Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) - Pdf 30

Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu vấn đề ruộng đất là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa
phương Đông, và Việt Nam là một bộ phận của vùng đất phương Đông rộng
lớn đó. Thông qua chính sách ruộng đất của các triều đại sẽ cho chúng ta một
bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam, từ khi hình thành Nhà nước đầu tiên
(Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc) cho đến khi chế độ phong kiến Việt Nam sụp
đổ (vào nửa đầu thế kỷ XIX) và cho đến tận ngày nay, khi nền kinh tế nông
nghiệp vẫn giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước. Chính
sách ruộng đất sẽ góp phần, phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta qua
các triều đại khác nhau, từ đời sống của nhân dân cũng như của giai cấp địa
chủ phong kiến, cho đến tình hình văn hoá xã hội diễn ra và biến đổi như thế
nào. Sở dĩ ruộng đất có tầm quan trọng đặc biệt như vậy là vì Việt Nam và
các quốc gia có chung điều kiện về vị trí và điều kiện tự nhiên tức là cùng
chịu sự chi phối chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự phát triển, nền tảng hình thành Nhà nước và nền kinh tế của
đất nước chính là dựa trên cơ sở của sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp
với cây lúa nước là chính. Tất nhiên, trong giai đoạn hiện nay từ sau khi nước
ta tiến hành thực hiện chính sách đổi mới, đưa đất nước phát triển theo con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bên cạnh việc ưu tiên cho phát triển
công nghiệp và dịch vụ để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới, vì vai trò và vị trí của nền kinh tế công nghiệp, trong
đó có các chính sách về ruộng đất luôn giữ vững vị trí của mình trong suốt
quá trình đó.
Nghiên cứu về ruộng đất là một vấn đề vô cùng to lớn, do vậy với khả
năng còn hạn chế của mình tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nghiên cứu chính
sách ruộng đất dưới thời Lê Sơ (1428-1527). Có thể nói Lê Sơ là một trong

hẳn, đã làm cho cuộc sống nhân dân thêm khổ cực, triều đình thêm rối ren, tài
chính thêm kiệt quệ. Bên cạnh đó Đại Việt lại đang đứng trước nguy cơ một
cuộc ngoại xâm ngày càng đến gần. Bên trong khủng hoảng, giặc ngoài đe
dọa, đó là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly (1397). Đây là
cuộc cải cách mang tính chất toàn diện từ chính trị đến kinh tế - tài chính, văn
hóa, giáo dục, xã hội. Tuy nhiên trong hoàn cảnh rối ren đó một số việc làm
của Hồ Quý Ly đã gây thêm mâu thuẫn trong nội bộ, ảnh hưởng sâu sắc tới ý
thức đoàn kết thống nhất của nhân dân khi xảy ra nạn ngoại xâm. Mặc dù vậy
Hồ Quý Ly được xem là người đi tiên phong trong lịch sử nước ta, ông đã đưa
ra những cải cách và kiên quyết thực hiện với mong muốn cứu vãn tình thế
khó khăn và phức tạp của đất nước.
Trước tình hình đó, năm 1406 nhà Minh chính thức đem quân sang
xâm lược nước ta, với “binh cường, lực mạnh” nhà Minh nhanh chóng đánh
bại nhà Hồ. Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Đại Việt rơi vào ách đô hộ của phong
kiến phương Bắc trong hai thập kỉ (1407-1427), có thể nói đây là cuộc Bắc
thuộc lần thứ hai.Trong hai mươi năm đô hộ nhà Minh đã để lại những dấu ấn
sâu đậm trong xã hội lịch sử Đại Việt. Ngay cả trong giai đoạn sau này, khi
nhà Lê khôi phục nền độc lập chính trị, nền văn hóa đó vẫn còn đọng lại, ở
một mặt nào đó còn được bổ sung thêm tạo lên một sự chuyển đổi mô hình
thiết chế, từ nền quân chủ Phật giáo quý tộc sang nền quân chủ Nho học giáo
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh điều. Đây là một bước ngoặt lịch sử. Tuy nhiên, trong môi trường xã hội bị
cưỡng bức và áp đặt văn hóa Trung Hoa nên cuộc đấu tranh văn hóa và chính
trị của người Việt chông đô hộ không ngừng tiếp diễn. Phong trào đấu tranh
chống quân Minh với hình thức phong trào quần chúng nổ ra đông đảo, rộng
khắp, đã phối hợp và dọn đường cho khởi nghĩa Lam Sơn phát triển và dành
được thắng lợi cuối cùng. Sau hơn mười năm (1416 – 1427) kiên trì đấu tranh
dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy Lam Sơn, cuộc khởi

Sơ, trên thực tế trong 100 năm tồn tại của mình (đặc biệt là từ đời Lê Thánh
Tông trở về trước ) chính sách trọng nông của nhà Lê Sơ đã đạt được những
kết quả tốt. Chẳng vậy mà nhân dân đã ca ngợi khi nhớ đến thời này, rằng:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Tóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn
Bên cạnh đó nhà nước quân chủ tập trung thời Lê Sơ là một nhà nước
vững mạnh và ổn định. Trong sự phục hồi và phát triển kinh tế, Nhà nước đã
đề cao vai trò chỉ đạo và sự can thiệp của mình vào đời sống kinh tế - xã hội,
duy trì sự cân bằng giữa những yếu tố nhà nước và dân gian, công hữu và tư
hữu. Thời Lê Sơ nền kinh tế tiểu nông – sản xuất nhỏ làng xã được duy trì và
khuyến khích, với sự bảo hộ của nhà nước. Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế
công thương nghiệp, Nhà nước thời Lê Sơ lại tỏ thái độ dè dặt không khuyến
khích, Nhà nước tham gia vào việc nắm độc quyền giao thương với nước
ngoài. Như vậy với những lời thế vượt trội của mình nền kinh tế nông nghiệp,
gắn liền là vấn đề ruộng đất vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sự phát
triển đất nước thời Lê Sơ.
Về văn hóa - xã hội: Sự biến đổi về chính trị cùng với những thành tựu
bước đầu đạt được trong lĩnh vực kinh tế và đặc biệt trong xã hội Lê Sơ bấy
giờ vẫn còn sót lại những tàn dư của phong kiến phương Bắc, cho nên văn
hóa Đại Việt thời kì này cũng có những biến đổi sâu sắc. Phật giáo và Đạo
giáo thời Lý - Trần được thay bằng một hệ tư tưởng mới, giữ vai trò độc tôn
trong xã hội là Nho giáo. Đây cũng chính là thời kì diễn ra sự phân dòng văn
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh hóa, dòng văn hóa dân gian làng xã không được nhà nước khuyến khích, đã
tách ra khỏi nền văn hóa cung đình. Sự phân dòng này phản ánh sự phân tầng
đẳng cấp ngoài xã hội. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Đông Á
nhưng trên thực tế xã hội Đại Việt thời Lê Sơ “chưa bao giờ hoàn toàn là một
xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất. Nó là sự hỗn dung, lai ghép


PHẦN II
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA NHÀ LÊ SƠ (1428 – 1527 )

Nói đến thế kỉ XV là nói đến vấn đề ruộng đất và vấn đề nông dân, điều
này cho thấy nhà nước Lê sơ đã “với” bàn tay cai trị của mình tới tận các làng
xã, tiến thêm một bước nữa trong chính sách cai trị của mình về ruộng đất,
nhà Lê sơ đã trực tiếp can thiệp vào cách chia, hướng ruộng đất công làng xã
nhằm đạt tới một sự chi phối thực tế bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của
mình. Tuy chưa thực sự đạt được những kết quả toàn diện, song dựa vào cơ
sở ruộng đất của mình nhà nước trung ương Lê sơ (nói riêng ) đã nuôi sống
bộ máy quan liêu ngày càng đông đảo, khống chế các làng xã ngày một chặt
chẽ, thi hành chính sách ngụ binh ư nông trong quân đội. Trong hoàn cảnh có
chiến tranh chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất lại là một cơ sở vật chất
quan trọng để đoàn kết toàn dân đánh giặc bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh những chuyển biết tích cực, chính sách ruộng đất của nhà Lê
sơ cũng không tránh khỏi những sai lầm và hạn chế, dẫn đến những chuyển
biến mang tính chất tiêu cực, điều này được thể hiện rõ trong gia đoạn sau của
nhà Lê sơ, nhất là từ sau đời Lê Thánh Tông (1460 – 1479) bắt đầu có biểu
hiện của sự suy thoái, nhà vua tỏ ra ít quan tâm đến vấn đề triều chính mà chủ
yếu tập trung vào các thú vui hưởng lạc, vấn đề ruộng đất bị bỏ bê, đời sống
nhân dân cực khổ. Phải chăng đây chính là hệ quả của nền quân chủ quan
liêu, quyền lực tối cao tập trung trong tay nhà vua, với sự phân hóa diễn ra
khá xâu sắc trong xã hội, bởi vậy sự sụp đổ của một triều đại vào đầu thế kỉ
XVI (1527) là một tất yếu phải xảy ra. Như vậy trên thực tế chính sách ruộng
đất của nhà Lê sơ được ban bố sửa đổi và mở rộng chủ yếu tập trung trong gia
đoạn đầu (Lê Thánh Tông trở về trước đây là giai đoạn đạt được nhiều thành
tựu lớn trong các lĩnh vực khác nữa, về chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội
đều đạt được những thành tựu đáng kể. Song điều đó không có nghĩa là các vị
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh


tự, cùng ruộng đất và sản vật từng mùa của các ngụy quan của lính trốn…”
2
.
Đến cuối năm đó nhà Lê sơ lại hạ lệnh cho các phủ huyện khám xét kiểm tra
ruộng đất: “chỉ thị cho các phủ, huyện, trấn, lộ khám xét các bãi ruộng đất…
cùng ruộng đất đã xung công của các thế gia và những người tuyệt tự và
ruộng đất của những người đào ngũ”
3
và tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn
quan lại nhà Minh, bọn quan lại theo giặc, cùng với ruộng đất của các quý tộc
Trần và toàn bộ số ruộng đất bị hoang hóa, ruộng của đền chùa đều được
xung làm ruộng công. Lê Thái Tổ còn hạ lệnh cho cả nước làm sổ ruộng, sổ
đinh trên cơ sở đó nhà nước chủ động phân phối, ruộng đất được phân chia
làm ba:
 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
 Ruộng đất công làng xã
 Ruộng đất tư hữu

II - Chính sách của nhà Lê sơ đối với ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước bao gồm tất cả các loại ruộng đất tịch
thu được của chính quyền đô hộ và bọn ngụy quan, ruộng đất không chủ đều
thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy không có số liệu thống kê cụ thể về diện tích
ruộng đất của nhà Lê sơ nhưng căn cứ vào chế độ phong cấp ruộng đất cho
quan lại (sẽ được trình bày ở phần sau) ta có thể biết là số ruộng công chiếm
một số diện tích khá lớnso với diện tích toàn quốc. Theo Nguyễn Khắc Đạm
trong bài “ Góp mấy ý kiến về vấn đề ruộng tư trong lịch sử Việt nam” (tạp
chí NCLS tháng 5/1964, tr31) có viết: “…diện tích ruộng tưthời Lê sơ phải rất
nhỏ, nhỏ hơn thời cuối Trần, trước khi xảy ra phép hạn điền nhiều và cũng vì
thế nên nhà Lê mới không đánh thuế ruộng tư. Nếu ruộng tư thời Lê sơ lớn

trược tiếp quản lí sản xuất, thu hoạch đưa vào kho công. Không có tài liệu lịch
sử nào về thời Lê mà ghi chép cách tổ chức quản lí và phương thức tổ chức
sản xuấttrong ruộng quốc khố cụ thể diễn ra như thế nào, nhưng với sụu tồn
tại lâu dài của ruộng quốc khố trong thời Lý – Trần về trước, ruộng quốc khố
thường lập thành các quan trang, quan trại do nông nô, nô tỳ của nhà nước
cày cấy. Đế thời Lê sơ chế đô nông nô, nô tỳ đã tan rã về cơ bản, thì chắc hẳn
ruộng quốc khố lúc này không còn tổ chức thành quan trang, quan trại do
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh quan nô cày cấy như thời Lý – Trần nữa. Bởi vậy ruộng quốc khố thời Lê sơ
phần nhiều là được giao cho nông dân cày cấy nộp tô cho nhà nước theo chế
độ phát canh thu tô. Mặc dù số ruộng công là rất lớn, song nhà Lê sơ lại đáng
thuế khá cao loại ruộng này, gấp 6 – 8 lần so với ruộng thác đao và ruộng tư.
Sở dĩ như vậy là do: ruộng thác đao là ruộng công đem phân cấp, đánh thuế
nhẹ vào ruộng thác đao là để cho kẻ được phong cấp còn được thu tô mà chi
dùng. Có thể ruộng quốc khố có thể cao hơn 6 – 8 lần thuế ruộng tư là vì
ruộng tư chủ yếu là ruộng của giai cấp phong kiến địa chủ nên triều đình cũng
đánh nhẹ để chúng còn thu tô. Với biện pháp đó, nhà nước phong kiến đã có
một cách hiệu quả để mua chuộc giai cấp địa chủ phong kiến. Nghiên cứu
tổng quát chế độ thuế ruộng tại các thời kì trong lịch sử Việt Nam, có thể nhà
nước phong kiến chỉ không thu thuế ruộng tư nhẹ hơn ruộng công trong
chừng mực chế độ thu thuế đó không có ảnh hưởng gì mấy đến ngân quỹ nhà
nước, có nghĩa là nhà nước phong kiến chỉ áp dụng chính sách đó khi tổng số
ruộng tư không lớn. Như vậy có thể thấy rằng vào đầu thế kỉ XV quyền sở
hữu tối cao của nhà nước về ruộng đất được xác lập hoàn toàn. Lần đầu tiên
trong lịch sử nhà nước chính thức tuyên bố quyền lực đó và hàng loạt các điều
luật cấm biến ruộng công thành ruộng tư. Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất
của nhà nước còn là đặc trưng của xã hội phương Đông nói chung. Bên cạnh
quyền quản lí về lãnh thổ quốc gia, nhà nước trung ương luôn chú trọng xác

thưởng cho công thần. Đây là một chính sách đúng đắn, bởi người được ban
thưởng là binh sĩ đã vào sinh ra tử cùng với Lê Lợi trong suốt cuộc đấu tranh.
Bộ máy cai trị phong kiến phương Bắc cùng hàng loạt chính sách ngu dân đã
bắt đầu ngấm sâu vào hệ tư tưởng dân tộc (Nho giáo và các hình thức của nó)
là cả một quá trình chiến đấu lâu dài gay go quyết liệt. Chính vì vậy giành
được chủ quyền đất nước là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, do đó Lê
Lợi thi hành chính sách ban thưởng ruộng đất là hoàn toàn đúng đắn. Ban
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh thưởng ruộng đất cho công thần có ý nghĩa lớn lao trong việc ổn định đời
sống nhân dân, giải quyết tình trạng không có ruộng đất.
Số ruộng đất ban thưởng ở đây chủ yếu là ở các vùng đã được giải
phóng bao gồm ruộng tịch thu của giặc Minh, của quý tộc Lý – Trần, ruộng
hoang hóa, ruộng tuyệt tự…. Việc ban thưởng được thức cơ bản là: nhà nước
dựa vào các sổ ruộng mới lập xong tính các khu đất công cho đủ số lượng mà
cấp, hai là nhà nước cho phép công thần được tự mình lựa chọn vùng đất
phong thưởng cho từng người là 400 – 500 mẫu
4
. Tuy nhiên, con số này có
sự thay đổi trong từng trường hợp cụ thể và đặc biệt tùy thuộc vào công
trạncủa người được ban thưởng. Chẳng hạn như, Nguyễn Phúc Trực ở làng
Đình Giang (Thanh Lâm, Hải Dương - được hưởng 300 mẫu, trong khi đó
Ngô Từ lại được cấp gần 1000 mấu ruộng ( gấp đôi số ruộng đất chung là 400
– 500 mẫu). Đối với người nông dân kham chiếm số ruộng đất được ban
thưởng có thể thập hơn ( khoảng 100 mẫu).
Như vậy thông qua việc ban thưởng ruộng đất trên của nhà Lê sơ, mà
cụ thể là Lê Thái Tổ ngay sau khi ông lên ngôi, là chính sách mang tính toàn
diện, số ruộng đất cùng với bổng lộc chức tướcđã được ban thưởng một cách
công bằng cho những người có công khá hậu. Phải chăng với chính sách hợp

được hệ thống quan lại, tay sai đắc lực do đó nhà nước đã cai trị đến tận làng
xã.
1.2.2. Chính sách ban thưởng ruộng đất ở các triều vua sau:
Chính sách ban thưởng ruộng đất cho các công thần không phải đến
đến thời nhà Lê sơ mới được lập ra mà chính sách này đã được các triều đại
trước thi hành, Lê Lợi – người khởi nghiệp của dòng họ Lê sơ cũng là người
nối tiếp truyền thống đó, và trong các triều đại sau, chính sách này được kế
thừa và phát huy sao cho phù hợp với tình hình của đất nước đương đại.
Không chỉ dừng lại ở việc ban thưởng ruộng đất cho các binh lính
tướng sĩ đã tham gia cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhà Lê sơ còn ban
thưởng ruộng đất cho dân địa phương sống trong các làng xã đã có công giúp
đỡ các binh lính tướng sỹ nhà Lê sơ trong kháng chiến như làng Hòa Yên,
Nam Xương, Đông Nhan, …theo bia thời Lê Đại Hành ở xã Trung Lập –
huyện Thụy Nguyên – Tho Xuân – Thanh Hóa năm Hồng Đức thứ 15 (1484)

5
Lê Quý Đôn trong “Kiều văn tiểu lục”. Nxb Sử học, Hà nội 1962, tr 162
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh nhà nước cấp cho đền thờ sáu, bẩy mẫu ruộng ở các xứ làm tự điền giao cho
dân xã làm Tự Lệ.
6
Bên cạnh đó, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra trong thời Lê sơ là
một sự kiện lớn mang tính lịch sử các vị có công đầu trong cuộc khởi nghĩa
đều bị xử tội nặng và bị tịch thu tài sản, tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Trần
Nguyên Hãn,…Các triều đại vua sau đã lần lượt minh oan cho họ, với việc
cấp lại ruộng đất cho con cháu họ, truy tặng chức tước nhà Lê sơ đã phần nào
chuộc lại những sai lầm trước đó, tất nhiên quyền sở hữu tối cao vẫn thuộc về
nhà nước. Việc phong thưởng ruộng đất trong giai đoạn này, cũng như chính

Vua giúp nước” gây dựng thế mạnh cho triều đình, mà còn giúp chính quyền
trung ương thiết lập một hệ thống tay sai đắc lực từ trung ương đến địa
phương. Không phải ngẫu nhiên mà nhà Lê sơ lại ban bố một chính sách
ruộng đất mang tính chất toàn diện đến như vậy, thông qua chính sách phong
thưởng đó, nhà Lê đa chia nhỏ đất nước ta ra thành từng bộ phận nhỏ và sử
dụng chính những công thần được ban thưởng ruộng đất làm người đứng đầu
cai trị và thực chất là thu địa tô cho triều đình, tất cả đều là sự phân chia
quyền bóc lột nhân dân lao động giữa nhà nước với các quan lại. Nói một
cách khác trong triều đại nào cũng vậy, nông dân và những tầng lớp ở đáy
cùng xã hội (nô tỳ) luôn là đối tượng mang trên mình nhiều tầng áp bức bóc
lột nhất. Một hệ quả nữa mà chính sách ban thưởng ruộng đất cho công thần
của nhà Lê sơ là nhân rộng diện của giai cấp địa chủ trong cả nước, nhà nước
muốn cai trị đến tận làng xã phải thông qua bộ máy quan lại địa phương, tuy
nhiên đây cũng là một hạn chế của chính sách bởi các địa chủ với quyền lợi
và ruộng đất của mình dễ phát triển thành cát cứ riêng biệt. Mặc dù vậy khi hệ
thống chính quyền còn đủ mạnh có thể đàn áp, dập tắt bất kỳ một thế lực cát
cứ nào thì nhà nước vẫn là người nắm mọi quyền lực, quyền sở hữu trong tay,
do đó có thể tăng, giảm, tịch thu hoặc ban thưởng cho bất kỳ một đối tượng
nào.
Như vậy thông qua chính sách ban thưởng ruộng đất cho công thần của
nhà Lê sơ nói chung có thể thấy trong một thời gian không dài nhà Lê sơ đã
nhanh chóng thiết lập cho mình một hệ thống chính quyền khá vững mạnh,
mọi quyền hành đều tập trung trong tay nhà Vua, các chính sách ban bố của
nhà nước đều mang tính toàn diện triệt để, điều này không chỉ giúp xây dựng
nhà Lê sơ trở thành một triều đại vững mạnh về chính trị, quân sự, mà còn đạt
được nhiều thành tựu đáng kể trong việc khôi phục, phát triển nền sản xuất,
kinh tế nông nghiệp, cùng với những thành tựu về văn hóa – xã hội nói chung.
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh

Lê Thánh Tông đã phát triển nó đến đỉnh cao. Tuy nhiên về đối tượng được
ban cấp lại hoàn toàn khác nhau, nếu như nhà Lý Trần phong cấp Thái Ấp
nghĩa là kẻ được cấp có quyền chi phối về con người, thành viên của Thái Ấp
thì nhà Lê sơ chỉ cấp ruông thế nghiệp để phát canh thu tô. Căn cứ vào chế độ
phong cấp thời Lê sơ, có thể thấy bộ phận Tôn thất được cấp nhiều ruông thế
nghiệp, quan lại thì được ít. Thí dụ bậc thân vương được cấp sáu trăm mẫu
ruộng thế nghiệp và 40 mẫu đất thế nghiệp để làm nhà, vườn và 1530 mẫu
ruộng công để thu tô. Còn viên quan nhất phẩm chỉ được 18 mẫu đất, 15 mẫu
ruộng công để thu tô. Chính sách ban thưởng ruông lộc điền của thời Lê sơ
không phải là thái ấp. Người được ban cấp lộc điền chỉ được thu tô, nhưng
không có quyền gì đối với nông dân cày trên ruông đã cấp. Những nông dân
này vẫn là thần dân của nhà nước phong kiến, họ không có nghĩa vụ đối với
quan lại có lộc điền, ngoài việc phải nộp đủ tô cho họ. Nếu hoa lợi trên các
lộc điền tăng lên thì thu hoạch của nông dân sẽ tăng lên. So với chế độ phong
cấp thái ấp thì chế độ ban cấp lộc điền là một bước tiến có lợi cho sản xuất và
phát triển xã hội.
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, nhà nước trung ương ban hành một
quy chế đầy đủ về việc cấp được ruộng lộc cho các quý tộc quan lại. Chính
sách tỏ ra rất ưu hậu, đặc biệt là đối với các hoàng tử, công chúa. Những
người này không những được cấp rất nhiều ruộng đất ân tứ mà còn được cấp
hang trăm mấu ruộng thế nghiệp, chứ không phải hai ba chục mẫu như thời
Trần. Lệ ban tuớc vinh phong trở thành hết sức quan trọng. tuy nhiên chính
sách này cũng mắc phải một số hạn chết nhất định, mà truớc hết là khó có thể
thực hiện chính sách triệt để trên một diện tích rộng nhà lê sơ phải quản lí.
Chẳng hạn như gia phả họ Bùi ở Thanh Trì (Hà Nội ) Thượng thư thời Lê sơ
là Bùi Xương Trạch hầu như không được cấp lộc điền hoặc nếu có cũng
không dùng lệ nên không thấy ghi lại.

Trích đoạn Về ruộng đất bán lại cho con cháu Về ruộng đất địa chủ Vai trò của chính sách ruộng đất của nhà Lê Sơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status