Sử dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến trốn thuế trong cơ chế tự khai tự nộp - Pdf 30

i
Mục lục

Mục lục i
Danh mục bảng v
Danh mục hình vẽ và biểu đồ v
Danh mục từ viết tắt vi
Đề tài:
SỬ DỤNG MÔ HÌNH MẠNG THẦN KINH NHÂN TẠO ĐỂ ƯỚC LƯỢNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRỐN THUẾ TRONG CƠ CHẾ TỰ KHAI
TỰ NỘP 1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa công trình nghiên cứu 2
1.5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 3
Kết luận chương 1 3
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế 4
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của thuế 4
2.1.2 Bản chất và chức năng của thuế 6
2.2 Những vấn đề chung về cơ chế tự khai tự nộp thuế 9
2.2.1 Khái niệm cơ chế TKTN 9
2.2.2 Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế 10
ii
Chương 3. THỰC TRẠNG TRỐN THUẾ TẠI TPHCM TỪ KHI ÁP DỤNG CƠ
CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP ĐẾN NAY 26
3.1 Tình hình thực hiện kê khai thuế theo cơ chế tự khai tự nộp tại TPHCM .
26
3.1.1 Sơ lược những thay đổi của số thu thuế sau khi áp dụng cơ chế tự
khai tự nộp 27
3.1.2 Kết quả đạt được sau hơn năm năm thực hiện cơ chế tự khai tự nộp .
30
3.2 Thực trạng trốn thuế tại TPHCM những năm gần đây 32
3.2.1 Trốn thuế ngày càng tăng về số vụ và quy mô 32
3.2.2 Thực trạng trốn thuế của các DN tại TPHCM những năm gần đây 35
3.2.3 Một số nghi vấn trốn thuế điển hình ở TPHCM gần đây 40
Kết luận chương 3 43
CHƯƠNG 4. ƯỚC LƯỢNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRỐN THUẾ
Ở TPHCM BẰNG MÔ HÌNH MẠNG THẦN KINH NHÂN TẠO 44
4.1 Mô hình mạng thần kinh nhân tạo (ANN) 44
4.1.1 Cơ sở lý thuyết của mô hình 44
4.1.2 Chứng cứ ứng dụng mô hình ANN 49
4.2 Sử dụng mô hình ANN để ước lượng các yếu tố tác động đến trốn thuế ở
TPHCM 50
4.2.1 Lựa chọn phần mềm xử lý mô hình 50
4.2.2 Cách thức thu thập và xử lý dữ liệu thô 50
4.2.3 Quá trình xử lý mô hình 52
4.2.4 Phân tích kết quả 54
Kết luận chương 4 55
iv
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU HÀNH VI

Bảng 3-4: Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế tại TPHCM giai đoạn 2007- 2012 33

Bảng 3-5: Kết quả thực hiện thanh tra năm 2012 34

Bảng 3-6: Kết quả thực hiện công tác kiểm tra năm 2012 so với nhiệm vụ kiểm
tra năm 2012 35Danh mục hình vẽ và biểu đồ
Biểu đồ 3.1: Tình hình thu NSNN (trừ dầu thô) hằng năm giai đoạn 2007-2012
28
Biểu đồ 3.2: Tỉ trọng đóng góp của các loại hình DN trong thu NSNN từ HĐ
SXKD ở TPHCM năm 2012 30
Biểu đồ 3.3: Tốc độ tăng số đơn vị vi phạm, tốc độ tăng số tiền thuế truy thu và
phạt qua công tác thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2007-2012 33
Biểu đồ 3.4: Thu NSNN và thu từ DN FDI ở TP.HCM(2007-2012) 36
Biểu đồ 3.5: Tỷ trọng thuế TNDN/Tổng số thuế thu được từ DN FDI ở TP.HCM
37
Biểu đồ 3.6: Doanh thu và số lỗ của Coca cola những năm gần đây 41

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện mạng lan truyền tiến 3 lớp của ANN 45
Hình 4.2: Quá trình hoạt động của một nút đặc trưng của ANN 45
Hình 4.3: Hàm logistic 46
Hình 4.4: Chọn những biến cần phân tích mức độ tương quan 53
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện độ tương quan giữa các biến đầu vào và biến đầu ra 53

vi

như nguồn thu quan trọng nhất của ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy nhiên,
quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp (DN), đặc biệt là ở TPHCM – địa phương
có tỉ lệ đóng góp lớn nhất cho NSNN, đang đối mặt với nhiều thách thức khác
nhau. Một trong những thách thức lớn đó là sự phổ biến của hành vi trốn thuế,
đặc biệt là trong cơ chế tự khai tự nộp như hiện nay. Điều này dẫn đến nhiều khó
khăn hơn đối với cơ quan thuế trước sức ép phải tăng thu NSNN hàng năm để
đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển. Nhận biết được các yếu
tố tác động đến trốn thuế cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng là vô cùng cần
thiết trong việc giảm thiểu hành vi tiêu cực này. Ngoài ra, bài nghiên cứu sẽ áp
dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo (Artificial Neural Network)- một mô hình
được nhiều người quan tâm và đã áp dụng thành công trong các lĩnh vực khác
nhau như tài chính, y tế, địa chất và vật lý trong một vài năm trở lại đây.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là thu thập, phân tích, tổng hợp cơ sở lý thuyết
và cơ sở dữ liệu cho việc trốn thuế cũng như các yếu tố ảnh hưởng trong cơ chế
tự khai tự nộp, góp phần đề ra các giải pháp nhằm hạn chế hành vi gây ảnh
hưởng xấu tới nguồn thu NSNN này.(Tình huống của địa bàn TPHCM). Trả lời
các câu hỏi nghiên cứu:
2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc trốn thuế ở TPHCM trong cơ chế tự
khai tự nộp?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào?
Giải pháp nào góp phần giảm thiểu hành vi trốn thuế này?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Xây dựng mô hình dựa trên mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến trốn
thuế ở Malaysia của các nhóm tác giả Razieh Tabandeh. Mô hình được đề xuất
gồm 5 biến: gánh nặng thuế, thu nhập của người nộp thuế, qui mô chính phủ, tỷ

Chương 4: Sử dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo để ước lượng các yếu tố
ảnh hưởng đến trốn thuế trong cơ chế tự khai tự nộp
Chương 5: Kết luận và giải pháp giảm thiểu hành vi trốn thuế trong cơ chế tự
khai tự nộp Kết luận chương 1
Kết thúc chương 1 tác giả đã giới thiệu về mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa
của đề tài. Đây là bước định hướng để thực hiện nghiên cứu trong các chương
tiếp theo.
4
Chương 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời
là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà
nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để
chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương
đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho
các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho
xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công
cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài.[13]
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử
dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng
quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó hình thức quyên góp
tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức không mang

trở thành một công cụ quan trọng, có hiệu quả của Nhà nước để tập trung nguồn
thu cho Ngân sách Nhà nước và tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất
nước. Ở Việt Nam, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là sau cải cách thuế
bước 1 ( năm 1990 ), bước 2 ( năm 1999 ) đã thể hiện tính phát triển liên tục của
thuế, từ chổ lạc hậu, bất cập, không đảm bảo tính khoa học và còn nhiều hạn chế,
hệ thống thuế Việt Nam đã dần hoàn thiện, khoa học hơn, gần gũi hơn và phù
hợp hơn với các qui định về thuế của khu vực và thế giới, đảm bảo thực hiện tốt
các mục tiêu quan trọng như:
- Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà Nước.
- Là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế.
- Là công cụ tài chính chủ yếu của Nhà Nước trong việc quản lý, điều tiết vĩ
6 mô nền kinh tế.
- Tính pháp lý cao, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra. [13]
2.1.2 Bản chất và chức năng của thuế
2.1.2.1 Bản chất của thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất
hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội.
Ngoài khoản thu về thuế, Ngân sách Nhà nước còn có những khoản thu về
phí và lệ phí. Đây là những khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi
được một cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước uỷ quyền
cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng.
Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành
nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Tuy nhiên, về
bản chất, thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, giá cả.v.v.

đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà
nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch
vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế không có
quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho
mình mới nộp thuế cho Nhà nước.
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả
trực tiếp cho người nộp thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng
hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị
mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế
mà họ đã nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế
với các khoản phí, lệ phí và giá cả.
Như vậy xét về bản chất, thuế là một hình thức phân phối, là quá trình
dịch chuyển thu nhập xã hội một chiều từ mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp
dân cư vào ngân sách Nhà Nước .[13]
2.1.2.2 Chức năng của thuế
* Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính:
8 Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn là phương tiện huy động nguồn lực tài
chính cho Nhà nước. Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất
cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức
năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh
nguyên nhân sự ra đời của thuế.
Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà
các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật
chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra
những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng

Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố
đầu vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh
tế trong cả nước. Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động vào hoạt động xuất
nhập khẩu nhằm thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế.
Như vậy, thông qua việc thu thuế Nhà nước đã thực hiện điều tiết và kích
thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù
hợp với lợi ích của xã hội, tức là chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế
đã được thực hiện.[13]
2.2 Những vấn đề chung về cơ chế tự khai tự nộp thuế
2.2.1 Khái niệm cơ chế TKTN
- Tự khai - tự nộp (Self assessment): tự xác định (lượng giá) cơ sở tính
thuế nhằm mục đích tính thuế.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa hẹp, đối tượng nộp thuế tự xác định cơ sở tính
thuế, tự tính thuế, tự xác định số thuế phải nộp và tự nộp thuế theo đúng thời hạn
qui định.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa rộng, đang được sử dụng: là một phương thức
quản lý thuế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của ĐTNT được cụ thể
bằng việc ĐTNT tự thực hiện các nghĩa vụ mà Luật qui định và cơ quan thuế
được tổ chức và thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó.
10 Từ đó ta có khái niệm về cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế:
Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự
giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các qui định tại
các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai
thuế và nộp thuế đúng thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện
nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ.
Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế
hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân

+ Hệ thống thanh tra, kiểm tra có mục tiêu rõ ràng.
- Hệ thống xử phạt nghiêm khắc. Cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều
tra, đủ điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những
trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ỳ nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho NSNN và
đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế.
- Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động có hiệu quả.
- Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại- kỹ thuật quản lý rủi
ro, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ
nguồn lực quản lý đối với các đối tượng nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế
gây rủi ro cao, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN.
Để thực hiện được quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro, cơ quan thuế
cần phải có:
+ Thông tin đầy đủ và liên tục về ĐTNT trong một khoảng thời gian nhất
định (ít nhất là 5 năm). Trên cở các thông tin đó cơ quan thuế phân tích, phân loại
ĐTNT để xác định biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tập hợp, khai thác, sử dụng
thông tin về ĐTNT và ở tất cả các hoạt động quản lý của cơ quan thuế.
- Quy trình quản lý của cơ quan thuế tốt và được hỗ trợ tin học hoá
- Công chức thuế được đào tạo có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện
quản lý thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng quản lý. [10]

12 2.2.3 Các đặc trưng về quản lý
- Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, nhất là trách nhiệm về hành vi, được
qui định rõ ràng cho từng phía: chủ thể quản lý - cơ quan thuế và đối tượng quản
lý - ĐTNT.
- Dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan quyền lực Nhà nước và ĐTNT.
- Nhà nước (cơ quan thuế) không can thiệp và không làm thay trách nhiệm

- Cơ quan thuế có điều kiện để cải tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu
quả nhất các nguồn lực hiện có, công tác quản lý thuế được tổ chức theo hướng
ngày càng hiện đại và chuyên môn hóa.
- Cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác phục vụ, hỗ
trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh
hiểu và tự giác thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình đối với NSNN.
- Cơ quan thuế có điều kiện để tăng cường thanh tra, kiểm tra và cưỡng
chế thuế có hiệu quả hơn đối với người nộp thuế có khả năng rủi ro cao trong
việc không tuân thủ thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy
mạnh hiện đại hoá quản lý thuế mà cụ thể là đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ
thông tin trong quản lý thuế.[10]
2.3 Cơ sở lý luận về trốn thuế
Trốn thuế là đề tài thường được nhắc đến trên các phương tiện truyền
thông đại chúng. Tùy theo mức độ nghiêm trọng và số tiền trốn thuế, người vi
phạm có thể bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
trốn thuế theo Điều 161, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự năm 1999 có
hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2010.
Mặc dù luật pháp rất nghiêm khắc đối với việc trốn thuế, nhưng thực tế
cho thấy, hành vi này diễn ra khá phổ biến, phức tạp và khó kiểm soát do nhiều
nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan. Đó là lý do khiến mọi
14 người thường lầm tưởng rằng, khi có một cá nhân hay tổ chức nào đó tìm cách
không đóng thuế thì đó là biểu hiện của việc trốn thuế và phải bị xử phạt nghiêm
khắc. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng đúng như vậy. Trong một số
trường hợp, đó là tránh thuế hợp pháp.
Trong khi khái niệm “trốn thuế” đã quá quen thuộc thì khái niệm “tránh
thuế” còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Nó chỉ mới xuất hiện từ khoảng năm 1994,

3
“The Relationship Between Culture and Tax Evasion Across Countries Additional Evidence and
Extensions”. Journal of International Accounting, Auditing and Taxation, 17: 67– 78
15 Theo TS. Nguyễn Thị Lan (2009) thì “trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm
pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số
thuế phải nộp trong kỳ cho Nhà nước”
4
.
2.3.2 Các hành vi trốn thuế
1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ
khai thuế sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc
ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế;
2. Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác
định số tiền thuế phải nộp;
3. Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá
đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán;
4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên
liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải
nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số
tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền
thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
6. Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ
sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian sáu
mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;
7. Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu;

bằng các phương tiện trong khuôn
khổ pháp luật và khai báo các
thông tin trọng yếu cho cơ quan
thuế
CÁCH
THỨC
-Che giấu thông tin mà lẽ ra
phải cung cấp cho cơ quan
nhà nước
-Tạo ra thông tin không có
thật
-Vận dụng các chính sách ưu đãi
thuế
-Áp dụng các khoảng trống mà
pháp luật chưa quy định để thực
hiện các giao dịch
KẾT
QUẢ
-Có thể bị xử phạt hành chính
hay bị truy cứu trách nhiệm
hình sự
-Mang đến cho doanh nghiệp giải
pháp tối ưu về thuế mà không vi
phạm pháp luật.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

17 2.4 Đánh giá các nghiên cứu về trốn thuế và các yếu tố ảnh hưởng đến


“Tax evasion, tax avoidance and tax expenditures in developing countries: A review of the literature”.
Report prepared for the UK Department for International Development (DFID)”.

6

Tax evasion, tax avoidance and development finance”, Working Paper Number 129”18 Cobham dựa trên ước tính quy mô nền kinh tế ngầm của Schneider. Mặc dù cách
tiếp cận này của Cobham còn một số hạn chế, nhưng điều quan trọng nhất là số
liệu của Cobham đưa ra nêu trên không nên hiểu đó là số tăng thu thuế có thể đạt
được nếu việc thực thi pháp luật về thuế tốt hơn hoặc nếu áp dụng các biện pháp
chính sách khác. Một số nguyên nhân có thể lý giải vấn đề này là:
- Trên thực tế, không thể đánh thuế vào mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế
ngầm.
- Quy mô ước tính của nền kinh tế ngầm có thể là chỉ số phản ánh sai lệch về thất
thu thuế do 3 yếu tố:
+ Quy mô nền kinh tế ngầm có thể là kết quả của sự lựa chọn chính sách
có cân nhắc của các nước đang phát triển. Điều này ngụ ý một nghịch lý rằng
việc thu hẹp nền kinh tế ngầm có thể không làm tăng doanh thu thuế mà cũng
không vì phúc lợi xã hội.
+ Hoạt động của nền kinh tế ngầm bao gồm cả hoạt động bất hợp pháp, nó
sẽ phải ngừng lại nếu bị phát hiện và do đó sẽ không tạo ra doanh thu thuế.
+ Ước tính nền kinh tế ngầm của Schneider đưa ra phải được hiểu một
cách thận trọng do phương pháp ước lượng mà Schneider sử dụng còn có những
hạn chế.

do đó tình trạng trốn thuế cũng tăng lên. Crane và Nourzad (1986), Caballé và
Panade (2004) cũng đưa ra kết luận tương tự. Như đã biết, lạm phát có thể ảnh
hưởng đến quyết định của người nộp thuế. Khi tỷ lệ lạm phát cao, người nộp thuế
có xu hướng tìm cách tăng thu nhập khả dụng và trốn thuế là một trong số các
phương án. Dựa trên hệ số 1.58, mối quan hệ giữa qui mô của CP và thuế trốn là
tỷ lệ thuận. Aignet et al. (1988), Schneider và Savasan (2007) cũng tìm thấy cùng
một kết quả trong bài nghiên cứu của mình. Khi qui mô của CP tăng, việc kiểm
soát từng lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ khó khăn hơn, mặt khác, các quy định
pháp luật cũng đòi hỏi khắc khe hơn dẫn đến tăng các hoạt động trong nền kinh
tế ngầm, và trốn thuế sẽ tăng lên. Gánh nặng thuế là một yếu tố khác gây trốn
thuế. Kết quả mô hình cho thấy một mối quan hệ đồng biến giữa gánh nặng thuế
và trốn thuế, nhưng mức thuế suất thấp ở Malaysia khiến biến này có mức độ ảnh
hưởng không cao so với các biến khác. Brooks (2001), Savasan (2003),
Dell'Anno (2007), Dell'Annoet al. (2004), và Schneider và Savasan (2007) cũng
đưa ra kết luận tương tự trong bài nghiên cứu của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status