1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
TRƯƠNG THUÝ TRINH TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA
TRIỀU NGUYỄN TRONG GIAI ĐOẠN 1802
- 1883
(TỪ GIA LONG ĐẾN TỰ ĐỨC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. ĐỖ QUANG HƯNG
III.3.1. Triều Minh Mệnh
III.3.2. Triều Thiệu Trị
III.3.3. Triều Tự Đức
C - Một số nhận xét và kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục ảnh
Trang
1
9
9
9
12
15
19
26
26
45
56
64
64
67
71
72
75
77
nhìn nhận lại thực trạng tôn giáo ở đất nước ta trong thời điểm này Việc rút
4
kinh nghiệm từ các bài học lịch sử, dù nó là thành công hay thất bại đều có ý
nghĩa quan trọng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay, khi
Đảng và nhà nước ta đang hướng sự quan tâm vào vấn đề đổi mới trong chính
sách tôn giáo.
Trong Nghị quyết 24 gần đây của Chính phủ, đã nêu rõ quan điểm đổi
mới trong vấn đề tôn giáo: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với sự nghiệp xây
dựng xã hội mới
Lần đầu tiên, vấn đề Chính sách văn hoá với tôn giáo đã được đề cập
tới trong Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ V (khoá VIII). Trên cơ sở tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của dân, bảo đảm cho các tôn
giáo hoạt động bình thường trên cơ sở tôn trọng pháp luật nghiêm cấm xâm
phạm tự do tín ngường và không tín ngưỡng. Đảng và Nhà nước ta khẳng
định cần phải: Khuyến khích những ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện
trong tôn giáo, đồng thời tuyên truyền khắc phục tệ mê tín dị đoan, chống vụ
lợi tôn giáo tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu [100, 66-67]
Tôn giáo vốn là một vấn đề phức tạp, chứa đựng nhiều mối liên quan
đa chiều mang tính lịch sử, xã hội, văn hoá, tâm linh Đây cũng là những khó
khăn lớn của chúng tôi khi nghiên cứu về vấn đề này. Kết quả nghiên cứu có
được chắc chắn là không lớn. Chúng tôi sẽ cố gắng hệ thống lại vấn đề chính
sách tôn giáo đầu triều Nguyễn, trên cơ sở đó nhìn nhận, đánh giá vấn đề một
cách khách quan và chân thực nhất.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài :
2.1. Vấn đề tôn giáo dưới triều Nguyễn từng được đề cập không ít trong
các tác phẩm sử học, từ trước cách mạng tháng Tám (1945). Song, căn cứ
vào tài liệu sưu tầm được, chúng tôi nhận thấy: chưa có công trình nào chuyên
tình hình chính trị - xã hội, các động thái và phản ứng của triều Nguyễn trước
vấn đề Công giáo, tác giả đi đến lý giải thực chất của chính sách cấm đạo
dưới triều Nguyễn.
Trong cuốn "Sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ
XVII đến XIX", PGS. Nguyễn Văn Kiệm dành riêng Chương V để nói về
chính sách của triều Nguyễn đối với Công giáo. Nội dung, diễn biến chính
sách và các đối pháp của triều Nguyễn với Thiên Chúa giáo được trình bày
theo trình tự thời gian gắn liền với từng sự kiện lịch sử. Cách trình bày này
giúp cho người đọc dễ dàng nắm bắt được các vấn đề về động cơ, căn nguyên,
và diễn biến của chính sách Công giáo triều Nguyễn. Chúng tôi cũng thấy đây
là một điểm hay cần vận dụng trong quá trình nghiên cứu. Tác giả cũng muốn
chỉ ra rằng chính sách Thiên Chúa giáo của triều Nguyễn như là một phản ứng
có tính chất tự vệ trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Bên cạnh
những tài liệu chính sử, tác giả có sử dụng tư liệu nước ngoài có giá trị do
chính tác giả sưu tầm và biên dịch.
Cuốn "Việt Nam Giáo sử" (Tập I) của Phan Phát Huồn, Nhà xuất bản
Cứu Thế - Sài gòn, năm 1958, là một cuốn lịch sử về quá trình du nhập và
phát triển đạo Thiên Chúa kể từ khi nó được truyền bá vào Việt Nam cho đến
những năm đầu thế kỷ XX. Song nội dung cuốn sách phản ánh khá đầy đủ và
sinh động các khía cạnh về tổ chức giáo hội, các hoạt động tôn giáo, trong đó
có nói đến chính sách tôn giáo dưới triều Nguyễn. Cuốn sách này cung cấp
những tư liệu từ các báo cáo, thư từ, ghi chép cá nhân của các thừa sai người
Pháp và người nước ngoài. Do đó, đây là nguồn tư liệu có thể tham khảo được
trong việc tìm hiểu tình hình sinh hoạt Công giáo và chính sách Công giáo ở
Việt Nam những năm đầu thế kỷ XIX.
Ngoài ra, có thể kể tên một số bài nghiên cứu có liên quan đến chính
sách Công giáo dưới triều Nguyễn trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của Viện
7
Nghiên cứu Tôn giáo: bài viết “Công giáo và Lê Văn Duyệt’’ của GS. Đỗ
tình hình nêu trên là do bắt nguồn từ thực tế sinh hoạt tôn giáo dưới triều
Nguyễn: Công giáo là vấn đề nổi cộm thời kỳ này nên thu hút được sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu, trong khi Tam giáo diễn ra phẳng lặng nên ít
được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ.
3.4. Một số công trình nghiên cứu do cán bộ Viện Nghiên cứu Tôn giáo
thực hiện trong thời gian gần đây: "Các điển lễ và nghi lễ tôn giáo triều
Nguyễn qua Khâm định đại Nam Hội điển Sử lệ" của ThS. Nguyễn Ngọc
Quỳnh, năm 2000, và "Chính sách tôn giáo tín ngưỡng dưới triều Nguyễn"
qua bộ Đại Nam Thực lục Chính biên và Minh Mệnh Chính yếu, đề tài viết
chung của ThS. Nguyễn Ngọc Quỳnh và NCV. Võ Phương Lan, năm 2001.
Kết quả nghiên cứu mới dừng ở mức độ khảo cứu, song cũng đã giúp ích rất
nhiều cho nghiên cứu của chúng tôi.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu lên những dẫn chứng lịch sử có liên quan tới đối sách của nhà
Nguyễn đối với các tôn giáo lớn, lâu đời: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và
tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam từ mấy thế kỷ trước là Thiên Chúa
Giáo.
- Phân tích nguyên nhân cơ bản của hệ thống đối sách ấy, thành công,
thất bại, bài học về chính sách tôn giáo nhìn từ góc độ sử học và tôn giáo học
ở mức độ có thể.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
9
- Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn được khái quát từ hệ thống đối
sách đối với từng tôn giáo cụ thể. Chính sách đó có thể được biểu hiện bằng
các văn bản pháp luật, cũng có thể là thái độ, cách ứng xử hay những việc làm
cụ thể
- Ở đây chỉ chú ý vào những sự kiện lịch sử có liên quan xảy ra trong
khoảng thời gian từ 1802 đến 1883. Bởi vì, đây là thời gian các vua Nguyễn
còn có quyền điều hành triều chính và quốc gia còn độc lập, tự chủ (tương
hợp và kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan
đến vấn đề này.
7. Bố cục luận văn :
Luận văn gồm các nội dung chính sau đây:
A - Mở đầu: Trình bầy các vấn đề phương pháp luận nghiên cứu
B - Nội dung: Kết quả nghiên cứu gồm 3 chương :
- Chương I: Tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1802 - 1883
- Chương II: Chính sách đối với "Tam giáo"
- Chương III: Chính sách đối với Công giáo
C - Một vài nhận xét và kết luận.
B - NỘI DUNG
11
CHƢƠNG I
TÌNH HÌNH XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1802 - 1883
I.1. Chính trị
Năm 1802, sau gần 30 năm chống phá phong trào Tây Sơn, nhà
Nguyễn lên nắm quyền trị vì đất nước. Triều Nguyễn đứng trước nhu cầu to
lớn về thống nhất lãnh thổ và hàng loạt các khó khăn, hậu quả của ba thế kỷ
nội chiến đó là: vấn đề biên giới, dân tộc, dân cư, phong trào đấu tranh chống
đối triều đình trong quần chúng nhân dân Để có được sức mạnh giải quyết
các vấn đề trên một cách nhanh nhất, trên cơ sở hệ tư tưởng Nho giáo, nhà
Nguyễn dựng lên một thiết chế chính trị tập quyền chuyên chế.
* Bộ máy nhà nước:
Triều Nguyễn xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế dựa trên mô
hình nhà nước phong kiến Trung Hoa. Để tránh những đảo lộn chính trị - xã
nước ta làm căn bản, tham chiếu luật Hồng Đức và luật nhà Thanh”. Song,
trên thực tế nó vận dụng hầu như sao chép toàn bộ luật nhà Thanh [90, 137].
Đại Nam hội điển toát yếu do vua Minh Mệnh ban hành năm 1833. Nhà
vua cho Nội các tóm lược các lệ của mình và vua Gia Long theo phạm vi
quản lý của lục bộ.
Khâm Định Đại Nam hội điển sử lệ do vua Thiệu Trị ban hành năm
1843, bao gồm toàn bộ các lệ của Gia Long và Minh Mệnh được tập hợp và
chỉnh sửa.
Nhìn vào hệ thống luật pháp triều Nguyễn, chúng ta thấy có hai bộ
phận chính là luật và lệ, trong đó, Luật Gia long được xem là bộ luật cở sở.
Do dập khuôn theo luật nhà Thanh nên khi áp dụng vào thực tế xã hội Việt
13
Nam Luật Gia Long không tránh khỏi những điểm bất hợp lý. Để khắc phục
tình trạng này, các vua Nguyễn thường xuyên phải ban các chỉ dụ bổ sung nên
nhiều khi, lệ có hiệu lực hơn luật. Ví dụ, triều Gia Long, năm 1817, trong khi
thu thuế ruộng ẩn lậu, so sánh các quy định giữa luật và lệ nhà vua cho rằng:
"luật như thế nặng quá, cứ theo lệ mà làm " [66, 329].
Tuy nhiên, trên thực tế, luật pháp nhà nước còn chịu sự chi phối của
một hệ thống luật bất thành văn của các làng xã, đó là lệ làng. Với nguyên tắc
"Phép vua thua Lệ làng", luật nước muốn được nhân dân tuân thủ thì nó phải
phù hợp với lệ làng. Tiếc rằng luật pháp nhà Nguyễn không có được điều này.
Xuất phát từ nhu cầu tập trung quyền lực và đối phó với tình hình chính trị xã
hội và phong trào đấu tranh trong nhân dân, triều Nguyễn tăng cường tính áp
chế cho luật pháp bằng cách rập khuôn máy móc theo luật nhà Thanh. Do đó,
đặc điểm nổi bật của luật triều Nguyễn là tính chuyên chế, độc đoán, quá
nghiêng về quyền lợi của giai cấp thống trị nên nhiều khi đối lập với nhân
dân. Trong đó, tính chuyên chế được đặc biệt thể hiện qua luật Tứ bất dưới
triều Gia Long, và sau này là các chính sách bế quan toả cảng, cấm đạo diệt
đạo dưới triều Minh Mệnh và Tự Đức. Với những đặc điểm nêu trên, luật
rối loạn. Điều này được thể hiện ở một số chính sách sau đây:
Triều Nguyễn thi hành chính sách quân điền, lấy ruộng đất của địa chủ
đem sung công, để bảo vệ ruộng công trước xu thế tư hữu hoá đang diễn ra
mạnh mẽ. Song triều Nguyễn đã thất bại, gây nên phản ứng gay gắt trong giới
địa chủ, đồng thời làm đảo lộn nền tảng kinh tế - xã hội. Địa chủ và cường
hào cấu kết với nhau ra sức lũng đoạn đời sống làng xã, đổ mọi gánh nặng
kinh tế lên vai người nông dân. Bị bóc lột thậm tệ, nông dân bị dồn tới bước
15
đường cùng, mất tư liệu sản xuất, thậm chí không còn khả năng làm nghĩa vụ
sưu thuế, lối thoát duy nhất của họ là đi xiêu tán, hoặc tham gia vào các
phong trào khởi nghĩa. Dân xiêu tán và phong trào nổi dậy là hai hiện tượng
phổ biến trong xã hội thời kỳ này, nó phản ánh tình trạng khủng hoảng của xã
hội Việt Nam dưới triều Nguyễn. Giai đoạn 1802 - 1847 có 1.814 làng xiêu
tán, nhà nước chỉ kiểm soát được khoảng 20% các xã trong phạm vi cả nước.
Trong vòng 80 năm đầu triều Nguyễn có tới gần 400 cuộc khởi nghĩa [59,
457], với những cuộc khởi nghĩa nông dân có quy mô lớn như cuộc khởi
nghĩa Phan Bá Vành, Ba Nhàn - Tiền Bột
Để củng cố quyền lực của nhà nước, triều Nguyễn, đặc biệt là triều
Minh Mệnh đã tiến hành cải cách hành chính trong phạm vi cả nước. Tuy
nhiên, ở những vùng dân tộc thiểu số, chính sách cư dân, dân tộc cứng nhắc
của triều Nguyễn đã làm cho đời sống chính trị, xã hội, văn hoá và tín ngưỡng
ở nơi đây bị đảo lộn Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của các dân
tộc thiểu số đã nổ ra. Vùng núi phía Bắc, cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương
ở Hoà Bình (1832 - 1838) có liên quan đến người Mường, cuộc khởi nghĩa
của Nông Văn Vân (1829 - 1943) ở vùng Bảo Lạc, Đồng Mu có liên quan đến
người Tày. Phía Nam, có cuộc nổi dậy của nhân dân Vách Đá từ năm 1803
kéo dài suốt thời Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Đặc biệt là cuộc
khởi nghĩa của người Khơ me ở các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang,
Kiên Giang diễn ra trong suốt những năm 40.
đình để đi theo người Pháp. Điều này nằm trong những mưu đồ của chủ
nghĩa thực dân, phá hoại xã hội Việt Nam từ bên trong. Mặt khác, bên ngoài
chúng gây sức ép, lấy lý do bảo vệ quyền tự do tôn giáo để nổ súng xâm lược
nước ta. Sau khi Pháp nổ súng xâm lược, mâu thuẫn lương - giáo tiếp tục là
17
nguyên nhân của nhiều cuộc nổi dậy trong nhân dân. Triều đình thì đầu hàng
từng bước rồi dựa hẳn vào Pháp để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
Trước sự phản bội của triều đình, phong trào đấu tranh tiếp tục nổ ra mạnh
mẽ trong phạm vi cả nước. Mục tiêu của các cuộc khởi nghĩa bắt đầu thay đổi,
vừa đánh Pháp vừa chống triều đình Huế với khẩu hiệu "Bình Tây sát Tả" ,
"Phen này ta đánh cả triều lẫn Tây".
Như vậy, lên nắm quyền trong điều kiện xã hội rối ren, với một chính
sách cai trị hà khắc và sự suy yếu của chính quyền trung ương, triều Nguyễn
đã không giải quyết được tình trạng xã hội khủng hoảng. Các mâu thuẫn đối
kháng trong xã hội, đặc biệt là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân với chính
sách cai trị của triều Nguyễn được chuyển hoá thành hàng trăm cuộc khởi
nghĩa và nổi dậy. Nó là minh chứng chân thực nhất cho tình trạng xã hội
khủng hoảng, đồng thời phản ánh sự bất lực của triều Nguyễn trước thực tại
xã hội đó. Đặc biệt, sai lầm của triều Nguyễn trong vấn đề cộng đồng Công
giáo gây ra mối xung đột lương - giáo, góp phần làm cho xã hội Việt Nam trở
nên mục ruỗng và suy yếu, tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược nước ta.
I.3. Kinh tế
* Về nông nghiệp:
Nằm trong hệ tư tưởng Nho giáo, triều Nguyễn thi hành chính sách
"trọng nông ức thương", do đó nông nghiệp được đặc biệt ưu tiên phát triển.
Đầu triều Nguyễn, tình hình sản xuất nông nghiệp đình đốn do chiến tranh
loạn lạc kéo dài. Sau một thời gian khôi phục, nông nghiệp đã có được những
thành tựu nhất định. Nhờ có chính sách khai hoang hợp lý, diện tích canh tác
được liên tục được mở mang. Triều đình khuyến khích nhân dân khai hoang
19
Bát Tràng, khảm Phú Xuyên sản xuất thủ công nghiệp phổ biến ở hầu hết
các làng xã với tư cách 'nghề phụ'. Thủ công nghiệp dân gian về cơ bản vẫn
phát triển theo hướng tự nhiên, quy mô nhỏ hộ gia đình mang tính tính chất
tiểu nông truyền thống.
Thương nghiệp: Thương nghiệp trong nước, sau một thời gian dài nội
chiến, nhà Nguyễn lên nắm quyền đã làm được một số việc cơ bản như thống
nhất hệ thống tiền tệ, đơn vị đo lường trong toàn quốc. Song do chính sách ức
thương nên thương nghiệp kém phát triển. Triều Nguyễn nắm độc quyền
thương nghiệp, điều hành thông qua các hoạt động trưng thu chủ yếu để phục
vụ nhu cầu tiêu dùng của triều đình và dự trữ quốc phòng. Hoạt động này
không tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, ngược lại nó kìm chế sức
sản xuất, cản trở lưu thông và trao đổi hàng hoá ở cả thị trường trong và ngoài
nước.
Các hoạt động buôn bán trong dân gian bị triều đình hạn chế, đặc biệt
dưới triều Minh Mệnh với biện pháp ngăn sông cấm chợ làm cho thương
nghiệp suy giảm nghiêm trọng. Sự lụi tàn của Phố Hiến, Kẻ Chợ, Hội An,
thay thế vào đó là một số trung tâm buôn bán mới Hà Nội, Đà Nẵng, Gia
Định song qui mô và mức độ trao đổi hàng hoá kém hơn. Hoạt động thương
nghiệp thời kỳ này chủ yếu dựa vào mạng lưới chợ địa phương và một số các
làng buôn như: Đa Loan, Đa Ngưu, Báo Đáp, Phù Lưu Tuy nhiên, sự ra đời
của các làng buôn cũng như sự phát triển hoàn thiện của mạng lưới chợ địa
phương là một biện pháp giải quyết bế tắc của nền kinh tế tiểu nông, thực
chất, thương nghiệp chưa có được những bước phát triển đột phá. [19]
Ngoại thương chịu ảnh hưởng trực tiếp của chính sách ngoại giao của
triều đình, nên tình hình diễn biến phức tạp, không nhất quán và có xu hướng
bế quan toả cảng.
20
phòng yếu kém, khiến cho nước ta nhanh chóng bị khuất phục trước âm mưu
xâm lược của chủ nghĩa thực dân. Chính sách đóng cửa, xua đuổi các nước
phương Tây trong khi lại ưu tiên người Pháp đã tạo điều kiện cho người Pháp
dễ bề gây áp lực quân sự đối với Việt Nam. Triều Nguyễn thi hành chính sách
đóng cửa đã đi ngược lại xu thế phát triển. Việc Pháp cưỡng bức Việt Nam
phải mở cửa tất yếu sẽ xảy ra.
Kinh tế Việt Nam thế kỷ XIX, dưới ảnh hưởng trực tiếp của hệ tư
tưởng Nho giáo "trọng nông ức thương", nền kinh tế phát triển mất cân đối.
Nông nghiệp có được một vài bước tiến không đáng kể. Công - thương
nghiệp vẫn rơi vào tình trạng đình trệ, bế tắc. Những bước tiến nhỏ của nó
chưa đủ sức phá vỡ mối quan hệ sản xuất phong kiến. Đặc biệt, tưởng rằng để
bảo vệ đất nước trước âm mưu xâm lược của tư bản phương Tây, nhà Nguyễn
thi hành chính sách kiềm chế ngoại thương, nhưng chính điều đó góp phần
giam cầm đất nước trong tình trạng nghèo đói và lạc hậu, không tạo ra được
cho đất nước có một sức mạnh để đối phó với âm mưu xâm lược của chủ
nghĩa thực dân.
I.4. Tôn giáo
Trải qua mấy thế kỷ nội chiến liên miên, sự bất ổn của tình hình chính
trị - xã hội là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo phát triển. Khi
Gia Long lên ngôi, tình trạng này tiếp tục kéo dài gây ra cho triều đình nhiều
khó khăn trong việc ổn định tình hình chính trị xã hội. Đặc biệt, có một số
thay đổi trong hệ thống tôn giáo như: bên cạnh tín ngưỡng truyền thống là tục
thờ cúng tổ tiên và truyền thống tam giáo Nho - Phật - Đạo, có sự xuất hiện
của đạo Thiên Chúa, đạo Ki-tô, hay còn gọi là Công giáo (được người phương
Tây truyền vào từ thế kỷ XVI). Trước khi Pháp can thiệp, Việt Nam vẫn còn
22
là một nước phong kiến độc lập, song sự bùng phát các sinh hoạt tôn giáo, với
một số nhân tố mới đã đặt ra cho triều Nguyễn những thách đố không nhỏ.
Trước tiên là chính sách độc tôn Nho giáo trong mối tương quan của
Song triều Nguyễn cũng gặp phải những mâu thuẫn trong khi thi hành
chính sách đối với Phật, Lão. Chẳng hạn: một mặt, để bảo vệ vị trí của Nho
giáo, tập trung quyền lực và củng cố vương quyền cần phải có biện pháp hạn
chế đối với Phật, Lão. Mặt khác, lại phải đảm bảo quyền tự do tôn giáo một
cách tương đối để duy trì một xã hội ổn định. Gia Long trước khi mất không
quên căn dặn Minh Mệnh không nên cấm đoán các tôn giáo lớn trong nước, vì
những xáo trộn về văn hoá xã hội sẽ gây ra bạo động chính trị. Điều này hoàn
toàn không đơn giản, vì triều Nguyễn lên nắm quyền trong một điều kiện chế
độ phong kiến đang trên đà suy yếu, sức mạnh Nho giáo đặc biệt có ý nghĩa
đối với triều Nguyễn trong việc củng cố vương quyền. Tuy nhiên, đứng trước
hệ tư tưởng Tống Nho chuyên chế và cực đoan, truyền thống Tam giáo đồng
nguyên rất dễ bị xúc phạm. Trên thực tế, khi vị trí độc tôn của Nho giáo được
bảo vệ thì Phật, Lão và tất cả những yếu tố đi ngược lại tinh thần giáo lý Nho
giáo và xu hướng tập quyền đều bị loại bỏ. Luật pháp Nguyễn xếp Phật, Lão
vào hàng "tà đạo" và luôn bị khống chế. Trước sức ép của triều đình, Phật,
Lão lùi về chốn làng xã hoà quyện vào các sinh hoạt trong dân gian. Đó là
minh chứng cho thấy Phật, Lão không tàn lụi nhưng đã thực sự sa sút về vị
thế xã hội.
Về tình hình sinh hoạt Công giáo, mặc dù là một "đạo lạ" mới vào
nước ta được mấy thế kỷ, song nó đã thu hút được niềm tin của một bộ phận
dân chúng. "Lại như đạo Gia tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa
24
đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như
điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết "[65,161-169].
Đầu thế kỷ XIX, số giáo dân Công giáo lên tới 310.000 giáo dân, với 3
Giám mục, 15 thừa sai ngoại quốc, 119 linh mục bản xứ. Điều đó cho thấy
Công giáo đã thực sự trở thành một thực thể xã hội [40].
Tuy nhiên, Công giáo có nhiều điểm khác biệt, thậm chí đối lập với
những truyền thống văn hoá Việt Nam. Xung đột về văn hoá đã dẫn đến xung
muốn này. Minh Mệnh là người sùng Nho và rất ác cảm với Công giáo, ngay
sau khi lên ngôi cho áp dụng biện pháp quản lý chặt các giáo sĩ, đặc biệt hành
động tiêu diệt các thế lực thân Công giáo đã dẫn đến vụ nổi loạn Lê Văn
Khôi. Năm 1832 - 1833, vụ việc Lê Văn Khôi mở đường cho chính sách cấm
đạo diệt đạo dưới triều Nguyễn. Các vua Thiệu Trị, Tự Đức sau này đều tiếp
tục thi hành chính sách cấm đạo của triều Minh Mệnh. Đặc biệt, triều Tự Đức,
trước các hành động gây hấn của hải quân Pháp ở bên ngoài, thì chính sách
cấm đạo diệt đạo ở trong nước càng được xiết chặt.
Bản thân Công giáo có một sức mạnh nội tại khiến nó thu hút được số
lượng không nhỏ trong dân chúng. Dưới triều Tự Đức, cứ 10 người thì có 4
người đi theo Công giáo, hầu hết đều xuất phát từ niêm tin tôn giáo. Việc triều
Nguyễn cấm đạo, xúc phạm quyền tín ngưỡng chân chính, làm cho các giáo
dân xem người Pháp là người bảo trợ duy nhất cho quyền hành đạo của họ.
Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, với việc một số giáo dân lầm
lạc đi theo Pháp, thì cộng đồng Công giáo bị coi là những kẻ phản bội tổ
quốc, chính sách cấm đạo càng được xiết chặt. Đứng trước nạn ngoại xâm,
trong lúc đất nước cần tới sức mạnh đoàn kết hơn bao giờ hết, thì với chính