chính sách ruộng đất của triều Nguyễn - Pdf 26

Mở đầu
Đối với một nớc nông nghiệp , vấn đề ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa
hàng đầu . Từ thời xa xa , khi con ngời phát minh ra nghề nông trồng lúa , họ
cũng tìm đợc nguồn lơng thực chính nuôi sống họ và làm cơ sở cho sự phát triển
xã hội . Nói đến nghề nông trồng lúa , tức là nói đến ruộng đất . Vì vậy ,quản lý
và không ngừng mở rộng ruộng đất là những vấn đề sống còn của con ngời .
Nhng quản lý nh thế nào , mở rộng nh thế nào , tuỳ thuộc những quan hệ xã hội
đơng thời chi phối .
Khoa học Lịch sử Việt Nam từ lâu đã không chỉ dừng lại ở những vấn đề
chính trị và quân sự, mà còn bắt đầu đi sâu tìm hiểu vào những mặt kinh tế và
thiết chế xã hội. Phơng hớng đó chứng tỏ sự nhận thức đúng đắn và toàn diện
đối với lịch sử dân tộc theo quan điểm của Đảng. Đối với lịch sử nớc ta, dân tộc
ta, thế kỷ XIX có một vị trí đặc biệt. Đó là thế kỷ đã diễn ra bớc ngoặt quan
trọng từ chế độ phong kiến sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến thời cận đại.
Để hiểu sâu sắc thời kỳ cổ trung đại cũng nh cận đại, không thể không hiểu giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XIX. Bởi vì ở những năm đầu thế kỷ XIX, chế độ phong
kiến Việt Nam đã bộc lộ tất cả những đặc điểm và tính chất của nó. Nghiên cứu
giai đoạn đó không những để hiểu mà còn nhận biết chế độ phong kiến Việt
Nam trên đờng khủng hoảng của nó, đồng thời xác định đợc vai trò và trách
nhiệm của triều Nguyễn. Nghiên cứu chế độ ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX đ-
ơng nhiên cũng góp phần vào công việc nói trên, hơn nữa còn đem lại những lợi
ích trực tiếp khác, cũng rất quan trọng. Thực vậy, ruộng đất là t liệu sản xuất
chủ yếu, hay đặc trng của các xã hội tiền t bản, là một bộ phận nằm trong sức
sản xuất xã hội. Mác khẳng định chế độ sở hữu ruộng đất là cơ sở thực sự của
xã hội trung đại phong kiến , chế độ sở hữu ruộng đất là nhân tố xã hội chủ đạo
đã định ra phơng thức sản xuất và trao đổi trong xã hội . Bởi vậy muốn nghiên
cứu một hình thái kinh tế xã hội thì phải nghiên cứu chế độ ruộng đất . Nó
không những định ra phơng thức sản xuất mà định ra phơng thức trao đổi trong
xã hội
1
Ruộng đất bao giờ cũng chỉ tồn tại với t cách t liệu sản xuất nếu nó gắn liền

I. bối cảnh lịch sử
Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại không những trong một bối cảnh đặc biệt
của đất nớc mà còn trong tình hình thế giới có nhiều biến chuyển lớn . Thắng
lợi của chủ nghĩa t bản ở Tây Âu đã kéo theo sự phát triển của chủ nghĩa thực
dân và của sự giao lu buôn bán quốc tế . Sự phát triển nền kinh của chủ nghĩa t
bản đòi hỏi thị trờng để giải quyết việc tiêu thụ hàng hoá , nhân công , nguyên
liệu để cung cấp cho sự phát triển kinh té t bản chủ nghĩa . Để giải quyết nhu
cầu đó , các nớc t bản đẩy mạnh đi xâm lợc vũ trang . Chủ yếu tập trung ở khu
vực phơng Đông , đặc biệt ở Việt Nam từ thế kỉ XVIII các giáo sĩ phơng Tây
ngày càng đẩy mạnh xâm nhập vào Việt Nam để truyền đạo Thiên chúa , sang
thế kỉ XIX càng đợc đẩy mạnh khi nhà Nguyễn thành lập . Trong hoàn cảnh đó
đặt ra yêu cầu là phải chuẩn bị tiềm lực để sẵn sàng đối phó với cuộc xâm lợc
vũ trang của t bản Pháp : xây dựng tiềm lực cho quốc gia nhà nớc về kinh tế ,
quốc phòng . Về kinh tế đòi hỏi phải mở rộng quyền sở hữu ruộng đất cho nhà
nớc . Giải quyết an c lập nghiệp cho dân chúng , làm cho nông dân có ruộng để
cày cấy đảm bảo cho xã hội ổn định phát triển .
Trong khi đó từ giữa thế kỉ XVIII đầu XIX chế độ phong kiến ở nhiều
nớc phơng Đông bớc vào giai đoạn khủng hoảng . Một trong những nguyên
nhân dẫn đến khủng hoảng là do quan hệ bóc lột điạ tô phong kiến đã mâu
thuẫn sâu sắc với lực lợng sản xuất là nông dân mà nguyên nhân của tình trạng
đó chính là xuất phát từ vấn đề ruộng đất . Lúc này ruộng đất hầu hết tập trung
vào tay giai cấp địa chủ , nông dân ở các làng xã phải phụ thuộc chặt chẽ vào
địa chủ ( Theo số liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỉ XIX cả
nớc có 3.945.225 mẫu ruộng thực trng , trong khi đó ruộng công thuộc quyền sở
hữu của nhà nớc chỉ còn chiếm 17,8% . Ruộng đất t hữu vào địa chủ chiếm
82,02% , đặc biệt ở Nam bộ ruộng đất t hữu chiếm tới 92% ) . Nh vậy quyền sở
hữu ruộng đất của nhà nớc bị thu hẹp nghiêm trọng , nguồn thu của nhà nớc từ
ruộng công làng xã không còn bao nhiêu . trong khi đó nhu cầu để ban cấp
3
ruộng đất cho quan lại , xây dựng quốc phòng ngày càng cao , đồng thời nông

Nh vậy, đến năm 1836, cả nớc có 17640 làng xã đợc lập sổ địa bạ (chiếm
95,06% tổng số làng xã trong cả nớc. Trên cơ sở này, Nhà nớc bắt nhân dân
đóng thuế công điền. Chủ trơng lập sổ địa bạ trên cả nớc để lại nguồn t liệu quý
để nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
và nửa đầu thế kỷ XX. Bằng cách đó, nhà nớc đã thống kê đợc toàn bộ ruộng
đất đang cầy cấy trong cả nớc; đồng thời Nhà nớc nắm đợc số ruộng đất và biết
đợc tổng thu ngân sách một năm là bao nhiêu:
Tổng diện tích đất: 3.949.255 mẫu (khoảng năm 1836) trong đó, tổng diện
tích ruộng: 3.396.584 mẫu.
Tổng diện tích đất: 552.671 mẫu.
Riêng về ruộng, tổng diện tích ruộng công chỉ còn: 580.363 mẫu, tức là
khoảng 17%, ngoài ra còn hơn 1.000.000 mẫu ruộng đất bỏ hoang.
Trong luật pháp của mình nhà Nguyễn có một số điều luật quy định cấm các
làng xã không đợc bán ruộng đất công. Nếu đã bán phải chuộc lại, lấy lại ruộng
đất trả cho ngời cày, ngời mua ruộng mất tiền. Nhà nớc chuyển một bộ phận
ruộng đất thuộc sự quản lý trực tiếp gọi là quan điền, quan trại thành ruộng đất
công để chia cho nông dân làm ruộng công.
Về chính sách khai hoang:
Đầu thế kỉ XIX , nhà Nguyễn đã đồng thời áp dụng cả 2 chính sách : khai
hoang những vùng đất mới và phục hồi những vùng đất bị bỏ hoá để khắc phục
thực trạng một bộ phận nông dân không có ruộng hoặc không đủ ruộng để cày
cấy , cũng nh một bộ phận không nhỏ ruộng đất lại bị bỏ hoang hoá . Tuy nhiên
vào giữa thế kỷ XIX, tuy có phục hoá và khẩn hoang thêm đợc một số ruộng
đất, nhng tình hình vẫn khó khăn. Theo Thợng th Bộ Hộ là Hà Duy Phiên:
Thừa Thiên, Quảng Trị ruộng công nhiều hơn ruộng t, Quảng Bình thì ruộng
công ruộng t bằng nhau. Còn các hạt khác thì ruộng t nhiều mà ruộng công ít,
tỉnh Bình Định lại càng ít hơn
1
.
Trớc hết có thể thấy rằng nớc Đại Việt từ thế kỷ X đến giữ thế kỷ XIX là

Trong khoảng thời gian 1802-1858, nhà Nguyễn đã ban hành 46 quyết định
khai hoang, áp dụng chủ yếu cho miền đồng bằng Nam Bộ (54%). Lực lợng
khai hoang đợc huy động bao gồm cả binh lính (11%), tù phạm (39%) và nhân
dân (50%). Các phơng thức khẩn hoang gồm đồn điền (39%), dinh điền (8,7%),
6
t nhân đợc Nhà nớc cấp vốn (41, 3%) và t nhân khai khẩn tự do (11%). Kết quả
khai hoang, 56% số quyết định cho đất đai khai khẩn đợc thành sở hữu t nhân,
còn lại thuộc sở hữu Nhà nớc (37% thành ruộng do Nhà nớc quản lý trực tiếp,
11% thành ruộng công làng xã)
1
.
Nhìn vào các số liệu thống kê trên ta thấy công cuộc khai hoang dới triều
Nguyễn phát động khá rầm rộ, huy động mọi lực lợng, áp dụng nhiều hình thức
tổ chức. Tuy nhiên không phải địa phơng nào và nhất là cách giải quyết quan hệ
ruộng đất sau khai hoang nào cũng đều phát huy tác dụng nh nhau.
Đồn điền là hình thức khai hoang kết hợp kinh tế với quốc phòng. Ngay từ
cuối thế kỷ XVIII Nguyễn ánh đã thi hành chính sách lập đồn điền ở Nam Kỳ
dới hai hình thức: đồn điền do binh lính khai khẩn (trại đồn điền) và đồn điền
do dân khai khẩn (hậu đồn điền). Loại đồn điền thứ hai từng bớc bị quân sự hoá
thời Gia Long. Đầu thời Minh Mạng (năm 1822), Nhà nớc quyết định chuyển
toàn bộ hậu đồn điền thành trại đồn điền. Đồn điền tập trung chủ yếu ở Nam
Bộ. Địa điểm lập đồn điền thoả mãn hai điều kiện: nơi xung yếu về quân sự và
có tiềm năng đất đai để khai hoang. Lực lợng làm đồn điền (loại trại đồn điền)
chủ yếu là binh lính, ngoài ra còn có một số tù phạm đợc Nhà nớc cấp phát
nông cụ. Sản phẩm làm ra phần lớn nộp kho đồn điền. Mục đích kinh tế là cố
gắng đảm bảo cho binh lính các đồn điền tự cấp về lơng thực. Ngời lính làm
đồn điền, về mặt nghĩa vụ họ phải tăng thêm cờng độ lao động nhng quyền lợi
cá nhân thì không đợc chú ý thoả đáng. Vì thế dẫn đến hiện tợng binh lính bỏ
trốn khỏi các đồn điền, hiệu quả của việc khai hoang ruộng đất vì thế rất hạn
chế. Sau năm 1853, dờng nh nhận thức đợc thực trạng này, nhà Nguyễn quyết

. Bản điều
trần này cũng nói rõ về mục đích khẩn hoang: giải quyết ruộng đất cho dân thì
họ mới yên ổn làm ăn, không tụ họp nhau mà nổi loạn. Hơn nữa lại đáp ứng đợc
lợi ích thuế khoá do kết quả khẩn hoang đem lại, một vấn đề nan giải của nhà n-
ớc phong kiến lúc đó. Trong bản điều trần khẩn hoang, Nguyễn Công Trứ cũng
trình bày các biện pháp cụ thể để triển khai công việc: Cho những ngời địa ph-
ơng giàu có chia nhau trông coi làm, mộ đợc 50 ngời thì làm một ấp, cho làm ấp
trởng, đều tính đất chi cho. Cấp cho tiền công để làm nhà, làm cửa, mua trâu bò
nông cụ, lại lợng cấp cho tiền gạo lơng tháng trong hạn sáu tháng, ngoài hạn ấy
thì làm lấy mà ăn, 3 năm thành ruộng đều chiếu lệ t điền mà đánh thuế
2
.
1
Đại Nam Thực lục chính biên, tập 9, Hà Nội, 1964, tr. 123-124-220.
1
Đại Nam Thực lục chính biên, tập 9 đệ nhị kỷ, Nxb Khoa học xã hội, 1964, tr. 33-34.
2
Đại Nam Thực lục, sđ d, tr. 33-34.
8
Doanh điền là một hình thức khẩn hoang dới thời Nguyễn đợc Nhà nớc cấp
một phần nhu phí cho dân khai hoang
3
:
Đơn vị Số đinh Tiền mua
trâu bò
Tiền mua
nông cụ
Tiền làm
nhà
Tổng cộng

dân triệt để khai thác nguồn lợi đất đai nhất là tại các địa phơng mà họ sinh
sống. Sử sách của nhà Nguyễn không thấy chép về kết quả của việc khai hoang
theo hình thức này, vì thế không có cơ sở đánh giá hiệu quả của nó so với các
hình thức khai hoang khác.
Hình thức khẩn hoang doanh điền của nhà Nguyễn thực hiện ở đồng bằng
Bắc Bộ đã thu đợc những thành quả đáng khích lệ: mùa thu năm 1828, huyện
Tiền Hải ra đời với diện tích khai hoang đợc là 18.970 mẫu và số đinh 2.350 ng-
ời. Huyện đợc chia đặt thành 7 tổng với 14 lý, cũng chính thức đợc ghi vào sổ
sách của nhà Nguyễn với 7 tổng, 60 lý, ấp trại. Số ruộng khẩn hoang đợc là
14.620 mẫu chia cấp cho dân nghèo 1.250 ngời. Tổng Hoành Thu (Giao Thuỷ-
Nam Định) bắt đầu đợc khai khẩn vào tháng 3/1828 đến đầu năm sau thì căn
bản hình thành với 14 ấp, trại, giáp có 380 mẫu ruộng và 301 đinh. Tổng Ninh
Nhất cũng đợc thành lập với 9 làng, ấp, trại, giáp có 345 xuất đinh và 4120 mẫu
ruộng đất.
Nh vậy, chỉ trong vòng 2 năm, hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn và hai tổng
Hoành Thu, Ninh Nhất đợc lập nên với 16 tổng, 154 lý, ấp, trại. Số ruộng đất
khẩn hoang đợc là 38.095 mẫu và 4.264 đinh. Đó là một thành quả rất lớn, đáng
đợc đánh giá cao dới thời Minh Mạng.
Tại Nam Bộ việc doanh điền đã đợc bắt đầu từ tháng 6/1853 tới tháng
7/1854 đã có 124 ấp mới ra đời ở các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Gia Định và
Định Tờng
1
Công cuộc khai hoang mở rộng diện tích canh tác đợc mở rộng dới thời
Nguyễn, trong đó đạt hiệu quả hơn cả là ở thời Minh Mạng và đầu thời Tự Đức
gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phơng. Tuy nhiên ứng
với mỗi phơng thức khai hoang là một quan hệ sở hữu khác nhau và kết quả
thực tế cũng phụ thuộc nhiều vào cách giải quyết quan hệ sở hữu đó.
Hình thức khai hoang nữa là Nhà nớc cho phép quan và dân có khả năng đợc
đứng ra chiêu mộ dân nghèo đi khai hoang. Nhà nớc cung cấp tiền, công cụ cho
ngời đi khai hoang. Ruộng đất khai hoang đợc biến thành ruộng đất công, ngời

sau:
11
Binh đồn điền: lực lợng khai hoang là quân lính. Sản phẩm thu đợc nhập kho
chung của Nhà nớc để làm lơng thực nuôi quân. Ruộng đất khai hoang đợc
thuộc quyền sở hữu trực tiếp của Nhà nớc. Nhà nớc mở rộng diện tích sản xuất.
Dân đồn điền: lực lợng khai hoang là dân làng do Nhà nớc chiêu tập đi khai
hoang, nhân dân các làng xã không có điều kiện khai hoang đợc biên chế thành
quân đội. Đây là chính sách quân sự hoá dân đồn điền. Ngời cày ruộng hàng
năm nộp su thuế cho Nhà nớc nhẹ hơn thuế công điền. Mỗi ngời mỗi năm nộp 2
hộc thóc. Các hàng lão, bệnh tật 1 năm nộp 1 hộc. Từ năm 1810, dân đồn điền
toàn vùng Nam bộ đợc quân sự hoá 100% thành hơng binh (nh dân quân).
Thời Minh Mạng, binh đồn điền dọc biên giới Việt Nam- Cam-pu-chia và
các đảo. Khi không có chiến tranh, ngời khai hoang tiến hành làm ruộng, luyện
tập quân sự. Đây là lực lợng quân sự để tham gia đánh giặc.
Nhà Nguyễn có chủ trơng chính sách khuyến khích ngời khai hoang trong
đồn điền tiếp tục mở rộng khai hoang.
Khai hoang đồn điền ở Khánh Hoà: thời Minh Mạng khai hoang đợc 140
mẫu, chính quyền thởng 100 quan tiền; ở Vĩnh Long khai hoang đợc 260 mẫu,
chính quyền thởng 250 quan tiền; ở Biên Hoà khai hoang đợc 300 mẫu chính
quyền thởng 400 quan tiền. Năm 1836, Minh Mạng có chủ trơng đem các thủ
phạm tổ chức thành quân đội đi khai hoang lập đồn điền do Nhà nớc cấp kinh
phí.
Để khuyến khích nhân dân lập đồn điền, Nhà nớc chỉ thu 50% hoa lợi, ngời
sản xuất giữ lại 50% tổng số hoa lợi thu hoạch. Những nơi đất xấu, Nhà nớc cho
phép ngời lập đồn điền đợc hởng 100% hoa lợi, mục đích để họ yên tâm ở lại
những nơi xung yếu. Quy mô, phạm vi trên cả nớc, đặc biệt là ở vùng đất mới,
nhất là biên giới Cửu Long- Cam-pu-chia. Điểm mới của chính sách khai hoang
này là nhà Nguyễn kết hợp làm kinh tế, tham gia mở rộng diện tích với nhiệm
vụ quốc phòng, biến thành những nơi đồn trú, khi có biến động là có lực lợng
đối phó trong khi Nhà nớc cha đa quân kịp thời đến đợc.

tay để thực hiện mu đồ lớn của dòng họ. Vì vậy cuộc chiếm trị phơng Nam đợc
kết hợp với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Nhng điều cần đặc biệt chú
ý là, công cuộc phát triển sản xuất nông nghiệp này diễn ra theo phơng hớng,
13
hay theo phơng thức xác lập quan hệ địa chủ tá điền. Hình thức sở hữu địa chủ
và sở hữu nhà nớc chiếm vai trò mở đầu và chủ đạo. Các đồn điền và các ấp mộ
là tổ chức định c đầu tiên và đa số ở những miền đất mới. Phơng thức đó đợc
nhà Nguyễn chủ động thực hiện một cách có ý thức, để tạo ra một hậu thuẫn
chính trị, đúng hơn là một cơ sở giai cấp xã hội đông đảo cho chính quyền nhà
Nguyễn. Giai cấp đó là giai cấp địa chủ lớn nhỏ, vốn xuất thân từ dòng họ
Nguyễn, hay số các tay sai của dòng họ này đợc hởng những đặc quyền đặc lợi
của chính quyền Nguyễn ban cho. Vì vậy, trong một thời gian dài, sự thống trị
của họ Nguyễn đợc củng cố và tăng cờng rõ rệt. Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp
Đàng Trong phát triển đúng lúc thơng nghiệp và thủ công nghiệp phồn thịnh
trên toàn quốc; kinh tế hàng hoá đã tiến lên một trình độ mới, khiến cho sự phân
hoá giai cấp và quan hệ địa chủ tá điền nhanh chóng đi tới đỉnh cao của nó. Sự
bần cùng hoá của nông dân, cùng với sự đình trệ của sản xuất nông nghiệp bắt
nguồn từ tình trạng ngời trực tiếp cày cấy không có ruộng đất trong tay, lại trở
thành điều kiện kìm hãm thơng nghiệp và thủ công nghiệp. Tuy vậy trong 30
năm cuối thế kỷ XVIII, tình hình kinh tế nói chung không có gì thay đổi lắm d-
ới thời Tây Sơn, nhất là dới quyền của Thái Đức hoàng đế và Đông Định Vơng.
Nếu Nguyễn Huệ không mất sớm thì chắc chắn lịch sử chứng kiến những biến
đổi mới mẻ trên con đờng tiến lên của nó.
Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ Đàng
Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn ánh tự đặt niên hiệu là Gia Long, lập ra nhà
Nguyễn. Thành lập và thống trị trong thế kỷ XX, nhà Nguyễn thừa hởng đợc
thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống trị đất
nớc, làm chủ một giải lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Các vua nhà
Nguyễn từ Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840) đến Thiệu Trị
(1841-1847), Tự Đức (1848-1833) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống

Do bản chất giai cấp và đặc điểm hình thành dòng họ nh nói trên, kể từ năm
1802, nhà Nguyễn đã ban hành và thực hiện một đờng lối chung về ruộng đất
nh sau:
15
1. Cùng với việc ra sức mở rộng diện tích ruộng đất bằng nhiều hình
thức khẩn hoang, chú ý trớc hết đến việc duy trì bảo vệ và phát triển sở hữu nhà
nớc và sở hữu làng xã.
2. Tích cực tranh đoạt ruộng đất công làng xã và dùng quyền lực pháp chế
biến nó thành cơ sở cho thiết chế quân chủ tập quyền phong kiến chuyên chế
trên nguyên tắc sở hữu kết hợp nhà nớc với làng xã.
3. Đồng thời luôn luôn quan tâm thích đáng và đầy đủ đến việc tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của sở hữu địa chủ.
4. Ngoài ra, đối với sở hữu nhỏ tự canh, chỉ khi nào cần khuyến khích để
đảm bảo quyền lợi dòng họ thì mới cho phát triển; còn nói chung phải hạn chế
trong những giới hạn nhỏ hẹp cả về thiết chế pháp lý lẫn điều kiện thực tế.
Về cơ bản dới triều Nguyễn chỉ còn tồn tại một loại ruộng đất ban cấp là
ruộng thờ (tự điền), Ruộng đất đợc Nhà nớc ban cấp cho các quan chức cao cấp,
các hình thức ban cấp ruộng đất khác đều bị bãi bỏ.
Điểm giống của chính sách này so với các triều đại trớc là Nhà nớc đều sử
dụng ruộng đất để ban cấp cho quan lại. Nhng điểm khác là ruộng đất ban cấp
không chỉ có ruộng đất công làng xã mà có một bộ phận ruộng đất thuộc quyền
quản lý trực tiếp của Nhà nớc gọi là quan điền quan trại. Ruộng đất đợc Nhà n-
ớc ban cấp rất ít. Ruộng này để cho các quan lại làm ruộng cúng tế, thừa tự.
Việc ban cấp ruộng thừa tự đợc thực hiện rải rác trong nhiều năm, chủ yếu
dới thời Gia Long (thời Minh Mạng chỉ có hai lần cấp tự điền vào năm 1842 và
1829). Tổng số ruộng đất nhà Nguyễn lấy ruộng đất ban cấp làm tự điền cho
các quan chức cao cấp là 14330 mẫu. Kết quả thống kê các lần ban cấp ruộng
thờ cho thấy tính chất hạn chế của chính sách này: trong suốt nửa thế kỷ số
ruộng ban cấp chỉ có 14.330 mẫu
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status