Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
Chương 1: TÍNH BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN –
KẾT QUẢ THEO QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC 4
1.1 Các khái niệm 4
1.1.1 Nguyên nhân 4
1.1.2 Nguyên cớ 4
1.1.3 Điều kiện 4
1.1.4 Kết quả 5
1.2 Phân loại nguyên nhân 5
1.2.1 Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu: 5
1.2.2 Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài: 6
1.2.3 Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan: 6
1.3 Tính chất của mối liên hệ nguyên nhân – kết quả 6
1.3.1 Tính khách quan 6
1.3.2 Tính phổ biến 7
1.3.3 Tính tất yếu 8
1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân - kết quả 9
1.4.1 Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả 9
1.4.2 Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân 11
1.4.3 Sự chuyển hóa giữa nguyên nhân và kết quả 11
Chương 2: TÌNH HÌNH GIA TĂNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO QUA
Theo phép biện chứng duy vật bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới
đều tồn tại trong mối liên hệ nhân – quả, vì thế giới là một chuỗi liên hệ nhân quả
trong thời gian dài vô tận. Các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận
động, phát triển không ngừng. Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu
tố bên trong sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự
ra đời của sự vật, hiện tượng mới. Từ đó xuất hiện mối liên hệ nhân quả.
Trong tình hình hiện nay, tội phạm mà đặc biệt là tội phạm công nghệ cao
ngày càng gia tăng đáng kể và những tác động của loại này để lại hậu quả rất lớn
đến đời sống kinh tế. Việc đấu tranh và phòng ngừa đối với nhóm tội phạm công
nghệ cao là vấn đề quan tâm hàng đầu. Những hậu quả do nhóm tội phạm này gây
ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự của xã hội.
Do đó, trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với mối
quan hệ nhân – quả, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội
phạm công nghệ cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đấu tranh và phòng
ngừa nhóm hành vi phạm tội này.
Vì vậy, đề tài “Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện
chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả” cần được tiến hành.
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Việc gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả.
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở mối liên hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, người viết
phân tích, đánh giá tình hình tội phạm công nghệ cao ở nước ta hiện nay, qua đó đề
ra các định hướng khắc phục của mối quan hệ nhân quả này.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
1
Giáo trình triết học Mác – Lê nin (tái bản lần thứ 3), NXB Chính trị Quốc gia, tr 105
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
5
nhân gây ra kết quả được gọi là hoàn cảnh. Vì vậy, điều kiện là cái không thể thiếu
được cho sự xuất hiện kết quả.
Ví dụ: để có sự nảy mầm (kết quả) của một hạt cây nào đó, là do sự khác nhau giữa
các yếu tố trong hạt cây đó (nguyên nhân), nhưng phải có những điều kiện nhiệt độ,
độ ẩm, áp suất thích hợp của môi trường… mới xuất hiện kết quả được.
1.1.4 Kết quả
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau
giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
1.2 Phân loại nguyên nhân
Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp. Một kết
quả thường không phải do một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân gây ra; đồng
thời một nguyên nhân cũng có thể sản sinh ra nhiều kết quả khác nhau. Vì sự phối
hợp tác động của nhiều nguyên nhân đòi hỏi phải phân tích tính chất, vai trò của
mỗi loại nguyên nhân đối với kết quả cũng như sự liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa
các nguyên nhân và phân loại các nguyên nhân. Căn cứ vào tính chất và vai trò của
nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả có thể phân tích các nguyên nhân ra
thành:
Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu:
Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài:
Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:
1.2.1 Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu:
có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu.
1.3.1 Tính khách quan
Chủ nghĩa duy tâm khách quan và tôn giáo không thừa nhân mối liên hệ nhân
quả không tồn tại ngay trong sự vật hiện tượng mà cho rằng mối liên hệ ấy chỉ tốn
tại ở một lực lượng siêu nhiên hoặc ở thượng đế.
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi khái niệm nguyên nhân và kết quả chỉ là
những kí hiệu mà con người dung để ghi những cảm giác của mình, sự phát triển
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
7
của khoa học và thực tiễn đã bác bỏ những quan điểm sai lầm trên, những nhà duy
vật biện chứng khẳng định rằng mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách quan
của bản thân sự vật, nó tồn tài ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào
việc con người có nhận thức được nó hay không, con người chỉ có thể tìm ra mối
quan hệ ấy trong giới tự nhiên khách quan chứ không phải trong tư duy của mình
2
.
1.3.2 Tính phổ biến
Tính phổ biến của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ mọi sự vật và hiện tượng
trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra, không có hiện
tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều nguyên nhân đó đã được nhận thức
hay chưa mà thôi, sự vật hiện tượng này nảy sinh từ những sự vật hiện tượng khác.
Trong đó, cái sản sinh ra cái khác gọi là nguyên nhân và cái được sinh ra gọi là kết
quả
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều
đó cho thấy vật chất đang vận động quy đến cùng là nguyên nhân duy nhất, là
Do vậy, tính tất yếu của quan hệ nhân quả trên thực tế phải là nguyên nhân tác
động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả
do chúng gây ra càng ít khác nhau bấy nhiêu.
Kết quả do nguyên nhân gây ra phụ thuộc vào những điều kiện nhất đinh,
những điều kiện này là cần thiết cho một biến cố có thể xảy ra, thực tiễn cho thấy
rằng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện nhất định chỉ có thể gây ra
kết quả nhất định
4
.
Ví dụ: Nước từ chất lỏng thành chất khí trong điều kiện 100 độ C, vậy trong
điều kiện 100 độ C, do có tác động của nhiệt độ bên ngoài như vậy, nước không thể
giữ nguyên trạng thái của mình hoặc chuyển thành chất rắn mà kết quả phải là chất
khí.
Trong thiên nhiên không thể có những sự vật hoàn toàn giống nhau. Vì vậy,
khái niệm nguyên nhân như nhau trong những hoàn cảnh hoàn toàn như nhau bao
giờ cũng cho kết quả y hệt nhau là một khái niệm trừu tượng.
Tuy nhiên, có những sự vật những hiện tượng về cơ bản là giống nhau những
trong hoàn cảnh tương đối giống nhau sẽ gây nên những kết quả giống nhau về cơ
bản. 3
Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER): />chung-duy-vat/bea13cdd, [Truy cập ngày 12/01/2015]
4
Giáo trình triết học Mác – Lê nin, 2003, NXB Chính trị Quốc gia, tr 105 - 106
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
5
Giáo trình triết học Mác – Lê nin, 2003, NXB Chính trị Quốc gia, tr .106.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
10
bệnh, có thể do chăm bón không đúng kỹ thuật… đồng thời một nguyên nhân cũng
có thể sản sinh ra nhiều kết quả.
Ví dụ : Chặt phá rừng có thể gây ra nhiều hậu quả như lũ lụt, hạn hán, thay
đổi khí hậu của cả một vùng, tiêu diệt một số loài sinh vật… Vì sự phối hợp tác
động của nhiều nguyên nhân đòi hỏi phải phân tích tính chất, vai trò của mỗi loại
nguyên nhân đối với kết quả cũng như sự liện hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
nguyên nhân và phân loại các nguyên nhân.
Ví dụ : Trong nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mỗi thành phần kinh tế đều có vị
trí nhất định đối với việc phát triển nền kinh tế chung. Các thành phần kinh tế vừa
tác động hỗ trợ nhau, vừa mâu thuẩn với nhau, thậm chí còn cản trở nhau phát
triển. Muốn phát huy được tác dụng của các thành phần kinh tế để phát triển sản
xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì phải
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành
phần kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, hướng các thành phần kinh tế khác
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước
đối với nền kinh tế bằng luật pháp, chính sách Nếu không như vậy, nền kinh tế sẽ
hỗn loạn, mất cân đối, triệt tiêu lẫn nhau. Do vậy, phải tìm hiểu kĩ vai trò vị trí của
từng nguyên nhân để có những giải pháp phù hợp.
Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều lên sự vật thì hiệu quả của từng
sản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuất phát triển. Ngược lại, trình độ dân trí cao là
kết quả của chính sách phát triển kinh tế và giáo dục đúng đắn. Đến lượt nó, dân trí
cao lại tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục.
1.4.3 Sự chuyển hóa giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau. Điều này có nghĩa là
một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong
mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
Ăng ghen nhận xét rằng: “Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có
ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt
nhất định. Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối
liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau
trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên
nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau. Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có
bắt đầu và không có kết thúc. Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay
kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể Trong mối quan hệ này,
nó là nguyên nhân nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là kết quả, và ngược lại. 7
Giáo trình triết học Mác – Lê nin , 2003, NXB Chính trị Quốc gia, tr 107.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
12
Một sự vật, hiện tượng nào đó với tính cách là kết quả do một nguyên nhân
nào đó sinh ra thì đến lượt mình nó trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng khác.
Quá trình đó cứ tiếp tục mãi không bao giờ ngưng, tạo nên một chuỗi nhân – quả
13
Chương 2:
TÌNH HÌNH GIA TĂNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO QUA GÓC
NHÌN BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ
Theo Triết học Mác – Lênin: Tình hình tội phạm là một hiện tượng tiêu cực
và nguy hiểm, nó tồn tại trong xã hội dưới những điều kiện cụ thể và mang tính
khách quan. Theo phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác thì một hiện tượng
tồn tại trong xã hội bao giờ cũng có nguồn gốc phát sinh và có những điều kiện cho
nó tồn tại, tuy nhiên một hiện tượng muốn phát sinh phải có sự tác động qua lại
của nhiều hiện tượng cùng tồn tại. Sự tác động qua lại của các hiện tượng để làm
phát sinh một hiện tượng khác được gọi là sự tương tác, vì vậy mà chúng ta có thể
hiểu nguyên nhân bao giờ cũng là sự tương tác giữa các mặt trong một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất định, kết quả là những biến đổi
xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự
vật với nhau.
Xu hướng các loại tội phạm xảy ra với tính chất ngày càng phức tạp, thủ
đoạn hoạt động ngày càng tinh vi và xảo quyệt. Bọn tội phạm luôn tìm mọi cách để
thực hiện hành vi phạm tội một cách nhanh gọn, tránh sự phát hiện, điều tra, xử lý
của các cơ quan chuyên môn. Chúng dùng cả kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và ứng
dụng các thành tựu của khoa học - công nghệ vào quá trình phạm tội. Có trường
hợp, chúng còn giả tạo hiện trường, đánh lạc hướng sự điều tra của các cơ quan
chuyên môn, hoặc tự tử, thủ tiêu, giết người bịt đầu mối
Hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra ngày một lớn hơn so với trước, nhất là
trong các vụ phạm tội kinh tế. Những năm trước, trong các vụ án, hậu quả xảy ra
không nhiều, thiệt hại không lớn (chỉ vài chục triệu đồng, hoặc vài trăm triệu
đồng), nhưng những năm gần đây, số vụ phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra
người viết phân tích ở góc độ tình hình tội phạm công nghệ cao.
2.1 Tình hình tội phạm công nghệ cao
Từ điển Bách khoa CAND đưa ra khái niệm tội phạm sử dụng công nghệ cao
là: “Loại tội phạm sử dụng những thành tựu mới của khoa học – kỹ thuật và công
nghệ hiện đại làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội một cách cố
ý hoặc vô ý gây nguy hiểm cho xã hội. Chủ thể của loại tội phạm này thường là
những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có thủ đoạn rất tinh vi, khó phát 10
Trường Đại học Luật Hà Nội , 2008, Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an Nhân dân, tr. 135.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
15
hiện. Hậu quả do loại tội phạm này gây ra không chỉ là những thiệt hại lớn về mặt
kinh tế, xã hội mà nó còn xâm hại tới an ninh quốc gia.
Tội phạm công nghệ cao chủ yếu hoạt động ở những khu vực kinh tế năng
động, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết đề cập đến khu vực cụ thể là
thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng thời gian từ năm 2012 – 2014, các cơ quan tố
tụng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã khởi tố 46 vụ 142 bị can, đề nghị truy tố 23
vụ 79 bị can, xét xử 19 vụ 70 bị can các vụ án có liên quan đến các tội sử dụng
công nghệ cao
11
. Trong đó, các hành vi phổ biến của loại tội phạm này là: làm giả
các loại hồ sơ, giấy tờ, thẻ ATM, thẻ tín dụng rất tinh vi để rút tiền từ ngân hàng, sử
dụng đường truyền internet tốc độ cao và lắp đặt các thiết bị, các máy phát song trái
.
Đây là những điều kiện rất thuận lợi để tội phạm sử dụng công nghệ cao tấn
công. Chính vì điều đó, việc nhận định đánh giá về tội phạm công nghệ cao trong
những năm tới sẽ diễn biến hết sức phức tạp.
Có thể nói tội phạm công nghệ thông tin hiện có hai loại:
Một là tội phạm liên quan đến vấn đề an ninh mạng, mục tiêu của các đối
tượng là máy tính và mạng máy tính… để trộm cắp dữ liệu, phá hoại, làm tắc nghẽn
đường truyền, lây lan virut trong hệ thống máy tính.
Hai là loại tội phạm truyền thống nhưng sử dụng công nghệ cao, tức sử dụng
máy tính và mạng máy tính để thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ như sau khi chúng
tấn công vào các cơ sở dữ liệu để lừa đảo, chúng có thể lấy cắp thông tin cá nhân
đề làm thẻ giả, trộm cắp tiền và thực hiện lừa đảo thông qua hình thức nhắn tin,
thương mại điện tử, bán hàng giả để chiếm đoạt…
Một dạng khác của loại tội phạm này còn là sử dụng công nghệ cao để chơi
cờ bạc, cá độ bóng đá, kinh doanh trái phép, trốn thuế, xâm phạm bản quyền máy
tính, bản quyền sở hữu trí tuệ, xuất bản…
Chúng còn sử dụng công nghệ cao để thực hiện các hành vi buôn lậu, chuyển
tiền điện tử hòng rửa tiền, buôn bán ma túy, vũ khí…
Một số tội phạm sử dụng công nghệ cao để thành lập các trang web, diễn đàn
nói xấu chế độ, tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy…
Phạm vi hoạt động của chúng cũng rất rộng rãi, các đối tượng không chỉ hoạt
động trong nước mà còn là người nước ngoài cho nên trong phòng ngừa đấu tranh
với tội phạm sử dụng công nghệ cao không còn khái niệm một quốc gia mà nó
mang tính toàn cầu. Tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam thì nó cũng 12
Trang thông tin điện tử Báo điện tử VTC News: />nghe-cao.7.473062.htm, [Truy cập ngày 12/01/2015]
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
mua bán chứng khoán khống, nộp tiền, chuyển tiền khống, rút tiền mặt để chiếm 13
Trần Đoàn Hạnh: Giải pháp phòng ngừa tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, Tạp chí tài chính,
số 4/2014.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
18
đoạt. Tình trạng lợi dụng sơ hở trong quản lý và quản trị hệ thống của ngân hàng
không phát hiện kịp thời, một số đối tượng là cán bộ ngân hàng đã “đục nước béo
cò”, tranh thủ tham ô, chiếm đoạt tài sản gây hậu quả nghiêm trọng cho các ngân
hàng. Đơn cử là vụ Ngô Thanh lam – giao dịch viên phòng giao dịch số 1, Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam trong tám tháng lập 311 chứng từ giả, lấy cắp mật
khẩu của kiểm soát viên để duyệt chuyển tiền và bằng các thao tác trên máy vi tính
điều chỉnh cân khớp giữa lượng tiền tồn thực tế hằng ngày với số liệu trên máy tính
của mình, lọt qua sự kiểm soát của ngân hàng, lấy hơn 4,5 triệu USD để chơi bạc,
chỉ đến khi kiểm kê thực tế cuối năm mới phát hiện được.
Một trong các thủ đoạn cũng không kém phần tinh vi là bọn tội phạm mà chủ
yếu là người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang thẻ ngân hàng giả để rút
tiền tại các trụ ATM trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
Vụ án điển hình
14
: Lợi dụng con đường du lịch, Todorov Yordan Valentinov
(31 tuổi, quốc tịch Bulgaria) nhập cảnh vào Việt Nam vào ngày 5/10/2013, mang
theo 38 thẻ giả mang vào Việt Nam. Trong thời gian ở Việt Nam, Valentinov đã sử
Một trong các thủ đoạn mà bọn tội phạm thường sử dụng là giả danh các cán
bộ làm trong các cơ quan chức năng: Công an, nhân viên tổng đài VNPT gọi điện
yêu cầu các nạn nhân cung cấp thông tin cá nhân và yêu cầu chuyển tiền vào số
điện thoại chỉ định sẵn.
Vụ điển hình:
Ngày 19/3/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hồ Chí
Minh đã khởi tố Wu Tung I (quốc tịch Đài Loan) và đồng bọn (7 bị can) về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Wu Tung I đã cấu kết với các đối tượng người Việt
Nam giả danh Công an Hà Nội, nhân viên Tổng đài VNPT gọi điện yêu cầu các bị
hại chuyển tiền vào tài khoản chỉ định tại Sacombank để kiểm tra sau đó rút ra
chiếm đoạt 1.050.000.000 đồng
15
.
Một vụ án khác
16
, Chen Jen Chong là người Đài Loan cấu kết với Lưu Hồ Hải
người Trung Quốc, từ ngày 18/12/2000 đến ngày 02/4/2001 đã thiết lập một hệ
thống chuyển tải các cuộc gọi quốc tế trên 24 kênh nước ngoài vào Việt Nam
không qua sự kiểm soát, được hòa mạng trái phép qua 12 kênh điện thoại công 15
Trang Thông tin điện tử VKSND TP Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm
công nghệ cao,
/>ate=2014-07-30T16:30:00Z, [Truy cập ngày 12/01/2015]
16
TS. Phạm Văn Lợi, 2000, Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Nxb Tư pháp, tr. 81-82.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
21
nghiệp nổi tiếng và có uy tín, tạo cho khách hàng nhầm lẫn. Sau khi khách hàng
tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa và chuyển tiền vào tài khoản theo hướng dẫn
từ website nhưng khách hàng sẽ không nhận được hàng hóa đã mua.
Vụ điển hình như: Tháng 8/2012, Nguyễn Quốc Đạt và đồng bọn bị Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội “Sử dụng mạng internet
nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” (Điều 226b). Đạt và đồng bọn có hành
vi vào mạng internet lấy thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài, sử dụng để
mua hàng trực tuyến ở nước ngoài, sau đó chuyển hàng về Việt Nam bán nhằm thu
lợi bất chính. Tổng số tài sản bị chiếm đoạt trị giá khoảng 1,1 tỷ đồng. Ngày
29/1/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố
Trần Văn Tuấn và đồng bọn (05 bị can) về tội “Sử dụng mạng Internet thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tuấn và đồng bọn đã tổ chức đăng tin quảng cáo trên
website bán các mặt hàng điện tử, yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản
Agribank và Techcombank. Nhưng khi nhận tiền thì Tuấn không giao hàng mà rút
ra chiếm đoạt. Ngày 29/1/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hồ
Chí Minh đã khởi tố Nguyễn Ngọc Phương và đồng bọn (5 bị cáo) về tội “Sử dụng
mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Phương và đồng bọn đã tổ
chức đăng tin quảng cáo trên website rao vặt kèm theo số điện thoại để liên lạc mua
hàng, khi khách hàng liên hệ mua hàng Phương và đồng bọn yêu cầu khách hàng
chuyển tiền vào tài khoản chỉ định nhưng không giao hàng và hủy sim điện thoại,
rút tiền chia nhau chiếm hưởng. Tổng số tiền chiếm đoạt là 167.895.999 đồng
17
.
2.2.1.3 Nguyên nhân về nhân thân và tâm lý xã hội
Đa số những người phạm tội trong lĩnh vực này đa phần đề có cuộc sống và
hoàn cảnh kinh tế khá giả, cao hơn nhiều so với mức sống trung bình trong xã
hội
18
, người phạm tội do điều kiện kinh tế chỉ ở tỷ lệ nhỏ. Yếu tố tâm lý tiêu cực vụ
lợi mà biểu hiện của thể của nó là tính cá nhân, nhu cầu hưởng thụ, tham lam, khát
vọng làm giàm bằng mọi giá, ý thức coi thường pháp luật. 18
GS.TS Nguyễn Xuân Êm, 2003, Tội phạm kinh tế thời hội nhập, Nxb CAND, tr. 178.
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả
23
2.2.1.4 Nguyên nhân liên quan đến những hạn chế, yếu kém của cơ quan bảo
vệ pháp luật trong việc phát hiện điều tra và xử lý tội phạm
Thời gian qua, cơ quan bảo vệ pháp luật đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa
đáp ứng yêu cầu đặt ra. Việc tổ chức phối hợp hoạt động của các cơ quan bảo vệ
pháp luật để phát hiện và xử lý tội phạm còn chưa đồng bộ, chưa phát huy được sức
mạnh tổng hợp của các biện pháp. Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực
đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao chưa đầy đủ vào theo kịp diễn
biến tình hình thực tế
19
. Trong khi thủ đoạn phạm tội của bọn tội phạm ngày càng
tinh vi nhưng chất lượng và năng lực của cán bộ của các cơ quan bảo vệ pháp luật
thuận lợi cho bọn tội phạm lợi dụng, xem đây là mãnh đất màu mỡ để thực hiện các
hành vi phạm tội một cách dễ dàng, do hệ thống bảo mật trước đó của chúng ta đã
bị bọn tội phạm phá vỡ.
Ví dụ: Do hệ thống bảo mật kém, chứa nhiều lỗ hỏng trong một Ngân hàng
đã tạo điều kiện cho bọn tội phạm có cơ hội tìm cách dùng những kiến thức về
công nghệ thông tin truy cập bất hợp pháp vào cơ sở dữ liệu của hệ thống, đánh cắp
các thông tin quan trọng của khách hàng. Và từ đó, bọn tội phạm tiến hành thực
hiện hành vi bất hợp pháp như: chuyển tiền, rửa tiền, làm thẻ ATM giả để rút
tiền…Rõ ràng hành vi trên không chỉ thiệt hại đến khách hàng mà chính bản thân
Ngân hàng bị tấn công cũng gánh chịu nhiều hậu quả. Và đương nhiên, những hậu
quả trên Ngân hàng sẽ tiến hành khắc phục và nó lại tạo điều kiện thuận lợi cho bọn
tội phạm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới.
2.2.3 Sự hoán đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả
Xuất phát từ tâm lý thích thụ hưởng, làm giàu bất hợp pháp của bọn tội
phạm nên đã thúc đẩy bọn tội phạm thực hiện hành vi phạm tội. Và thông thường,
lợi ích mà bọn tội phạm nhận được là quá lớn và trong nhận thức của bọn tội phạm
về việc kiếm tiền đã trở nên quá dễ dàng. Chính kết quả này đã tác động trở lại tâm
lý tội phạm, lợi ích thu về từ việc sử dụng các thiết bị viễn thông và công nghệ cao
đã làm cho bọn tội phạm ngày càng sa lầy vào con đường phạm tội. Mặc khác, do
sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo mô trường thuận lợi cho tội phạm có
cơ hội phát triển.
Và khi tội phạm gia tăng thì về mặt quản lý nhà nước, các cơ quan chức
năng phải tiến hành các biện pháp nghiệp vụ nhằm giảm thiểu tình trạng này. Và
chính sự gia tăng của bọn tội phạm lại là nguyên nhân để các cơ quan nhà nước tìm
cách khắc phục những lỗi bảo mật, những lỗ hỏng trong cơ chế quản lý nhằm ngăn
chặn tình trạng phạm tội của tội phạm. Và ở một khía cạnh nào đó, chính trong việc
Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm
trù nguyên nhân – kết quả