Áp dụng các liệu pháp chơi và liệu pháp nghệ thuật trong việc hỗ trợ tâm lý trẻ em sống trong một số cơ sở bảo trợ xã hội tại TP hồ chí minh - Pdf 30

1 ÁP DỤNG CÁC LIỆU PHÁP CHƠI VÀ LIỆU PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG
VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ TRẺ EM SỐNG TRONG MỘT SỐ CƠ SỞ BẢO TRỢ
XÃ HỘI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH Nhóm tác giả nghiên cứu: Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Thị Thu trúc, Cao Huỳnh Thị
Thương Mỵ, Hà Thị Huyền, Trần Thu Vân, Trần Thị yến, Phan Văn Phúc, Nguyễn Thị
Thủy, Lâm Mỹ Phương, Nguyễn Thị Hạnh Dân.
(Chi hội Tâm lý Trị liệu TRĂNG NON) PHẦN DẪN NHẬP

Chi hội Trăng Non ngay từ khi thành lập đã định hướng làm việc hỗ trợ cho các trẻ em và
vị thành niên có vấn đề khó khăn về tâm lý. Bên cạnh việc tiếp xúc hỗ trợ những trẻ em
có khó khăn tâm lý những vẫn sống trong vòng tay gia đình, chúng tôi vẫn không quên
định hướng cho việc hỗ trợ tâm lý những trẻ em mồ côi, bất hạnh sống và được nuôi
dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Việc chọn lựa đối tượng nghiên cứu là những trẻ
mồ côi hoặc trẻ bị bỏ rơi, do vậy, đã là một trong các định hướng làm việc chính của
chúng tôi trong nhiều năm qua.

Bài báo cáo này là tập hợp kết quả từ những thực hành lâm sàng mà tập thể hội viên và
các cộng tác viên Chi hội Trăng Non thực hiện cùng với các công trình nghiên cứu của
sinh viên do Trăng Non phụ trách hướng dẫn trong khoảng thời gian từ tháng 2-2006 cho
đến tháng 5-2013 (trên thực tế cho đến nay vẫn còn đang tiếp tục thực hiện). Chúng tôi
mong việc trình bày các kết quả làm việc này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào những thành
quả chung trong hoạt động của Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh và
2

3

trường hợp nghiên cứu khi áp dụng các liệu pháp chơi và nghệ thuật trị liệu cho trẻ như
sau:
1. Chơi và sáng tạo nghệ thuật là cách thức đứa trẻ giải bày và bộc lộ nội tâm thay
cho lời nói, từ đó giúp nhà trị liệu tâm lý hiểu trẻ và đối thoại được với trẻ;
2. Các chất liệu tạo ra trong lúc chơi và sáng tạo nghệ thuật có tính ẩn dụ
(metaphoric) hoặc biểu trưng (symbolic) cho những nội dung và chủ đề thực tế mà
trẻ không trực tiếp nói đến. Do một số các vấn đề thực tế trong đời sống của trẻ có
thể có tính chất đau buồn hoặc dễ gây tổn thương, nên việc nói về những chủ đề ấy
một cách gián tiếp (thông qua chơi và sáng tạo nghệ thuật) có thể giúp trẻ cảm
thấy an toàn hơn khi giải bày;
3. Thông qua làm việc trên các chất liệu từ chơi và sáng tạo nghệ thuật, nhà trị liệu
có thể thực hiện các can thiệp và hỗ trợ cho trẻ, giúp trẻ giải tỏa các cảm xúc tiêu
cực, thiết lập quan hệ an toàn với nhà trị liệu, từ đó trẻ có thể được hiểu, được
nâng đỡ, có điều kiện khám phá các nguồn lực từ bản thân và đương đầu tốt hơn
với nghịch cảnh;
4. Chơi và sáng tạo nghệ thuật là những phương pháp có “tính năng kép”: vừa sử
dụng để chẩn đoán, đánh giá nội dung và mức độ của các vấn đề tâm lý của trẻ,
vừa để thông qua đó mà nhà trị liệu thực hiện những can thiệp hỗ trợ trẻ về mặt
tâm lý.

Trong phạm vi bài tham luận hội thảo, chúng tôi xin phép trình bày những cơ sở lý luận
chính và phần tóm lược một số kết quả thu nhận bước đầu qua quá trình làm việc. Đây
chưa phải là một báo cáo khoa học đầy đủ. Chúng tôi xin phép được bảo mật các thông
tin cá nhân liên quan đến những trường hợp nghiên cứu, kể cả các thông tin về lịch sử cá
nhân lẫn những hình ảnh ghi lại các sản phẩm từ những buổi làm việc thực tế (tranh vẽ,
tượng, cảnh chơi của trẻ). Hình ảnh nếu có trình bày trong bài thì chỉ có tính chất minh
họa.


- Các bước can thiệp (Intervention)

5

Nghiên cứu trường hợp chú trọng việc tìm hiểu sâu các hiện tượng xảy ra trong bối cảnh
đời thực của một trường hợp cụ thể. Những mô tả đi theo tính chất tự nhiên vốn có, vốn
đã xảy ra của những con người và những sự kiện liên quan đến những người ấy. Nó cũng
đi theo dòng suy nghĩ và tâm trạng chủ quan của người thực hiện (nhà tâm lý lâm sàng).
Nó có tính chất độc đáo vì mỗi trường hợp là duy nhất, không lập lại ở những trường hợp
khác, và những tính chất độc đáo, riêng biệt đó không thể được thấy trong các nghiên cứu
thống kê được thực hiện trên số đông. Nghiên cứu trường hợp cũng có thể cung cấp nhiều
giả thuyết về các vấn đề bệnh lý khác nhau và cũng có thể từ đó đặt giả thuyết về các
cách thức xử lý chúng. Và khi nghiên cứu trường hợp được thực hiện với sức thuyết phục
cao, nó có thể cung cấp một bằng chứng để phủ định những giả thuyết có thể đã từng
được chấp nhận rộng rãi trước đó.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu trường hợp, các dữ liệu thu thập có thể bị ảnh hưởng bởi
tính chủ quan của người thực hiện (nhà tâm lý lâm sàng) và cả do tính chủ quan của
người cung cấp dữ liệu (thân chủ). Kết quả nghiên cứu trường hợp không thể được khái
quát hóa, không có khả năng lập lại ở những nghiên cứu khác sau đó và do vậy không đủ
chứng cứ để xác lập liên hệ nhân quả giữa các sự kiện, hiện tượng.

Trong việc tập hợp các kết quả nghiên cứu mà chúng tôi đang thực hiện, chắc chắn cũng
không thể tránh khỏi những khuyết điểm mà phương pháp nghiên cứu này vốn có. Đó
cũng là một trong số những giới hạn quan trọng của việc tập hợp kết quả nghiên cứu của
chúng tôi.


trung tâm sức khỏe tâm thần và cả những cơ sở làm công tác xã hội thiện nguyện.

Liệu pháp chơi không hướng dẫn được trình bày ở đây có liên quan đến việc thiết lập
một mối quan hệ đặc biệt một-một: giữa nhà trị liệu và một đứa trẻ; trong đó nhà trị liệu
7

tạo nên một bầu khí làm việc có tính an toàn và đáng tin cậy mà qua đó đứa trẻ có thể
cảm thấy tự do để giải bày và khám phá những cảm xúc cũng như những ý nghĩ của
chính bản thân trẻ. Đứa trẻ có thể giao tiếp một cách trực tiếp thông qua lời nói (cả cách
nói cụ thể lẫn cách nói có tính ẩn dụ) hoặc một cách gián tiếp thông qua hành vi và nội
dung chơi.

Công việc của nhà trị liệu là lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng lại với trẻ bằng cách thức
sao cho có thể giúp trẻ hiểu được nhiều hơn những cảm xúc của chính mình. Những
khía cạnh tiêu cực về cảm xúc sẽ mất đi sức mạnh chi phối của chúng khi trẻ được phép
giải bày và được trải nghiệm những cảm xúc ấy trong một mối quan hệ có tính chấp
nhận giữa trẻ với nhà trị liệu. Điều được nhấn mạnh trong liệu pháp này là giúp trẻ
chuyển từ tình trạng phó mặc bản thân cho những cảm xúc giấu kín kia sang trạng thái
làm chủ hơn đối với những cảm xúc ấy.

Liệu pháp này được dựa trên các nguyên lý của tâm lý trị liệu không hướng dẫn (non-
directive psychotherapy) được phát triển bởi Carl Rogers tại Hoa Kỳ và được điều chỉnh
bởi Virginia Axline để áp dụng vào trị liệu tâm lý cho trẻ em (được biết nhiều thông qua
hai tác phẩm Dibs in Search of Self năm 1946 và Play Therapy năm 1947). Triết lý nền
tảng của loại liệu pháp này chính là điều hiện hữu trong tất cả mọi con người, đó chính
là khuynh hướng tự hiện thực hóa bản thân (self-actualization) cả ở người lớn lẫn ở trẻ
em. Giả định được đặt ra là khi trẻ có cơ hội tự do giải bày các cảm xúc của chính mình,
trẻ sẽ tìm thấy các giải pháp để giải quyết các khó khăn về cảm xúc của bản thân và trẻ
sẽ sử dụng nhà trị liệu cùng các trải nghiệm trong khi chơi để thực hiện điều đó.


7. Nhà trị liệu không cố thúc đẩy tiến trình trị liệu đi tới. Cần hiểu rằng đây là một
tiến trình lâu dài, từ từ.
8. Nhà trị liệu chỉ nên thiết lập những giới hạn cần thiết để gắn kết tiến trình trị liệu
với thực tế đời sống và giúp trẻ nhận ra trách nhiệm của trẻ trong mối quan hệ trị
liệu này.
(Axline, 1987: 73-74)
9

Axline cũng nhấn mạnh rằng liệu pháp không hướng dẫn là một tiến trình hợp nhất,
trong đó mỗi nguyên lý nêu trên có tính đan xen và tương quan phụ thuộc với các
nguyên lý khác. Vì thế khi nhà trị liệu có lòng tin vào sức mạnh của thân chủ trong
việc tự giải quyết vấn đề sẽ mang lại khả năng chấp nhận thân chủ như chính con
người vốn có của họ, sẵn sàng cho phép thân chủ lựa chọn và sẵn lòng tôn trọng các
quyết định của họ. Tuy nhiên, sự chấp nhận như thế không có nghĩa là nhà trị liệu chỉ
là một người quan sát thụ động trong các phiên trị liệu. Nhà trị liệu phải có khả năng
tham gia tích cực, tạo lập bầu khí sao cho thân chủ có thể làm rõ các vấn đề và khám
phá khả năng của họ. Điều làm cho liệu pháp này khác biệt với những cách thức can
thiệp và các liệu pháp khác chính là bản chất “không hướng dẫn”. Chính đứa trẻ là
người chọn lựa các trọng tâm và chủ đề khi chơi trong phòng trị liệu, bên trong những
ranh giới, khuôn khổ được vạch ra một cách cẩn thận. Vai trò của nhà trị liệu là tạo lập
nên một mối quan hệ thân tình và tin cậy lẫn nhau, phản ảnh và đáp ứng lại các ý nghĩ,
cảm xúc và hoạt động theo cách sao cho trẻ có thể tự giải quyết các vấn đề cảm xúc
của mình bằng chính cách thức mà trẻ lựa chọn và xảy ra với nhịp độ của chính đứa trẻ
đang thực hiện. Khác với những liệu pháp khác, sự phản ảnh mà nhà trị liệu thực hiện
không bao gồm sự khen thưởng, diễn giải hoặc thách thức. Các giới hạn trong phòng
trị liệu phải được thiết lập. Nhà trị liệu phải đảm nhận trách nhiệm của một người lớn
trong việc bảo đảm sự an toàn cho trẻ, gìn giữ vật liệu chơi, phòng chơi và ấn định
khuôn khổ thời gian làm việc. Bên trong những giới hạn được thiết lập rõ ràng như
thế, bầu khí của phòng chơi trị liệu phải thực sự thư giãn. Hành vi và cách giao tiếp
của nhà trị liệu phải tạo nên nơi trẻ những cảm nhận về sự an toàn và tin cậy, từ đó nếu

các biểu tượng được tạo ra bởi bệnh nhân. Sản phẩm tạo ra là một dạng của giao tiếp
giữa nhà trị liệu và bệnh nhân, chính họ tạo nên ngôn ngữ biểu tượng.

Đến nay, nghệ thuật trị liệu phát triển theo hai nhánh: (1) Sử dụng nghệ thuật như là
một phương pháp tự thân nó có tính trị liệu và (2) Liệu pháp tâm lý trong đó sáng tạo
nghệ thuật là môi trường để thực hiện sự giao tiếp và tương tác giữa nhà trị liệu và thân
chủ. Nhánh tiếp cận đầu nhấn mạnh tiềm năng chữa lành của nghệ thuật, trong khi đó,
nhánh thứ hai nhấn mạnh vào mối quan hệ trị liệu được thiết lập giữa nhà nghệ thuật trị
liệu và thân chủ trong hoạt động có tính nghệ thuật. Điều quan trọng phân biệt hai
nhánh quan điểm này là việc đặt trọng tâm sự thay đổi có tính trị liệu nằm ở đâu. Trong
nghệ thuật trị liệu, động lực thúc đẩy tiến trình trị liệu là một bộ ba quan hệ giữa nhà trị
liệu, thân chủ và hoạt động nghệ thuật. Tùy vào giai đoạn làm việc, mối quan hệ giữa
hai trong ba nhân tố của bộ ba này sẽ được nhấn mạnh để đạt đến hiệu quả trị liệu.

Theo quan điểm đương thời, nghệ thuật trị liệu được xem là một trong những phương
pháp trị liệu tạo nên tranh, ảnh hoặc vật thể - gọi chung là các tác phẩm nghệ thuật có
thể nhìn thấy được (visual arts); và quá trình sáng tạo nghệ thuật ấy đóng vai trò trung
tâm trong mối quan hệ giữa nhà nghệ thuật trị liệu và thân chủ.

Hiệp hội các nhà nghệ thuật trị liệu Anh Quốc định nghĩa: Nghệ thuật trị liệu là việc sử
dụng chất liệu nghệ thuật cho việc tự bộc lộ và phản ánh dưới sự hiện diện của một nhà
nghệ thuật trị liệu đã được huấn luyện. Thân chủ tham gia tiến trình nghệ thuật trị liệu
không cần có kỹ năng hoặc trải nghiệm về nghệ thuật trước đó. Khởi đầu, nhà nghệ
thuật trị liệu không chú tâm đến việc đánh giá khiếu thẩm mỹ hay chẩn đoán bệnh nhân
trên sản phẩm nghệ thuật của họ. Mục tiêu chung của các nhà thực hành là phải thúc
đẩy thân chủ thay đổi và trưởng thành lên mức độ mới thông qua sử dụng chất liệu nghệ
thuật trong điều kiện an toàn và dễ dàng.

12



nhận về tình yêu và sự thù hận, về nỗi tuyệt vọng và các sang chấn tâm lý khó có thể
dùng ngôn từ để diễn đạt một cách chính xác. Điều này đặc biệt liên quan đến những
khó khăn có nguồn gốc thời thơ ấu. Tại điểm này, nghệ thuật trị liệu cung cấp một
phương thức để vượt qua những cảm nhận khó chịu như nản lòng, khủng hoảng và cô
độc, bằng cách chọn lựa một cách thức trung gian để giao tiếp và diễn đạt mà ở đó cảm
giác có thể được bày tỏ và được người khác hiểu.

Trong bối cảnh một mối quan hệ có tính nâng đỡ, thông qua việc tạo dựng những hình
ảnh do thân chủ sử dụng trí tưởng tượng của mình để thể hiện tư duy và cảm xúc, cùng
với sự lãnh nhận những thách thức, có thể giúp thân chủ trở nên trưởng thành hơn về
mặt cảm xúc, gia tăng lòng tự trọng, thống hợp các đặc trưng tâm lý và xã hội của bản
thân mình.

3. Liệu pháp khay cát (sandtray hoặc sandplay therapy) Cảnh chơi trên khay cát (Nguồn: Trăng Non 2012)

14

Trò chơi trên cát là một loại công cụ sử dụng trong chơi trị liệu (play therapy) – một
hình thức tâm lý trị liệu cho trẻ nhỏ có vấn đề tâm lý, đôi khi có thể áp dụng cho cả trẻ
lớn, vị thành niên, cá nhân người lớn hoặc cả gia đình. Những hình mẫu thu nhỏ
(miniatures), tượng trưng cho những con người, thú vật, hoặc sự vật thông thường có
thật trong thực tế, sẽ được sử dụng để tạo nên những bối cảnh và nội dung chơi trên bề
mặt của cát. Tên thông dụng trong tiếng Anh chỉ cách làm này là sandplay (trò chơi trên
cát) hoặc sandtray therapy (liệu pháp chơi trên khay cát), hoặc như cách gọi tên của
Magaret Lowensfeld (tác giả của phương pháp) là World Technique (Kỹ thuật Thị hiện
Thế giới). Phép tiếp cận này được sử dụng trong một bối cảnh có tính nghi thức, có sự

xử lý nội dung trong khay cát chủ yếu dựa trên những trải nghiệm của thân chủ tại đây
và ngay lúc này (here-and-now).

Quan điểm nhân văn tin rằng khi con người tăng trưởng và phát triển ở lứa tuổi trẻ em
và vị thành niên, họ sẽ có thể bị mất đi mối liên lạc với chính con người mà mình đang
là. Họ có thể đã học cách chấp nhận một số cảm xúc nào đó và không chấp nhận những
cảm xúc khác. Trong tiến trình chối bỏ những gì thuộc về con người thật của mình, họ
có thể trở nên mất liên lạc với bản ngã thực sự của chính mình. Liệu pháp khay cát theo
trường phái nhân văn mang đến những trải nghiệm về sự tái kết nối của con người với
bản ngã chân thực của mình và giúp con người trở lại khám phá các ước mơ, hy vọng và
tầm nhìn của mình.

Giống như liệu pháp chơi (play therapy) ở trẻ nhỏ, liệu pháp khay cát mang lại một trải
nghiệm có tính chủ động, không lời, gián tiếp và mang tính biểu tượng. Giai đoạn tạo
cảnh (scene creation phase), trong đó thân chủ sắp đặt các hình mẫu thu nhỏ vào trong
khay cát, là một giai đoạn rất quan trọng và cũng là giai đoạn trung tâm đạt đến các trải
nghiệm từ khay cát. Trong liệu pháp khay cát theo trường phái nhân văn, giai đoạn xử
lý (processing phase) sẽ mang lại thêm những trải nghiệm vốn đã hình thành trong giai
đoạn tạo cảnh và cho phép suy xét lại trải nghiệm ấy. Thông qua giai đoạn xử lý, thân
chủ có thể nhìn lại bối cảnh trong khay và trải nghiệm về tác động của nó.

16

Tất cả các thành phần như khay cát, những hình mẫu thu nhỏ, không gian an toàn trong
khay cát, những lời nói sử dụng trong khi chơi trên cát và cả công việc trong giai đoạn
xử lý đều có tầm quan trọng trong việc tạo nên hiệu quả trị liệu. Khay cát là một loại
công cụ sử dụng cho các hoạt động nghệ thuật mang tính giải bày, diễn đạt. Những gì
mà khay cát mang lại bao gồm:

1. Một môi trường được cấu trúc tốt qua đó những hình ảnh ẩn dụ của thân chủ sẽ

hướng đạt đến sự lành mạnh để đáp ứng và thích nghi với đời sống” (Kirschenbaum,
1979).

Khi nhà trị liệu gặp thân chủ, dù là trẻ em hay người lớn, họ thậm chí còn cần nhiều
hơn một “môi trường bình thường phù hợp” như thế, bởi vì họ đã không thể có được
lòng tin của một trẻ nhỏ. Vì vậy, việc thiết lập một bầu khí tối ưu cho tăng trưởng là
điều tuyệt đối quan trọng. Mối quan hệ trị liệu là trung tâm của bầu khí này, và khả
năng tự nhận biết bản thân cùng với kỹ năng của nhà trị liệu có thể tạo nên bầu khí này
và làm chất xúc tác cho sự tăng trưởng nơi thân chủ.

Trong liệu pháp khay cát, nhà trị liệu tạo lập một không gian an toàn và có tính chấp
nhận để thân chủ có thể đối diện với các chủ đề cốt lõi của họ. Giống như trong liệu
pháp chơi, bản chất mang tính ẩn dụ của khay cát giúp tạo nên một khoảng cách an
toàn để thân chủ có thể giải bày những cảm xúc đau khổ của họ. Khay cát cho phép
thân chủ bộc lộ bản thân họ dưới hình thức những biểu tượng không lời, đồng thời tạo
nên một sản phẩm phóng chiếu có tính thị hiện những thực tại chủ quan trong nội tâm
cũng như trong các mối quan hệ của thân chủ. 18 Các nguyên tắc cơ bản khi làm việc với trẻ (V. Axline)

1. Phát triển một mối quan hệ thân thiện và nồng ấm với đứa trẻ.
2. Chấp nhận hiện trạng của đứa trẻ như nó đang thật sự biểu hiện.
3. Thiết lập một cảm giác lạc quan, cho phép trẻ tự do giải bày cảm xúc.

liệu có thể thực hiện những can thiệp, hỗ trợ tâm lý cho trẻ. Những hình vẽ của trẻ chứa
đựng các nội dung có tính ẩn dụ cao, tiết lộ nhiều điều về hoàn cảnh và nhân thân của
trẻ.

Trong công trình của Hà Thị Huyền (2006), có 9/10 trường hợp trẻ vẽ hình cây. Cách
thể hiện phổ biến là vẽ cây đơn độc hoặc cây có quả hoặc lá lìa cành. Phần lớn các trẻ
vẽ cây không có rễ và không có hoặc có ít cành nhánh. Chỉ có 1/9 trường hợp vẽ cây có
rễ và cành, nhưng cây này rất mỏng manh và lửng lơ như đang bay đi xa dần (Huyền,
2006). Thân cây từ gốc đến ngọn gần như bằng nhau, mà theo các nhà nghiên cứu cách
vẽ ấy nói lên việc trẻ khao khát tình thương; cây không có gốc rễ được giả định là có
liên hệ về mặt ý nghĩa với việc trẻ không biết rõ nguồn gốc xuất thân của mình; lá hay
quả lìa cành cũng nói lên việc trẻ xa lìa gia đình gốc của mình

Nghiên cứu của Huyền cũng nhận thấy, mặc dù với đối tượng là trẻ mồ côi hoặc bị gia
đình bỏ rơi, hầu hết trẻ đều thể hiện nội dung gia đình qua tranh vẽ. Thể hiện chính là
những thành viên trong gia đình, với những sinh hoạt bên trong một ngôi nhà. Một nửa
số trẻ (5/10) tái hiện lại nội dung cái chết của cha hoặc mẹ. Có 3/10 trẻ khi được yêu
cầu vẽ gia đình thì thể hiện cảnh sinh hoạt của một nhóm người (không phải gia đình).
Một số còn lại nhắc đến nội dung gia đình theo kiểu hình ảnh ẩn dụ (thông qua chuyện
về thú vật). Điều này cho thấy, chủ đề gia đình thường xuyên là chủ đề rất đáng quan
tâm của trẻ, dù qua hình vẽ trẻ đang nói về một gia đình tưởng tượng, mơ ước, hoặc trẻ
nói về những ký ức về gia đình trước đây, hoặc có khi chỉ nêu cách nhìn của trẻ về gia
đình thay thế đó chính là môi trường mái ấm mà trẻ đang cư ngụ.

20

Một số trẻ từ chối khi yêu cầu vẽ hình người (8/10), nhưng khi yêu cầu tiếp tục có 5 trẻ
vẽ hình người. Những hình vẽ người có thể dưới dạng mặt ma quái (1 trường hợp),
người không tay chân (1 trường hợp), hình vẽ người như hình cây có mặt người (1
trường hợp), 1 trường hợp vẽ hình người đầy đủ nhưng được quy là một người khác (trẻ

chóng dùng bút xóa hết những gì đã vẽ. Bé trai ấy đã phần nào biết được lai lịch của
mình một cách gián tiếp qua một phụ nữ mà trẻ biết là mẹ nuôi. Trong thực tế, cha mẹ
ruột của trẻ đã bỏ rơi trẻ khi trẻ mới chỉ khoảng 1 tuổi. Họ đến thuê phòng một một nhà
trọ, rồi bỏ con lại. Người phụ nữ chủ nhà trọ đã giữ trẻ nuôi một thời gian, nhưng sau đó
gửi trẻ vào mái ấm. Vào lúc trẻ vẽ hình quả trứng bị rơi khỏi chuồng, trẻ đang có biểu
hiện chống đối các giáo dục viên của mái ấm, có lúc đòi bỏ mái ấm đi tìm mẹ.
Trong can thiệp hỗ trợ tâm lý cho một trường hợp trẻ khiếm thị mồ côi sống trong mái
ấm (Phúc, 2012), phương pháp sử dụng hình vẽ đã được thay thế bằng việc sử dụng đất
nặn. Tác phẩm nghệ thuật được chuyển từ tranh vẽ dành cho trẻ “sáng” thành các vật
thể làm từ đất nặn để có thể được nặn và sờ chạm bởi trẻ khiếm thị. Trường hợp được
nghiên cứu là một trẻ nữ 14 tuổi, bị bỏ rơi từ nhỏ và được đưa rất xa từ miền Bắc vào
một mái ấm tại Tp.HCM. Khi sử dụng đất nặn, chủ đề “chiếc lá lìa cành” và “quả trái bị
dư thừa” được trẻ nói đến: Quả trái dư thừa, nó là cái quả cuối cùng trên cây, nhưng
đến một ngày chiếc lá rụng đi, cái quả này không thể chịu đựng nổi. Cô đơn chồng cô
đơn. Nó hy vọng có thể rơi xuống và vỡ tan cùng chiếc lá. Có lẽ đó là giải pháp tốt
nhất – Trích lời của trẻ nói (Phúc, 2012).

Nói chung, thông qua sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật như tranh vẽ, nặn tượng, trẻ
mồ côi và trẻ bị bỏ rơi thường cố gắng thông tin cho nhà trị liệu về hoàn cảnh, nhân
thân của trẻ, hoặc thể hiện những nỗi lo sợ của trẻ về những hoàn cảnh ấy. Việc bộc lộ
như thế rất khó cho trẻ nếu phải diễn đạt thành lời nói. Chỉ thông qua những hình ảnh có
tính ẩn dụ và ở trong một môi trường có tính an toàn với sự thấu cảm, tôn trọng của nhà
trị liệu, trẻ mới có thể thoải mái hơn và tự do hơn trong việc bộc lộ. Tự thân việc bộc lộ
ấy với sự hiện diện của nhà trị liệu đã có tính chất chữa lành những đau thương và lo âu
của trẻ.
22


bịa chuyện và trong buổi thứ 5, trẻ vẽ một bức tranh có ngôi nhà với những đứa trẻ đang
vui chơi bên ngoài. Trẻ nói về cái chết của bố mẹ “ba em chết, rồi mẹ em cũng chết. Em
và H (em của trẻ) còn nhỏ lắm. H vào đây (làng trẻ mồ côi) trước em”. Trẻ nói như thể
đang chấp nhận dần thực tế đau buồn của trẻ và cũng buổi ấy, bé đề nghị được mang
bức tranh ngôi nhà mà mình đã vẽ đem về nhà ở của mình trong làng. Vào buổi sau
cùng, trẻ vẽ một bức tranh tối màu, bên trong cũng có hình một ngôi nhà mà trẻ gọi tên
là “nghĩa địa” nhưng không nói gì thêm. Và trẻ xin mang cả 2 bức tranh sau cùng ấy về
nhà ở của mình trong làng, với mong muốn được treo ảnh ở một chỗ riêng biệt để tưởng
nhớ bố mẹ của mình. Các cô tâm lý của nhóm Trăng Non hội ý với bà mẹ nuôi trẻ trong
làng cùng giúp trẻ thực hiện ý nguyện như một nghi thức “đưa tang” của trẻ đối với bố
mẹ của mình. Những trạng thái cảm xúc của trẻ được ghi nhận sau đó là khá tích cực.
Trẻ vui vẻ ôm tranh đi về nhà ở, khoe với mọi người và có vẻ rất tự hào về việc này.

Phòng chơi trị liệu do Trăng Non thiết lập tại Làng Trẻ SOS Gò Vấp

Trên đây chỉ là mô tả về việc sử dụng các công cụ chơi và tranh vẽ trên một trường hợp
minh họa. Nhiều cảnh chơi trong những trường hợp lâm sàng khác cũng rất phong phú,
24

nhưng trong phạm vi bài tham luận này chúng tôi khó thể kể hết. Một số hoạt cảnh chơi
ở các bé trai có nhiều phần thể hiện tính xung đột và bạo lực cao như xe húc nhau, thú
rượt đuổi hoặc ăn thịt nhau vv Phần nào cũng nói lên sự yếu đuối và lo âu của trẻ.

Chơi trên khay cát

Minh họa trường hợp: (Mỵ, Phương, 2013) Một trẻ nữ 16 tuổi, trình bày cảnh chơi trên
khay cát với 4 khu vực khác nhau: Góc 1 gồm những con thú ăn cỏ hiền lành, đang đi
lại nhởn nhơ; góc 2 với những con thú dữ như sư tử và báo đang rình rập những thú
hiền; góc 3 là hồ nước có tôm cá và hà mã bên dưới nhờ có nước che chắn nên khá an
toàn và góc 4 có những con rắn len lỏi dưới những tảng đá và một con khỉ đang ngồi

làm việc với các cô tâm lý, trẻ cũng cảm nhận được sự giới hạn của các khả năng cũng
như tính bất toàn của các giải pháp: Nếu các thú hiền thoát nguy thì các thú con trong
bầy sư tử cũng sẽ bị đói – Có lẽ đó cũng là quy luật chung trong cuộc sống!

Việc trao đổi với trẻ chỉ tập trung trong các chủ đề của cảnh chơi. Phương pháp sử dụng
khay cát (cũng giống như tranh vẽ hoặc chơi trị liệu) không nhấn mạnh đến việc diễn
giải ý nghĩa hoặc liên hệ những gì ngụ ý trong khay cát với những sự việc đang diễn ra
trong thực tế đời sống của trẻ, nhằm tránh khơi dậy những đau khổ đã có nơi trẻ. Chính
thông qua cách làm việc trên những hình ảnh có tính ẩn dụ mà nhà trị liệu có thể trao
đổi với trẻ về những điều trẻ thực sự quan tâm mà trẻ vẫn cảm thấy an toàn để thể hiện
và được hiểu.

Trong khi làm việc với trẻ với công cụ khay cát, điều quan trọng là nhà tâm lý phải
nhận ra các chủ đề được nêu ra trong cảnh chơi. Trong cảnh chơi của bé gái 16 tuổi trên
đây, trẻ đã bộc lộ chủ đề về nỗi lo âu với cuộc đời, các mối nguy đang rình rập, sự tìm
kiếm nơi chốn an toàn, sự sống và cái chết, khả năng tồn tại và qua đó trẻ cũng bộc lộ
những mâu thuẫn, xung đột trong suy nghĩ và cảm nhận của trẻ. Cũng trong khi đối
thoại với trẻ về các chủ đề như vậy, nhà tâm lý cũng giúp trẻ nhận ra các giá trị nào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status