Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
3
Chương I: Tổng quan về logistics
5
I- Sự ra đời và phát triển của Logistics
5
1-Khái niệm về Logistcis
5
2- Sự hình thành và phát triển của Logistics
8
II- Vai trò và chức năng nhiệm vụ của Logistcis
11
1- Vai trò của Logistcis
11
2-Chức năng nhiệm vụ của Logistcis
13
III- Nội dung cơ bản của Logistics
14
1- Dịch vụ khách hàng và xử lý đơn hang
15
2- Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu
16
3- Dịch vụ kho và quản lý kho
18
4- Vận tải và phân phối
19
Chương II: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam hiện nay
21
1

2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3.1- Tổng công ty hàng hải Việt Nam ( Vinalines )
33
3.2- VietnamShipper
35
3.3- Vietnam Airlines
36
II- Thực trạng cơ sở pháp lý về hoạt động logistics ở Việt Nam hiện nay.
38
III- Đánh giá chung về sự phát triển của dịch vụ logistics trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
42
Chương III:Tiềm năng phát triển kinh doanh dịch vụ Logistcis ở Việt Nam
45
I- Tiềm năng phát triển logisctics ở Việt Nam hiện nay
45
1- Tiềm năng về vị trí địa lý
45
2- Tiềm năng về cơ sở hạ tầng.
45
2.1- Hệ thống cảng biển
46
2.2- Hệ thống cảng hàng không.47
2.3- Hệ thống đường bộ (sắt-ôtô)
48
2.4- Hệ thống đường sông
48
3- Tiềm năng về con người
49

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn, nhưng ước muốn của
con người là vô hạn. Chính vì vậy, Logistcis ra đời để giúp con người sử
dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của cá nhân và xã hội một cách tốt nhất. Trong
lịch sử hình thành của mình, Logistcis là từ chuyên môn được sử dụng trong
quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Sau này thuật ngữ
Logistics dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châu
lục này sang châu lục khác, hình thành nên Logistics toàn cầu. Logistics phát
triển rất nhanh chóng và cho đến nay đã được ghi nhận như một công cụ hữu
hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất
lẫn trong khu vực dịch vụ
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các
hoạt động có hệ thống và hiệu quả của hệ thống này có tầm quan trọng lớn,
quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi
quốc gia. Sự phát triển dịch vụ logistics có lý nghĩa đảm bảo cho việc vận
hành sản xuất, kinh doanh. Logistcis phát triển tốt sẽ mang lại khả năng cắt
giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Logistics là một ngành mới mẻ ở nước ta tuy nhiên cơ hội cho việc
phát triển logistics ở Việt Nam trong tương lai là rất nhiều. Chính vì vậy em
đã chọn đề tài “Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay” để
hiểu rõ hơn các điều kiện mà Việt Nam có thể khai thác để từ đó phát triển
logistics một cách hiệu quả và bền vững.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chương I
TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS
I- SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LOGISTICS
1- Khái niệm về logistics
Bước vào thế kỉ XX, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt được năng

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin
liên quan từ điểm sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn những
nhu cầu của khách hàng.
• Theo tác giả Donald J.Bowersox-CLM Proceeding-1987: Logistics là một
nguyên lý bán lẻ nhằm hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm
soát các nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật
chất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động mua hàng.
• Logistics được uỷ ban quản lý logistics của Mỹ định nghĩa như sau: logistics
là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để quản lý, kiểm soát việc
di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối
với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin
tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất đến khi hàng hoá đến tay người tiêu
dung cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
• Theo khái niệm của liên hợp quốc được sử dụng cho khoá đào tạo quốc tế về
vận tải đa phương thức và quản lý logistics tổ chức tại ĐH Ngoại Thương
Hà Nội tháng 10/2002 thì: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu
chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới
tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng…
• Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics”
mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: Dịch vụ logistics là hoạt
động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều
công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải
quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có lien quan đến hàng hoá theo thỏa
thuận với khách hàng để nhận thù lao ( Điều 233- Luật Thương mại Việt
Nam năm 2005).
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Qua các khái niệm trên, cho dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt,

Sản
xuất
Kho dự
trữ sản
phẩm
Thị
trường
tiêu thụ
Kho Nhà
máy
Kho
A
Kho Kho
B
Nhà
máy
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thuỷ quân hoàng gia Pháp yếu kém hơn rất nhiều so với kẻ thù, song với sự
nỗ lực lớn về công nghiệp và logistics diễn ra trong một thế kỉ, quân đội
Pháp đã khắc phục những điểm yếu của mình cho phép họ ngăn cản hoạt
động của quân Anh ở Châu Mỹ. Hay như cuộc đổ bộ thành công của quân
đồng minh vào vùng Normandie tháng 6 năm 1944 chính là nhờ sự nỗ lực
của khâu chuẩn bị hậu cần và qui mô của các phương tiện hậu cần được triển
khai.
Logistics đã góp phần làm tăng cường sức mạnh cho các nhà quân sự
giành được chiến thắng trong chiến tranh, do đó rất nhiều kĩ năng về
logistics đã được nghiên cứu và áp dụng đặc biệt là trong chiến tranh thế
giới thứ II. Xuất phát từ bản chất ưu việt của logistics, sau khi chiến tranh
thế giới thứ II kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng

quản hàng hóa, quản lý tồn kho, bao bì đóng gói, phân loại dán nhãn…
những hoạt động nêu trên được gọi là phân phối, cung ứng sản phẩm vật
chất hay còn có tên gọi là logistics đầu ra.
Giai đoạn 2: Hệ thống logistics.
Thời kì này khoảng những năm 80-90 của thế kỉ XX, các công ty kết
hợp chặt chẽ việc quản lý giữa hai mặt: đầu vào và đầu ra để giảm tối đa chi
phí cũng như tiết kiệm chi phí. Như vậy sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng
nguyên vật liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến tay người tiêu
dùng đã đảm bảo sự ổn định và tính liên tục của dòng vận chuyển, sự kết
hợp này được mô tả là hệ thống logistics.
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các
hoạt động từ người cung cấp-người sản xuất đến khách hàng tiêu dùng sản
phẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm
tra làm tăng giá trị sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển quan
hệ với đói tác, kết hợp chặt chẽ giữa người cung cấp, nhà sản xuất và người
tiêu dùng cùng các bên có liên quan như: các công ty vận tải, kho bãi, giao
nhận và người cung cấp công nghệ thông tin.
ESCAP cũng định nghĩa quản l dây chuyền cung ứng và logistics là
khái niệm đồng bộ hóa những hoạt động của nhiều tổ chức trong dây chuyền
logistics và phản ánh những thông tin cần thiết đúng thời gian, bằng cách sử
dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kĩ thuật số.
Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kĩ năng “tiếp
vân”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của
thực tiễn sản xuất-kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống
quản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao.
II-VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA LOGISTICS
1-Vai trò của logistics

giáp với biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp với biển. Hơn nữa
trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn được xem là một
trong những căn cứ quan trọng để đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Do
đó, quốc gia nào có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống cảng biển đảm bảo… sẽ thu
hút được sự đầu tư của các công ty hay tập đoàn lơn trên thế giới. Sự phát
triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là minh
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất
khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics.
1.2- Vai trò của logistics đối với các doanh nghiệp.
Logistics có vai trò rất to lớn đối với các doanh nghiệp. Logistics giúp
giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ
có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…. logistics giúp giảm chi phí và
tăng khả năng cạnh tranh trong doanh nghiệp. nhiều doing nghiệp đã thành
công nhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không
ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại do sai lầm trong hoạt động
logistics, vi dụ như: chọn sai vị trí, chon nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự
trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công
nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều
kênh phân phối khác nhau…; chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất,
quản lý hàng tồn kho và giao hàng đúng thưòi gian với tổng chi phí thấp
nhất.
Logistcis còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là
marketing hỗn hợp. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản
phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm/dịch
vụ chỉ có thể thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi nó đến được với khách

nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến
tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.
* Logistics có nhiệm vụ mở rộng thị trưòng trong buôn bán quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc đã
làm cho khoảng cách về mặt không gian giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
ngày càng trải rộng. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường cho sản phẩm của mình thì cần phẩi có sự hỗ trợ của dịch vụ
logistics. Dịch vụ logistics giữ vai trò như chiếc cầu nối trong việc chuyển
dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu
caauf về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics do đó có tác dụng lớn
trong khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
III- NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LOGISTICS
1- Dịch vụ khách hàng và xử lý đơn đặt hàng.
Do tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng nên ngày nay cụm từ này
thường xuyên được nhắc đến. Ở đại đa số các công ty logistics, dịch vụ
khách hàng thường được định nghĩa theo một trong ba cách sau:
* Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằm
giải quyết tốt đơn đặt hàng của khách hàng, các hoạt động đó có thể là: lập
bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý đơn hàng, xử lý khiếu nại…
* Dich vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, được
đánh giá bằng những thông số cụ thể, những tiêu chuẩn có săn, ví dụ: Khả
năng hoàn thành 98% đơn đặt hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; Đến thăm
khách hàng chính 6 tahngs một lần; Giải quyết khiếu nại trong vòng 15
ngày;…
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Dựa vào triết lý của tổ chức người ta định nghĩa dịch vụ khách hàng

* Khả năng điều chuyển hàng hóa
* Sản phẩm thay thế
Thứ ba là các yếu tố sau giao dịch. Đây là các yếu tố hỗ trợ cho sản
phẩm hoặc dịch vụ sau khi chúng đã đến tay khách hàng. Trước đây do
khách ít quan tâm đến dịch vụ hậu mãi nên các yếu tố sau giao dịch có phần
bị xem nhẹ. Giờ đây tình hình đã đổi khác, các công ty đều nhận thức được
rằng: việc duy trì và làm hài lòng các khách hàng hiện có có lợi hơn việc tìm
kiếm khách hàng mới. Các yếu tố sau giao dịch bao gồm:
* Lắp đặt, bảo hành và sửa chữa
* Theo dõi sản phẩm
* Giải quyết các than phiền và khiếu nại
* Cho khách hàng mượn sản phẩm để dùng tạm.
2-Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu
Nhiệm vụ cơ bản của dịch vụ logistics là đảm bảo cung ứng cho sản
xuất và tiêu dùng những hàng hóa cần thiết đủ về số lượng, tốt về chất
lượng, kịp thời gian yêu cầu, thuận lợi cho khách hàng và phải đáp ứng một
cách thường xuyên, liên tục và ổn định.
Nguồn hàng là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hóa thích hợp với
nhu cầu của khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch. Tổ
chức công tác tạo nguồn và mua hàng là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ
nhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp mua được trong kỳ kế hoạch, từ đó
bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, quy cách…
cho các nhu cầu của khách hàng.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nội dung của nghiệp vụ tạo nguồn và mua hàng gồm những điểm
chính sau đây:
- Nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng.
Mục đích của tạo nguồn và mua hàng là thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng. Dịch vụ logistic không những đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho nhà

chi phí vận tải thông qua việc gom nhiều lô hàng nhỏ thành lô hàng lớn để
vận chuyển một lần. Bên cạnh đó, nó giúp tiết kiệm chi phí trong sản xuất:
kho giúp bảo quản tốt nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, giảm
bớt hao hụt, mất mát, hư hỏng; Kho giúp cung cấp nguyên vật liệu đúng lúc,
tạo điều kiện cho sản xuất tiến hành liên tục nhịp nhàng… nhờ đó giam được
chi phí sản xuất. Một vai trò khác của kho bãi đó chính là việc giúp tổ chức
được hưởng lợi từ các khoản giảm giá do mua số lượng lớn và mua theo kì
hạn. Kho bãi giúp duy trì nguồn cung ứng ổn định, hỗ trợ cho chính sách
dịch vụ khách hàng của tổ chức và giúp tổ chức có thể đương dầu với những
thay đổi của thị trường ( do tính thời vụ, nhu caauf thay đổi, cạnh tranh…).
Nhà kho ngày càng được sử dụng như một nơi “chung chuyển” hơn là
một nơi “giam hàng” như trước đây. Các tổ chức ngày càng tích cực thu
thập, cập nhật thông tin, tổ chức tốt hoạt động logistics để có thể giảm, tiến
tới không phải lưu kho, mua hàng với một số lượng thích hợp và sử dụng
nhà kho như một địa điểm để gom, tách, ghép đồng bộ, hoàn thiện hàng hóa
để phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí vận
tải và các dịch vụ khác.
4-Vận tải và phân phối.
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong các nội dung của logistics thì vận tải và phân phối là nội dung
quan trọng nhất. Chi phí cho hoạt động này thường chiếm tới 1/3 tổng chi
phí của logistics. Muốn giảm chi phí của logistics thì phải giảm chi phí của
khâu vận tải và phân phối từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị
trường. Việc vận tải-phân phối phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho
sản xuất kịp tiến độ, phải cung cấp thành phẩm đến đúng địa điểm và đúng
nơi qui định mà khách hàng cần. Từ đó giảm tới mức thấp nhất chi phí, thiệt
haik do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để giảm chi phí logistics nói chung.
Vận tải và phân phối là những hoạt động rất cần và không thể thiếu
được trong logistics, yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa

23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1-Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về logistics
Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế, chúng ta có thể rút ra sự nhận
thức của doanh nghiệp kinh doanh dịch logistics được thể hiện ở những
điểm cụ thể sau đây:
1.1- Logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận.
Logistics chính là sản phẩm của sự phát triển vận tải giao nhận ở trình
độ cao. Cho đến nay, việc kinh doanh dịch vụ logistics ở các doanh nghiệp
Việt Nam mới chỉ xoay quanh hoạt động vận tải giao nhận. Do đó theo các
doanh nghiệp Việt Nam thì hoạt động logistics có thể chia thành 4 giai đoạn
như sau:
* Giai đoạn 1: Người kinh doanh dịch vụ logistics có nhiệm vụ giao
nhận, vận chuyển hàng hóa, làm các thủ tục và tư vấn cho chủ hàng để giải
quyết những vấn đề phát sinh trong giao nhận vận chuyển hàng hóa.
* Giai đoạn 2: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhiệm giao
nhận hàng hóa, làm tất cả các thủ tục có liên quan như là người đại lý của
chủ hàng, nhưng người kinh doanh dịch vụ logistics phải đứng ra tiến hành
việc gom hàng.
* Giai đoạn 3: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhận việc
vận chuyển hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối. Họ đảm nhiệm tất cả các
dịch vụ của một số người vận tải và cung cấp dịch vụ. Nguời kinh doanh
dịch vụ logistics cũng đảm nhận việc thông quan cho hàng hóa và thương
thảo với cảng với tư cách là một người kí hợp đồng độc lập với cảng để thực
hiện một số công việc cần thiết. Lúc này người kinh doanh dịch vụ logistics
không còn hành động như một đại lý thay mặt chủ hàng nữa mà là người
đứng ra cung cấp các dịch vụ cho chủ hàng. Họ đã trở thành một người chủ
trong dây chuyền vận tải với tư cách là một bên chính, phát hành các chứng
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status