tiểu luận kinh tế lượng các yếu tố ảnh hưởng đến độ cận thị của sinh viên - Pdf 24

GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
Mục lục
15
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 1
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
LỜI MỞ ĐẦU
Cận thị là tình trạng mắt không thể nhìn rõ được những vật ở khoảng cách xa. Để
đo mức độ cận thị, người ta dùng đơn vị độ (diop). Độ cận thị càng cao thì thị lực càng
kém, người bị cận càng không nhìn rõ được những vật ở xa. Trong những năm gần đây,
khi áp lực và khối lượng học tập ngày một gia tăng, tình trạng cận thị học đường cũng
tăng theo. Hình ảnh một em học sinh hay sinh viên đeo cặp kính dày đến lớp cũng không
còn quá xa lạ đối với chúng ta. Đến bậc đại học, số sinh viên cận thị tăng đột biến.
Theo các bác sĩ chuyên khoa mắt, có rất nhiều nguyên nhân gây nên tật cận thị như
ánh sáng không đủ khi đọc sách, báo, áp lực học tập, làm việc quá tải, xem tivi, sử dụng
máy vi tính liên tục khiến mắt phải điều tiết trong một khoảng thời gian dài… Di truyền
cũng có ảnh hưởng đến khả năng mắc tật cận thị. Các nguyên nhân trên không những gây
nên tật cận thị mà còn có thể khiến độ cận tăng qua các năm. Việc tăng độ cận theo thời
gian là khá phổ biến đối với học sinh, sinh viên, bằng chứng là mỗi ngày, các cửa tiệm
kính thuốc luôn đón nhận khá nhiều khách hàng đã bị cận thị tìm đến đo lại mắt và trở ra
với cặp kính dày hơn trước.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ đâu mới là nguyên nhân chính khiến độ cận thị học đường
nói chung và sinh viên nói riêng tăng lên qua các năm. Mức thay đổi độ cận thị qua các
năm của sinh viên chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào. Nhóm chúng tôi thực hiện đề tài
này với mong muốn xác định rõ các yếu tố ấy, đồng thời xét xem mức độ ảnh hưởng của
từng yếu tố đến mức thay đổi độ cận cụ thể như thế nào. Nỗ lực lượng hóa mối liên hệ
giữa các yếu tố ấy và mức thay đổi độ cận thị cũng chính là nỗ lực đi tìm giải pháp giúp
các bạn học sinh, sinh viên phòng ngừa tật cận thị hoặc tránh việc tăng độ cận qua các
năm. Đây cũng chính là lý do khiến nhóm quyết định thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh
hưởng đến mức thay đổi độ cận thị của sinh viên Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon
Tum”
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 2

• Mức độ chiếu sáng trong phòng học, phòng làm việc
• Yếu tố di truyền (bố hoặc mẹ cận thị thì con sinh ra có khả năng mắc tật cận thị cao hơn)
• Chất lượng giấy, chất lượng mực in, kích thước chữ trên sách vở, báo chí: đọc chữ quá
nhỏ, mực xấu dễ phai, giấy đen mờ rất dễ làm tăng độ cận thị.
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 3
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
• Tình trạng khi mới sinh: trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng dễ mắc bệnh cận thị và độ cận thị
sẽ tăng nhanh hơn.
• Tuổi tác: Độ cận có thể tăng dần khi người cận dưới 25 tuổi, nhưng sau đó sẽ giảm dần
khi người cận thị bước qua tuổi 25.
Tuy nhiên, để không làm mất đi tính thực tiễn của đề tài nên sau khi tham khảo các tài
liệu, sách báo, internet, chúng tôi đã tiến hành quan sát, tìm hiểu thực tế, đối tượng là các
bạn sinh viên năm hai bị cận thị ở PHĐH Đà Nẵng tại Kon Tum.
Từ đó, nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn những biến đặc trưng, và ảnh hưởng rõ
ràng nhất đến độ cận thị của sinh viên năm hai PHĐH Đà Nẵng tại Kon Tum, đó là các
biến sau:
 Thứ nhất, TIME_READ (giờ) là thời gian đọc sách, truyện, báo chí trong một ngày.
Theo lý thuyết thời gian này càng dài thì độ cận càng cao.
 Thứ hai, TIME_PC (giờ) là thời gian làm việc với máy vi tính trong một ngày. Càng làm
việc nhiều với máy vi tính thì độ cận càng tăng.
 Thứ ba, DIST_READ (cm) là khoảng cách từ hai mắt đến sách vở, báo chí, màn hình
máy tính. Khoảng cách này càng lớn thì nguy cơ tăng độ cận thị sẽ giảm.
 Thứ tư, TIME_SLEEP (giờ) là thời gian ngủ trong một ngày. Thiếu ngủ rất dễ dẫn đến
tăng độ cận thị.
 Thứ năm CONS: đối tượng có đeo kính thường xuyên liên tục hay không.
• CONS = 1: đeo kính thường xuyên liên tục.
• CONS = 0: không đeo kính thường xuyên liên tục.
Biến phụ thuộc là DIOP (đơn vị: độ) là số độ cận thay đổi (tăng thêm hay giảm bớt)
trong hai năm đại học của sinh viên năm hai trường PHĐH Đà Nẵng tại Kon Tum. Ở mỗi
quan sát, chúng tôi tính số độ cận thay đổi bằng cách lấy trung bình số thay đổi độ cận

ngày 28/12/2012.
2. Nguồn số liệu
Nhóm tiến hành điều tra khảo sát trên 30 sinh viên thông qua bảng khảo sát. Có 20
phiếu hợp lệ và thỏa các điều kiện lọc của nhóm.
Như đã trình bày, ở đây, nhóm chỉ khảo sát những ai là sinh viên năm hai và nắm rõ số
đo độ cận hiện tại cũng như số đo độ cận lúc mới bắt đầu nhập học đại học của mình.
3. Bảng số liệu
Số liệu nhóm đã thu thập được tóm tắt trong bảng sau:
STT DIOP
TIME_P
C
TIME_READ DIST_READ TIME_SLEEP CONS
1 0.875 5 4 25 7 0
2 0.275 1 3 20 8 1
3 1.125 6 4 20 6 0
4 0 2 1.5 30 8 1
5 0.75 3 3 20 8 1
6 0 1 1 50 7 0
7 1 3 5 20 7 0
8 0 2 1 20 7 1
9 0 1 1 20 6 0
10 0.5 4 2.5 20 7 1
11 0 2 2 35 10 0
12 0.5 1 3 20 8 1
13 0.5 3 2 20 8 0
14 0.5 3.5 2.5 20 7 1
15 0.75 6 3 45 8 0
16 0.25 5 1 20 6 1
17 0 2 4 20 7.5 1
18 0.75 6 4 25 7 0

một ngày tăng 1 giờ thì độ cận sau hai năm sẽ tăng trung bình 0.094752 diop, phù hợp với
lý thuyết đã nêu.


= 0.153387 cho biết với các yếu tố khác không đổi, khi thời gian đọc sách báo, học bài
trong một ngày tăng 1 giờ thì độ cận trung bình sau hai năm sẽ tăng 0.153387 diop, phù
hợp với lý thuyết đã nêu.


= - 0.006200 cho biết với các yếu tố khác không đổi, khi khoảng cách từ mắt tới trang
báo, sách vở tăng 1 cm thì độ cận trung bình sau hai năm sẽ giảm 0.006200 diop, phù
hợp với lý thuyết đã nêu.
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 6
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận


= -0.007156 cho biết với các yếu tố khác không đổi, khi thời gian ngủ một ngày tăng 1
giờ thì độ cận trung bình sau hai năm sẽ giảm 0.007156, phù hợp với lý thuyết đã nêu.


= - 0.131481 cho biết với các yếu tố khác không đổi, người đeo kính thường xuyên tăng
độ chậm hơn người không đeo kính thường xuyên là 0.131481.
• Mô hình hồi quy mẫu thu được là:
DIOP = 0.001556 + 0.094752TIME_PC + 0.153387TIME_READ -
0.006200DIST_READ - 0.018523TIME_SLEEP - 0.131481CONS

+ e
i
2. Các kiểm định
• Kiểm định giả thiết về các hệ số hồi quy:

3
= 0, tức biến
TIME_READ có ý nghĩa giải thích với mức ý nghĩa 5% hay TIME_READ thực sự ảnh
hưởng đến DIOP.
⋅ Giả thiết: H
0
: β
4
= 0
H
1
: β
4
≠ 0
→ Với mức ý nghĩa 5% thì Prob của = 0.3849 > 0.05, không có cơ sở bác bỏ
giả thiết H
0
: β
4
= 0, tức biến DIST_READ không có ý nghĩa giải thích với
mức ý nghĩa 5% hay DIST_READ không ảnh hưởng đến DIOP.
⋅ Giả thiết: H
0
: β
5
= 0
H
1
: β
5

: β
4
= β
5
= β
6
= 0
H
1
: Tồn tại β
i
≠ 0 (i = 4,5,6)
Theo kết quả bảng trên, ta thấy P(F > 0.5372287) = 0.664375 > 0.05 nên ta chấp nhận
giả thiết H
0,
các biến DIST_READ, TIME_SLEEP, CONS không có ý nghĩa, ta không
nên đưa 3 biến này vào mô hình.
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 8
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
• Mô hình hồi quy sau khi bỏ biến:
→ Mô hình hồi quy mẫu sau khi bỏ biến là:
DIOP = - 0.345293

+ 0.102318TIME_PC + 0.17225TIME_READ + e
i
Ta thấy hệ số R
2
hiệu chỉnh mô hình sau tăng hơn 2% so với mô hình trước. Do đó bỏ bớt
biến làm gia tăng độ tin cậy cho mô hình.
•Kiểm định sự phù hợp của mô hình

TIME_READ
Kết quả từ phần mềm Eview ta được:
Giải thiết: H
0
: R
2
=0
H
1
: R
2
≠0
Với mức ý nghĩa 5% thì F-statistic= 3.743173 < F
0.05(1,18)
=4.41 chấp nhận giả thuyết
H
0
: R
2
=0, mặt khác hệ R
2
thấp, Prob của = 0.0689 > 0.05 (với mức ý nghĩa 5%), biến
TIME_READ thực sự không có ảnh hưởng đến TIME_PC.
Vậy sau khi xem ma trận tương quan và sử dụng mô hình hồi quy phụ TIME_PC theo
TIME_READ ta có thể kết luận mô hình không có đa cộng tuyến.
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 10
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
•Kiểm định bỏ sZt biến (Kiểm định RESET của RAMSEY)
1
Số biến bỏ sót=1 F-statistic 0.024422 Probability 0.877771

= α
1
+ α
2
X
4
+ α
3
X
6
+ α
4
X
4
2
+ α
5
X
6
2
+ α
6
X
4
X
6
+ V
i
- Kiểm định giả thiết: H
0

đổi các biến khác không xuất hiện trong mô hình.
2. Ý nghĩa thực tiễn trong mô hình
 Với các yếu tố khác không đổi, nếu thời gian sử dụng máy tính một ngày tăng thêm 1 giờ
thì sau hai năm, độ cận của sinh viên tăng khoảng 0.10231 diop.
 Với các yếu tố khác không đổi, nếu thời gian đọc sách, báo, truyện, tạp chí một ngày tăng
lên 1 đơn vị thì sau hai năm, độ cận của sinh viên tăng khoảng 0.17225

diop.
3. Ứng dụng mô hình
Với mô hình này, mỗi bạn sinh viên hoàn toàn dự đoán được mức thay đổi độ cận của
bản thân trong tương lai. Chỉ cần ước lượng được số giờ sử dụng máy tính, số giờ đọc
sách, báo, tạp chí của mình, thông qua mô hình, sinh viên sẽ tính toán được mức thay đổi
độ cận đó. Nếu mức thay đổi độ cận tính được bằng mô hình quá cao, sinh viên phải rà
soát lại xem có phải số giờ đọc sách hay sử dụng máy vi tính là quá nhiều, cần cắt giảm
và phân bổ thời gian đọc sách, báo, học bài, thời gian sử dụng máy tính sao cho hợp lý
nhằm giảm thiểu mức tăng độ cận thị.
Thêm vào đó, nếu sinh viên giữ nguyên các thói quen đọc sách, sử dụng máy tính mà
sau hai năm nếu độ cận thay đổi chênh lệch quá lớn so với kết quả của mô hình đã nêu
thì cần thiết phải khám chuyên khoa mắt để xác định những vấn đề bất thường về mắt
(tăng độ nhanh hơn so với người thường). Tóm lại, khi sử dụng mô hình, sinh viên sẽ có
thêm một công cụ tầm soát, theo dõi tình trạng cận, lượng hóa cụ thể thời gian đọc sách,
sử dụng máy tính, khoảng cách đến sách, từ đó góp phần giữ gìn đôi mắt để không phải
đeo một cặp kính quá dày.
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 13
GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
4. Kiến nghị
Mô hình cho thấy biến TIME_PC và TIME_READ có tác động mạnh làm thay đổi độ
cận của sinh viên, do đó các sinh viên cần cân đối thời gian ngồi trước màn hình máy vi
tính mỗi ngày cũng như phân bổ thời gian đọc sách báo. Cần tăng cường tuyên truyền để
sinh viên hiểu tác hại của việc ngồi trước máy tính quá lâu, hướng dẫn các biện pháp thư

GVHD: Nguyễn Thị Phương Thảo Bài tiểu luận
SVTH: Thắm, Thủy, Kim Uyên Page 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status