hình thành và phát triển của nghề tranh làng Sình dựa vào những đặc điểm
chung của vùng này.
Không chỉ dừng lại ở đó, trong bài viết tổng hợp cho Hội thảo khoa học
Nghề và làng nghề truyền thống Huế hướng tới Festival Nghề truyền thống 2013
“Nghề thủ công gắn liền với đời sống văn hóa tín ngưỡng: trường hợp tranh
làng Sình và hoa giấy Thanh Tiên” của tác giả Lê Thọ Quốc (Phân viện Văn hóa
nghệ thuật Việt Nam tại Huế), viết về cái nhìn khái quát và chung nhất về hai
làng nghề trong cùng một địa bàn, hiện lên trong bài viết là bức tranh quá khứ,
hiện tại và những dấu ấn về nghề tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng
người dân xứ Huế đã góp một phần không nhỏ cho việc hoàn thiện thêm nội
dung và ý nghĩa của luận văn.
Từ những cứ liệu trên, luận văn đã tổng hợp những thông tin cần thiết sử dụng
cho việc dẫn giải những nội dung chi tiết trong bài, những cứ liệu đó cùng với
những nhận định của bản thân thông qua quá trình điền dã đã đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong việc hoàn thiện đề tài luận văn này.
2.2 Tính mới của đề tài
Từ tình hình thực tế và căn cứ trên những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy
tính mới của luận văn được thể hiện một cách rõ ràng và khá cụ thể trong việc
nghiên cứu, tìm hiểu về sự thích ứng cũng như biến đổi của tranh dân gian làng
Sình trong giai đoạn hiện nay. Hầu hết các công trình trên, cho đến nay, vẫn chưa
có một công trình nào nghiên cứu hoàn thiện và làm sáng tỏ đến vấn đề thích ứng
và biến đổi của tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng một cách chi tiết nhất.
Chính vì vậy, nghiên cứu về tranh dân gian làng Sình, vừa thể hiện được tính mới

Tranh dân gian làng Sình là dòng tranh phục vụ cho nhu cầu thờ cúng của
người dân Huế và các vùng phụ cận. Nhằm giới thiệu về chức năng chính ấy,
luận văn mong muốn sẽ đóng góp được cái nhìn tổng quan nhất cho người đọc
về dòng tranh dân gian làng Sình, nó có gì khác và giống với các dòng tranh
trên đất nước Việt Nam như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim
Hoàng và mức độ sử dụng của nó ra sao, chức năng có gì đổi khác hay không
và tại sao người ta lại sử dụng tranh dân gian làng Sình để phục vụ cho nhu cầu
tín ngưỡng thờ tự. Luận văn với mong muốn giới thiệu về dòng tranh này đã nỗ
lực hết sức để giải quyết những vấn đề liên quan trên nhằm giúp đề tài trở nên
hoàn thiện hơn trong nội dung.
Ngoài ra, luận văn còn là câu trả lời cho câu hỏi về sự thích ứng và biến
đổi của dòng tranh. Tranh dân gian làng Sình tồn tại và phát triển qua thời
gian, tuy nó vẫn giữ được cái hồn, cái nét của tranh xưa, vẫn bảo lưu chức
năng thờ cúng. Thế nhưng, nhờ sự sáng tạo và tâm huyết với nghề của các
nghệ nhân nên dòng tranh ngày càng có nhiều biến đổi tích cực, cả về chức
năng lẫn kỹ thuật… Vì thế, mục đích của luận văn nhằm hướng người đọc
nhìn nhận được sức sống lâu bền của một dòng tranh dân gian đã từng bị cấm
đoán một thời (từ 1968 - 1996), nay lại phát triển và rất được yêu chuộng trên
mảnh đất miền Trung này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, ngoài những phương pháp luận nghiên cứu như:
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích để luận giải những vấn đề đặt ra, chúng
tôi còn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp:
Thu thập các sách liên quan tới đề tài đã được xuất bản, các bài báo đã được
công bố trong các hội thảo, các luận án tiến sĩ, các luận văn tốt nghiệp, khóa luận
tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học cấp trường… cùng những nhận định thông qua tài
liệu của bản thân nhằm tiến hành phân tích, thống kê, tổng hợp lại thành những nội
dung chính phục vụ cho đề tài luận văn.
Phương pháp điền dã dân tộc học:

Cọp với tín ngưỡng của những người đi rừng, đi biển; Bộ tranh động vật và lễ giải
hạn cho các vật nuôi). Ngoài ra, dựa vào những tài liệu có sẵn cùng những nhận
định riêng sau quá trình điền dã của tác giả đề tài, chúng tôi đã có được cái nhìn
chung về những điểm giống và khác nhau của tranh làng Sình và các dòng tranh
khác như: tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống và tranh Kim Hoàng.
Để mở rộng luận văn, chúng tôi giải quyết vấn đề ở chương 3, “Sự thích ứng
và biến đổi của tranh làng Sình trong giai đoạn hiện nay”, nội dung chú trọng
vào phân tích sự thích ứng, kế thừa về kỹ thuật chế tác do người xưa để lại nhưng
bên cạnh đó cũng đi sâu phân tích những biến đổi tích cực mà những thế hệ sau này
đạt được, như trong: kỹ thuật làm tranh, đề tài thể hiện, lực lượng sáng tác, nguyên
liệu… Thông qua quá trình điền dã của tác giả luận văn tại làng Lại Ân (làng Sình),
cùng với quá trình tổng hợp và xâu chuỗi các thông tin liên quan, luận văn đã làm
rõ được những biến đổi của tranh làng Sình, mở rộng và gợi mở vấn đề nghiên cứu
cho những ai quan tâm tới đề tài này.
NỘI DUNG
Chương 1:
LÀNG SÌNH VÀ NGHỀ TRANH LÀNG SÌNH
TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG HUẾ
1.1 Tổng quan về Huế
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Nhìn trên tổng thể địa hình Việt Nam, chưa một nơi nào mà thế đất lại hẹp và
bị chia cắt dữ dội bởi nhiều sông suối như vùng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Đồng
bằng ở đây chỉ có tính ước lệ, một biên giới mong manh trong một bức tranh kỳ vĩ
của núi đồi, vùng cát nội đồng và biển cả.
Núi ở đây như một bức tường thành tầng tầng, lớp lớp, sườn núi phần lớn dốc
đứng phía cực Tây, nhưng khi chuyển về Đông thì choải chân mình có nơi ra tận
biển, tự xóa đi độ dốc để những con sông không còn mang dòng chảy cuồn cuộn
phù sa như hai đầu đất nước (Hồng Hà, Cửu Long). “Triền dốc của đoạn Trường
Sơn Bắc là mẹ của biết bao sông suối. Có trên hai trăm dòng nước lớn nhỏ từ 10km
trở lên ở đây đã giúp chúng ta hình dung một mảng sơn thủy hoành tráng và có biết

hữu cạnh dòng sông trong bức tranh cảnh sắc Huế.
Từ đặc điểm của kết cấu đáy do địa hình và những biến động của hiện tượng bồi
lấp ở các cửa biển, Huế trong lịch sử tuy đã có thời kỳ đóng một vai trò và vị trí quan
trọng của đất nước, nhưng ở đây vẫn không kiến tạo được những bến cảng thuận lợi
cho việc giao thương, vận tải lớn. Ngày xưa, đường thiên lý đến vùng Thuận Hóa,
người từ hai phía Bắc Nam đều phải vượt qua bức tường rào khắc nghiệt của đèo
Ngang hoặc Hải Vân, sự trở ngại đó vẫn có ít nhiều đến tận ngày nay.
Tuy cảng thị Thanh Hà, Bao Vinh có một thời hoạt động nhộn nhịp (thế kỷ
XVII đến XIX), nhưng vẫn không mang nét đặc trưng như Phố Hiến hay Hội An.
Sự hạn chế của địa hình đã ảnh hưởng không ít đến sự phát triển công thương
nghiệp của Huế trong lịch sử, và cái nhìn ấy cũng không thay đổi mấy dưới đôi mắt
của những nhà kinh tế hiện đại.
Huế được chọn làm kinh đô của một nước (thế kỷ XIX) chắc là không từ quan
điểm khai thác sự thuận lợi về mặt địa hình cho việc xây dựng trung tâm chính trị -
kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước của các vua Nguyễn đương thời, mà các
nguyên nhân như phong thủy, vị trí trung tâm đối với hai đầu đất nước, cách xa đám
sĩ phu hoài Lê ở Đàng Ngoài thường là những vấn đề được các nhà nghiên cứu về
triều Nguyễn bàn đến.
Tuy vậy, những hạn chế nêu trên của địa hình Huế lại được bù đắp về mặt
cảnh trí mà thiên nhiên đã ban tặng. Thiên nhiên Huế như là một bức tranh phong
cảnh hoàn chỉnh, cho nên, tâm hồn con người cũng đã có sự đồng cảm khi hình
thành nhiều sáng tạo văn hóa của mình.
Nằm trong chiếc nôi được treo bởi hai điểm tựa quan trọng là đèo Ngang và Hải
Vân, trong đó điểm cuối cùng của Trường Sơn Bắc (quần thể Hải Vân) đã tạo nên
cho Huế một bức tường khí hậu riêng biệt, đặc trưng bởi các đợt gió mùa Đông-Bắc
hầu như không còn đủ sức vượt qua dãy núi cao này, chính vì điều ấy, khác với Huế
toàn bộ các miền tự nhiên ở Quảng Nam trở vào đã mang dấu hiệu điển hình của Á
đới nam [27, trang 165] và Huế vẫn tiếp tục hứng lấy nhiều đợt gió mùa lạnh se thắt,
nắng gắt, mưa dầm nhiều tháng, những mùa gió Nam (gió Lào) hanh khô, cháy bỏng.
Chính những yếu tố đặc thù này của khí hậu đã khiến người dân xứ Huế thường nói

Mỹ (Thừa Thiên Huế),…
Như vậy, bức tranh dân cư vùng Huế qua các thời kỳ lịch sử rõ ràng không
đơn giản bằng hình ảnh cắt đất và bàn giao từ đầu thế kỷ XIV (1306) giữa hai triều
đình Chăm Pa và Đại Việt qua đám cưới của vua Jaya Simhavarman III và Huyền
Trân Công Chúa. Sự suy diễn thường tình sẽ là một lớp người gốc Malayo-
Polynésie ra đi và một số người Nam Á (nhóm Việt - Mường) thay thế. Cho dù, sự
hình dung về một nhóm nhỏ người Chăm Pa ở lại đất Ô Rí (Trị - Thiên) thông qua
một số sử liệu cũ như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Ô châu cận lục do Dương Văn
An nhuận sắc từ thế kỷ XV, XVI.
Đại Việt có được vùng đất Ô Rí rõ ràng là một trường hợp đặc thù do tính chất
bàn giao giữa hai triều đình Việt - Chăm Pa diễn ra trong hòa bình và hữu nghị sau
khi đã cùng nhau sát cánh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù chung Nguyên – Mông.
Do đó, không như các nơi khác, cư dân Chăm Pa đã ở lại đất Trị - Thiên rất đông.
Họ đã cùng nhau xây dựng một vùng đất, tạo nên một khung cư dân đa dân tộc,
sống đan xen, hình thành nên những yếu tố tiên khởi cho một sự định hình lâu dài
sau này. Đây là lý do tại sao vùng Huế còn bảo lưu nhiều yếu tố Chăm Pa và cũng
không có gì lạ khi trong ngôn ngữ, ca nhạc, phong tục của người Huế người ta tìm
thấy nhiều dấu ấn đậm nhạt của văn hóa Chăm Pa [31, trang 13-16].
1.1.3 Những dấu ấn lịch sử
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông, trong cuốn “Huế - nghề và làng nghề thủ
công truyền thống” phân tích thì:
Nếu địa hình vùng eo thắt Trị - Thiên chịu nhiều sự chia cắt dày đặc của
sông suối, thì lịch sử cũng để lại nơi đây nhiều vết hằn trong cả thời cổ, cận, hiện
đại Việt Nam. Nhưng cứ sau mỗi lần vết hằn ấy xóa mờ thì đất nước lại vươn
mình lên một bước.
Lịch sử đã ghi nhận sự kiện vua tôi hai nước Đại Việt - Chăm Pa liên kết và
hợp đồng tác chiến một cách hiệu quả với quân xâm lược hùng hổ Nguyên - Mông
từ thế kỷ XII, XIII. Cũng với sự liên kết chặt chẽ ấy, các dân tộc ở vùng đất Thừa
Thiên Huế đã đồng lòng góp sức chống và thắng quân xâm lược nhà Minh (thế kỷ
XV) trên vùng đất Chăm Pa mà vào thời ấy đã thuộc chủ quyền Đại Việt.

Sau Cách mạng tháng 8.1945, thể chế phong kiến cuối cùng của Việt Nam kết
thúc. Huế trở thành một tỉnh lỵ như bao nơi khác, góp phần mình trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ để có được một đất nước thống nhất trở lại sau bao
năm bị chia cắt (1945-1975).
Nét thơ mộng trữ tình của thiên nhiên, nét cổ kính, trầm mặc, u tỉnh của cảnh
quan kiến trúc, sự thanh lịch, kín đáo thoát ra từ phong cách con người ở đây vẫn
được giữ lại như là một nét truyền thống qua biết bao thăng trầm của lịch sử và
dòng đời [31, trang 16-17].
1.1.4 Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng dân gian Huế
Nguồn gốc của tín ngưỡng dân gian Huế bao gồm nhiều yếu tố. Trước hết là
tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt, mà lưu dân Việt từ phía Bắc vào
Huế đã mang theo trong tâm khảm như một thứ hành trang vô hình mà bền chặt
trong cuộc sống trên vùng đất mới. Kế đến là tín ngưỡng của cư dân tiền trú Chăm
Pa, cư dân Indonesien và sự giao hòa với tín ngưỡng của người Hoa, trên nền chi
phối của các tôn giáo truyền thống: Phật, Lão, Nho.
1.1.4.1 Tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt
“Với những đợt nhập cư ồ ạt và lẻ tẻ trong các thế kỷ từ XIV đến XIX, biết
bao thế hệ lưu dân Việt đã rời bỏ đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam
tìm vào hội tụ ở đồng bằng sông Hương. Khi rời quê vào đất mới, dù hành trang
vật chất đơn sơ, ít ỏi nhưng ngược lại, thứ hành trang tinh thần phong phú và
nặng nề biết bao. Quê cha, đất tổ đã di lưu trong tâm thức người ra đi biết bao
hoài vọng vấn vương. Mái đình uy nghiêm, ngôi chùa làng thân thương của quê
hương là hình ảnh biểu tượng của một tín ngưỡng từ cội nguồn luôn luôn trăn trở
trong tâm thức người nhập cư. Những gian truân và thử thách buổi đầu không
cho phép những thế hệ di dân đầu tiên thực hiện hoài vọng đó. Khung cảnh vùng
đất mới Ô Châu ác địa, với bao đền tháp, tượng thần của một tín ngưỡng dị biệt,
mà cuộc sống lại vô cùng khó khăn, với biết bao hiểm họa tiềm ẩn, đã làm cho
con người tha hương không khỏi hãi hùng.
Tới đây đất nước lạ lùng,
Con chim kêu em cũng sợ, con cá vẫy vùng em cũng kinh

Quy Sơn và Linh Thái, nay ở làng Đồng Dương xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc)
Tượng thờ thì có tượng bà Ponagar ở làng Ưu Điềm (xã Phong Hòa, huyện
Phong Điền), tượng bà tám tay ở làng Mỹ Xuyên, tượng chó đá ở thôn Nam Dương,
tượng bò đá ở làng Đức Nhuận (đều thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền) và
đặc biệt là các tượng linga, yoni ở nhiều nơi khác như ở xã Phong Thu, Phong Hiền,
xã Phong Hòa, huyện Phong Điền.
Phù điêu đá cũng nhan nhản các nơi trên và trong ngoài thành Hóa Châu, như
phù điêu Civa ở làng Thanh Phước (xã Hương Phong, huyện Hương Trà), phù điêu
ở làng Thành Trung (xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền), làng Xuân Hòa
(phường Hương Long, thành phố Huế), phù điêu Tangdeva phường Thủy Lương,
thị xã Hương Thủy
Trụ đá và bia cũng rải rác ở các làng Vu Lai trung, Đông Xuyên (huyện Quảng
Điền), Văn Thế (huyện Hương Thủy)
Đền miếu thì có đền miếu thờ bà Ponagar ở làng Khuất Phố (nay là làng Hải
Cát, huyện Hương Trà), đền thờ Dàng ở làng Bạt Thát (nay ở xã Thuận An), đền ở
làng Liễu Cốc Thượng (xã Hương Xuân, huyện Hương Trà) Và còn nhiều di vật
tín ngưỡng Chăm ở nhiều nơi khác mà thời gian, bão lụt, chiến tranh đã chôn vùi
vào trong lòng đất.
Huế còn cả phế tích 3 tòa thành của người Chăm, nằm trên ba góc một tam
giác, đều ở ven sông, trấn đóng từ nguồn tới biển, như thói quen bố trí thành trì của
người Chăm xưa: mũi là tòa thành Khu Túc (nay là phế tích thành Hóa Châu) ở hạ
lưu sông Hương, nơi giao hội của sông Hương, sông Bồ, hai góc đấy là thành Lồi
ven thượng lưu sông Hương, trên đất làng Dương Xuân, Nguyệt Biều, Long Thọ và
thành đất tại làng Vu Lai thành ven thượng lưu sông Bồ.
Kiến trúc đền tháp khác biệt, tượng thờ khác biệt, xa lạ với tín ngưỡng truyền
thống của dân tộc Việt, đối với dân tộc khác, nhiệt thành với tín ngưỡng của mình,
thì có thể hủy phá. Nhưng người Việt từ trong bản chất hiếu hòa và không cuồng
nhiệt theo một tôn giáo nào, vả lại thân phận tha hương, làm ăn trên một vùng đất
mà người chủ trước đã từng khai phá, đã làm cho người Việt tôn trọng và kiêng nể
những di tích, di vật này.

XVIII” [39, trang 42-46].
Như vậy, tín ngưỡng của cư dân tiền trú trên đất Châu Hóa đã chuyển hóa
phần nào vào tín ngưỡng người dân Huế. Đó là chưa kể một số tập tục thờ cúng
khác của cư dân Huế, mà người Chăm là một trong những đối tượng được dâng
cúng, nhằm biểu tỏ lòng biết ơn cư dân Chăm, tiền chủ của xứ Huế.
1.1.4.3 Tín ngưỡng của người Hoa nhập cư
Người Hoa có một đặc tính bền vững là dẫu đi tha phương lập nghiệp vẫn luôn
gắn bó với cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển phong tục truyền thống của
mình, đặc biệt về tín ngưỡng lại càng tôn sùng bảo lưu. Hoàn cảnh sống tập trung
trong một môi trường cộng đồng ít nhiều biệt lập, đường dây giao lưu của thuyền
buôn Hoa Nam đến đất mới liên tục củng cố, gắn liền đạo nghĩa của lưu dân với cố
hương, đã tạo thành điều kiện khá thuận lợi cho việc phục hồi tín ngưỡng bản quán
tại vùng đất lập nghiệp mới.
Quan hệ giao lưu hỗ tương giữa người Hoa nhập cư và dân Việt tại Huế đã tác
động đến nhiều mặt sinh hoạt của cư dân Huế, trong đó tất yếu có mặt tín ngưỡng.
“Hệ thống thờ phụng trong cộng đồng bang hội của người Hoa khá tập
trung, đó là:
Thờ Thiên Hậu: Để tưởng nhớ công ơn hộ trì cho người đi biển và cầu đảo
thần linh bảo hộ cho thuyền buôn trên hải trình muôn dặm, người Hoa đã phụng thờ
Thiên Hậu. Đó là một nữ thần bảo hộ cho người đi biển. Nguyên là một cô gái đồng
trinh, họ Lâm, con thứ sáu ông Lâm Nguyện, người đất Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến,
đời Tống. Thuở nhỏ đã có phép thần thông dị thường.
Các Hoa thương tại Huế đã dựng cung Thiên Hậu ở làng Minh Hương Địa
Linh khoảng cuối thế kỷ XVII. Mãi đến năm Minh Mạng thứ VII (1826) mới được
triều đình Huế sắc phong Thiên Hậu làm Hồng Từ Bác Nghĩa An Tế thượng đẳng
thần. Lần lượt các năm 1831, 1842 cũng được gia phong mỹ tự. Đến năm Tự Đức
thứ 3 (1850) lại gia tặng Hồng Từ Bác Nghĩa An Tế Phổ Trạch Linh Hữu Gia Trang
Thiên Phi thượng đẳng thần.
Thờ Tam vị vương gia và Ngũ vương: Người Hoa cũng còn thờ ba vị vương
gia thay trời tuần thú, đã từng được vinh phong vào niên hiệu Thiên Bửu đời

Thờ Tài thần: Là vị thần có nhiệm vụ bảo hộ, phò trì cho người kinh doanh
buôn bán được phát tài, giàu có. Ở Trung Quốc, có nhiều truyền thuyết về vị thần
này, tất cả đều là sự thần thoại hóa về một số người Hoa xưa, hoặc biết tiết kiệm mà
trở nên giàu có, hoặc gặp vận hanh thông, từ nghèo mà trở thành đại phú.
Hệ thống thần tài được người Hoa sắp xếp, trên hết là: Đô Thiên Chí Phú Tài
Bạch tinh quân, dưới là các thần tài như: Chánh Nhất Huyền Đàn, Văn Tài Thần,
Võ Tài Thần, Ngũ Lộ Tài Thần, Chiêu Tài Chi Thần, Lợi Thị Chi Thần và Thổ Địa
Phước Đức Tài Thần
Bắt chước theo người Hoa, giới kinh doanh buôn bán ở Huế đều lập khám thờ
thần Tài, đặt tại cửa hàng hay nhà của mình. Trong khám thờ thường thiết một bức
kính gương viết chữ Hán danh hiệu thần như sau: Ngũ Phương, Ngũ Thổ Long Thần,
Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần, với hai câu đối thờ: “Kim chi sơ phát điệp – Ngân thọ
chính khai hoa” (Cành vàng vừa hé nụ, cây bạc đã khai hoa)” [39, trang 46-52].
1.1.4.4 Ảnh hưởng của Tam giáo: Phật, Đạo, Nho
Xét về nguyên ủy, tín ngưỡng dân gian nói chung đã hình thành và hiện hữu
trong đời sống người dân trước khi có tôn giáo. Nội hàm của tôn giáo thì có thể
phân lập từng yếu tố: giáo chủ, giáo đoàn, giáo lý. Nhưng nội hàm của tín ngưỡng
dân gian Huế thường khá mơ hồ, đa dạng. Cả hai đều có lịch sử hình thành, phát
triển và chuyển hóa, đều có sự phân biệt rõ, nhưng vẫn có thể có những vùng giao
thoa. Có thể có trường hợp từ tín ngưỡng dân gian, một cá nhân ưu việt kết tập
thành một tôn giáo. Và cũng có thể có trường hợp một tôn giáo suy đồi biến thành
tín ngưỡng dân gian. Trong quá trình vận động, phát triển, tín ngưỡng dân gian và
tôn giáo có thể tác động lẫn nhau, cũng như có những dung hợp, tiếp biến trong các
sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân.
Tín ngưỡng dân gian Huế có gốc rễ sâu xa là tín ngưỡng truyền thống của dân
tộc Việt. Trong quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng dân gian Huế từng
chịu ảnh hưởng của tam giáo. Có thể có sự ảnh hưởng từ gốc rễ của tam giáo trên
tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, và cũng có thể có ảnh hưởng muộn hơn của các
tôn giáo Phật, Đạo, Nho tại Huế tác động vào tín ngưỡng dân gian Huế, tạo nên bức
tranh sống động, hài hòa trong sự hỗn dung và tiếp biến [39, trang 52-53].

Huế thường cử hành lễ dương sao giải hạn. Lòng tín ngưỡng những thế lực thần linh
ma quỷ chi phối vận mệnh con người cũng đã buộc cư dân Huế hàng năm, hoặc cách
vài năm phải dâng lễ cúng thành cho phụ nữ, với những nghi thức hành lễ của đạo sĩ
hay pháp sư. Ngược lại, thanh niên trai trẻ cũng có thể vương mang sự chòng ghẹo, gắn
bó của những hồn ma thiếu nữ linh thiêng, vì thế phải cầu cúng, trả lễ; Những thai non
ngày bị sa sẩy bất ngờ, không được chôn cất thờ cúng cũng được xem như là nguyên
nhân làm cho cha mẹ hay con cháu ốm đau, bệnh tật, rủi ro, cần làm lễ dâng cúng
chuộc vớt khỏi phải trầm luân; Những người bị tai nạn bất ngờ, hay chiến tranh, tai họa
làm mất xác cũng phải cầu cúng làm lễ chiêu hồn lập cốt để an táng; Ngay cả miếng
đất, mảnh vườn cư trú, đạo sĩ, pháp sư có thể xem như bị trì trệ, trầm luân, gọi nôm na
là “đất động” cần phải dâng lễ với đất, lễ tạ thổ; Cho đến các gia tộc, dòng họ thường
định kỳ 6 năm, 12 năm phải làm lễ bạt độ, trai tiến hay trai đàn chẩn tế để cầu cúng cho
những vong linh thân thuộc được siêu thoát; Hiện tượng dịch bệnh lan tràn gieo rắc cái
chết nhanh chóng trong một xã hội u tối, việc hữu sinh vô dưỡng, theo quan niệm của
pháp sư, đạo sĩ là do thần ôn hoàng dịch lệ, con ranh con lộn truy bắt, đã làm cho nhân
dân điêu linh càng kiệt quệ với bao lễ cầu cúng, nam thương, tạ lễ…” [39, trang 56-
57].
Tất cả những chỗ trống vắng của khoa học, y học đã làm cho Đạo giáo thời
trung đại chi phối đa số tập tục, nghi lễ tín ngưỡng dân gian Huế. Trong những
trường hợp này, hình thức cầu cúng đều dựa vào đạo sĩ, pháp sư. Còn tuyệt nhiên,
Đạo giáo không hề cung cấp một nhân sinh quan giải thoát, một con đường tu tập
hay xử thế cho nhân dân.
Ảnh hưởng của Nho giáo: Nho giáo đã tránh đề cập đến quỷ thần, như lời đáp
của Khổng Tử đối với môn đồ: “Chưa biết thờ người, sao lại thờ quỷ? Chưa biết
sống, sao lại biết cái chết?”. Nhưng quan niệm “kính thần như thân tại” (kính quỷ
thần như quỷ thần đang có đó) đã làm cho nhân dân Việt Nam, đặc biệt nhân dân
Huế chăm lo thờ phụng quỷ thần. Khổng Tử cũng đã nói: “Đức của quỷ thần thịnh
vậy thay! Xem mà không thấy được, lắng nghe mà không nghe được, thâm nhập vào
mọi vật mà không thể thiếu sót, nhơn nhơn như ở bên trên, như ở hai bên phải trái”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status