Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2011 - Pdf 10

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 1 SVTH: NHÓM 04
Tiểu luận

Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong
giai đoạn 2010-2011
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 2 SVTH: NHÓM 04

DANH SÁCH HỌC VIÊN THAM GIA THẢO LUẬN
Tập thể thành viên nhóm 4 xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp, xây
dựng bài của các anh (chị):

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 4 SVTH: NHÓM 04

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 5
I. Các cơ sở lý luận về kiểm soát lãi suất tín dụng 6
1. Khái niệm kiểm soát lãi suất tín dụng 6
2. Đặc điểm của kiểm soát lãi suất tín dụng 6
3. Vai trò kiểm soát lãi suất tín dụng 9

ngay nhưng có một điều khá rõ ràng là nhìn nhận có sự mạnh tay hơn trong xử lý
ngân hàng yếu kém.
Ở góc độ và khả năng phân tích và thu thập thông tin, nhận định, đánh giá
vấn đề của một nhóm với các thành viên đang là sinh viên, những người tham gia
thực hiện cho rằng bài viết vẫn có ít nhiều hạn chế. Do đó, nhóm xin chân thành
cảm ơn sự hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm của thầy T.S Diệp Gia Luật cùng
mong muốn ghi nhận các ý kiến đóng góp của thầy và các anh (chị) đề bài viết hoàn
thiện hơn.
Tp.HCM, tháng04/2012.
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 6 SVTH: NHÓM 04

I. CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG
1. Khái niệm kiểm soát lãi suất tín dụng
Kiểm soát lãi suất tín dụng các hành động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
thông qua các chính sách lãi suất để điều tiết lãi suất tín dụng ở một mức hợp lý tùy
theo bối cảnh kinh tế nhằm duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ.
Chính sách lãi suất là một bộ phận của Chính sách tiền tệ (CSTT), bao gồm các
nội dung chủ yếu: Mục tiêu hoạt động là kiểm soát được biến động của lãi suất thị
trường; các quan điểm và định hướng điều hành; cơ chế kiểm soát lãi suất thị trường
tiền tệ (TTTT) phù hợp với mức độ phát triển của TTTT, khả năng điều tiết tiền tệ
và mức độ độc lập của Ngân hàng nhà nước (NHNN); các giải pháp hỗ trợ khác.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách lãi suất là bộ phận của chính sách tiền
tệ, tác động đến cung- cầu vốn và hiệu quả phân bổ các nguồn lực tài chính trong
nền kinh tế.
Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng đã đạt được
những thành tựu nhất định, góp phần không nhỏ vào những thành quả chung của

triển nền kinh tế tức là phải đảm bảo cho những người vay vốn ngân hàng có thu
nhập hợp lý, nghĩa là:
Lãi suất cho vay => Tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
Để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các quan hệ tín
dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng được kiểm soát trong
khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát => lãi suất tín dụng => tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực đối với
nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn.
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHNN sẽ căn cứ
vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng trong
toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta thường quy định hai chỉ tiêu cơ
bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
- Lãi suất cơ bản: Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các
loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm
vị trí quan trọng trong cơ chế thị trường. Lãi suất cơ bản do NHNN xác định và
công bố trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền
tệ quốc gia.
 Lãi suất cơ bản là lãi suất tái chiết khấu: Đây là phương pháp phổ
biến được NHNN các nước áp dụng. Do lãi suất này được chủ động
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 8 SVTH: NHÓM 04

công bố và được xem xét, tính toán tương đối thường xuyên nên thực
sự đóng vai trò quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng
như cung cầu vốn của các TCTD. Nhưng lãi suất chiết khấu lại mang
nặng tính chất để điều hành chính sách tiền tệ.
 Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa: Thực chất của lãi suất cơ
bản loại này là NHNN công bố và kiểm soát lãi suất tiền gửi tối đa và
tự do hoá lãi suất cho vay. Các TCTD sẽ ấn định các mức lãi suất tiền

đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu. Mỗi khi tỷ suất chiết khấu thay đổi đều có
xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của NHNN đối với các NHTM và do
đó khuyến khích hoặc cản trở nhu cầu xin vay. Mặt khác, khi kho bạc muốn bán tín
phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngân hàng thì họ phải chào một lãi suất tương đương với
tỷ suất chiết khấu. Nói cách khác, khi ấn định tỷ suất chiết khấu, NHNN cũng ấn
định luôn mức lãi suất đi vay của Nhà nước.
3. Vai trò kiểm soát lãi suất tín dụng
Giữ vai trò là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất
cơ bản, NHNN tác động vào thị trường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín
dụng, giữ mức tương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác,
lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cở sở hình thành
lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hoà một cách
tự nhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vay tiền và của TCTD. Lãi suất cơ
bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ. Nếu đứng trên giác độ bảo
vệ lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người vay vốn) người ta quy định lãi
suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của
người gửi tiền, các TCTD không được hạ lãi suất một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu
phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng không được tăng lãi suất cho vay quá mức.
Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các TCTD, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành
mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bản theo
chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối
thiểu. Điều này làm cho các TCTD không được vì muốn tạo lợi thế trong cạnh
tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp, gây
thiệt hại chung cho toàn hệ thống các TCTD. Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính
đến tổng thể quan hệ cung cầu vốn thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động
kinh doanh tiền tệ thông thường. Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng
trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 10 SVTH: NHÓM 04


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 11 SVTH: NHÓM 04

II. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI
SUẤT TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN
2010 - 2011
1. Thực trạng chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của NHNN giai
đoạn 2010 - 2011:
 Bối cảnh kinh tế năm 2010
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2009 đã
tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội nước ta; chúng ta đã có sự điều chỉnh chính
sách nhằm ứng phó với những biến động của kinh tế thế giới, từ thắt chặt tài khóa
và tiền tệ để kiềm chế lạm phát (năm 2008) sang kích cầu đầu tư để thúc đẩy tăng
trưởng (năm 2009), và thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng (năm 2010) và
thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN
nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội (năm 2011).
Đỉnh điểm của năm 2008, do chịu ảnh hưởng chung của sự biến động lớn của
nền kinh tế trong nước, thị trường ngân hàng cũng phải cùng đi chung con thuyền
biến động về lãi suất và tỷ giá, Từ đó, các chính sách kích cầu, chính sách hỗ trợ
lãi suất được thực hiện trong các năm 2008, 2009 và dần kết thúc. Từ năm 2010,
nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phải đi theo quỹ đạo thực sự của nó, các doanh nghiệp
Việt Nam theo đó cũng phải chứing minh được năng lực và tự chủ động trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình thay cho sự trông chờ vào những chính sách
hỗ trợ của Nhà nước.Ngân hàng NN rơi vào tình trạng khăn về thực thi các chính
sách Tiền tệ và cũng xuất hiện dày đặc tần suất điềi chỉnh lãi suất trong điều hành
hoạt động ngân hàng.
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước đạt mức 6,78%, vượt chỉ tiêu kế
hoạch đặt ra là 6,5%. Tốc độ tăng trưởng này có thể khẳng định Việt Nam đã vượt

trung kiềm kế lạm phát, giảm mạnh tăng trưởng tín dụng, thắt chặt chi tiêu ngân
sách, nhưng nhờ thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất như
miễn giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Giá trị gia tăng, khuyến khích xuất
khẩu, thúc đẩy thị trường trong nước nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, nhất là
về cuối năm. GDP cả nước năm 2011 tăng 5,89%, trong đó: nông, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 2,3%. Công nghiệp và xây dựng tăng 7%. Dịch vụ tăng 6,4%. Quy mô
nền kinh tế ước đạt 119 tỷ USD, với mức GDP bình quân đầu người đạt 1.300
USD/năm.
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 13 SVTH: NHÓM 04

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng trên, lạm phát vẫn là vấn đề nóng của Việt
Nam trong năm 2011. Nghị quyết 11 của Chính phủ với những giải pháp quyết liệt,
lạm phát đã dần được kiểm soát. Từ tháng 5/2011, tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu
dùng đã giảm dần. Trong năm tháng cuối năm, lạm phát chỉ tăng ở mức dưới 1%
(tháng 8: 0,93%; tháng 9: 0,82%; tháng 10: 0,36%; tháng 11: 0,36%; tháng 12:
0,53%). Chỉ số CPI tháng 12/2011 so với cùng kỳ tăng 18,13%.
Thị trường tài chính cũng có những chuyển biến tích cực. Về tín dụng, với việc
triển khai quyết liệt chính sách thắt chặt tiền tệ đã kiểm soát được tăng trưởng tín
dụng và tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp. Cả năm 2011, tổng phương tiện
thanh toán tăng khoảng 10% (mục tiêu đề ra 16%). Vốn tín dụng được ưu tiên cho
sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ. Giảm tỷ trọng vốn vay của
khu vực phi sản xuất. Lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm. Về nguồn vốn từ nước
ngoài như ODA, kiều hối trong năm vừa qua đều có tăng trưởng nhẹ. Hiệu quả sử
dụng vốn ODA của Việt Nam được nhiều nhà đầu tư tin tưởng.
 Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của NHNN 2010 - 2011.
Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05/11/2010 và Quyết định số 2868/QĐ-
NHNN ngày 01/12/2010 về việc quy định lãi suất cơ bản bằng đồng VND là 9%.
Theo đó, mức lãi suất cao nhất trong các giao dịch không vượt quá 150% lãi suất cơ
bản mà Ngân hàng nhà nước đưa ra, kể cả lãi suất tín dụng.

Thông tư số 04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 quy định TCTD áp dụng lãi
suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của TCTD theo từng
đồng tiền trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn.
QUYẾT ĐỊNH Số: 407/QĐ-NHNN ngày 12 tháng 03 năm 2012; về lãi suất tái
cấp vốn, lãi suát tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử
lien ngân hang và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân
hang Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng;
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án 254 (quyết định 254/QĐ-TTg – đề án
254) “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu
lành mạnh hoá thị trường tài chính…; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt
động của các tổ chức tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường
trong hoạt động ngân hàng.
Thông tư 05/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 30/2011/TT-NHNN ngày 28/09/2011
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 15 SVTH: NHÓM 04

quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân
tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Quyết định 407/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử
liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hang.
Thông tư số 05/2012/TT-NHNN ngày 12 tháng 3 năm 2012 Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2011 quy
định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng
là 5%/năm. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là
13%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với
tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 13,5%/năm.
Thông tư số 08/2012/TT-NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền


Thông tư 30/2011/TT-NHNN ngày
28/09/2011

Bổ sung: Lãi suất tối đa không kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới 1 tháng là 6%/năm
=> nhằm đối phó tình trạng một số ngân
hàng huy động kỳ hạn rất ngắn (24 giờ, 2
ngày, 1 tuần, 2 tuần) với mức lãi suất tối đa
Lãi suất

i

Ki

m soát tr

n lãi su

t tín d

ng

Quy định LS
chiết khấu
Quy định tỷ lệ
dự trữ bắt buộc
Biểu đồ: Các mối liên hệ tương tác vào yếu tố lãi suất tại Việt Nam
Thị trường Việt Nam
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 18 SVTH: NHÓM 04

2. Đánh giá và nhận xét về chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của
NHNN:
 Tác động tích cực.
Trong giai đoạn 2010-2011 và những tháng đầu năm 2012, bằng những chính
sách tiền tệ cứng rắn của Ngân hàng nhà nước và của chính phủ, đã mang lại những
kết quả khả quan trong việc giảm lãi suất cho vay, hiện nay lãi suất cho vay đang ở
mức dưới 17,5%/ năm.
 Tác động tiêu cực.
Mặt tích cực của các chính sách kiểm soát lãi suất tín dung còn hạn chế trong

vào vốn vay. Con số hơn 50.000 doanh nghiệp đóng cửa hoặc ngừng hoạt động
trong năm 2011 là bằng chứng chính sách tiền tệ đã phát huy tác dụng, dù không ai
mong muốn như vậy. Khi doanh nghiệp khó khăn và chậm trả nợ trong lúc thanh
khoản của hệ thống bị NHNN siết chặt, nợ xấu trong khối ngân hàng gia tăng nhanh
chóng, nhất là những ngân hàng không có tiềm lực mạnh. Nhu cầu cải tổ hệ thống
ngân hàng vốn đã yếu kém là điều tất yếu và NHNN đang ráo riết triển khai một kế
hoạch cải tổ như vậy. Việc thanh lọc những doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém
trong năm qua và sắp tới, xét trên khía cạnh hiệu quả kinh tế, là điều cần thiết cho
mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững của Việt Nam. Nới lỏng tiền tệ quá sớm có
thể làm công cuộc tái cấu trúc này không đi đến đích.
Lãi suất cao là những khó khăn thanh khoản cục bộ, riêng lẻ tại một số ngân
hàng, biểu hiện thông qua việc lách trần Lãi suất huy động, gây áp lực thanh khoản
cho hệ thống, khiến mặt bằng Lãi suất không thể giảm như mong muốn. Căng thẳng
thanh khoản không chỉ vì các ngân hàng khó huy động vốn của các tổ chức, dân cư
mà còn do các ngân hàng này không vay được vốn của các ngân hàng khác trên thị
trường liên ngân hàng, do các thành viên trên thị trường này đã mất niềm tin
nghiêm trọng lẫn nhau. Các ngân hàng không vay mượn được nhau trên liên ngân
hàng, khiến thanh khoản căng thẳng, nguồn vốn bị ứ đọng, không chảy được từ nơi
thừa sang nơi thiếu, dẫn tới chi phí vốn cao, giá vốn Lãi suất vay không thể hạ.
 Nguyên nhân của những hạn chế:
Việc điều hành và kiểm soát lãi suất TTTT của NHNN gặp khó khăn, do các
nhân tố nằm ngoài khả năng điều tiết của mình; tác động của cơ chế điều hành lãi
suất đối với lãi suất TTTT còn yếu; mối liên hệ giữa các loại lãi suất TTTT và lãi
suất chính thức của NHNN còn lỏng lẻo; chưa có lãi suất chuẩn; mặt bằng lãi suất
TTTT sơ cấp và thứ cấp còn cát cứ; độ nhạy của hành vi tiết kiệm, đầu tư và tiêu
dùng với lãi suất còn hạn chế; NHNN chưa xác định lãi suất mục tiêu; mô hình điều
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 20 SVTH: NHÓM 04

hành và kiểm soát lãi suất thị trường phức tạp; trên thị trường liên ngân hàng hiện

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 21 SVTH: NHÓM 04

III. NHẬN ĐỊNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN
DỤNG VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG NĂM 2012.
 6 Tháng cuối năm 2011, doanh nghiệp thật sự đương đầu với khó khăn
toàn diện.
Từ cuối quý 1/2011, sau khi Chính Phủ ban hành nghị quyết 11 thắt chặt tiền tệ,
giảm tỷ lệ cho vay phi sản xuất để kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế. Khi
đó, nhiều doanh nghiệp cảm nhận đây là sức ép nhất thời, và sẽ nới lỏng tiền tệ để
thúc đẩy kinh tế vào các tháng cuối năm. Tuy nhiên, mặc cho nhiều doanh nghiệp
kêu rên sắp phá sản sau mấy tháng bị khan vốn và lãi suất cao, Chính phủ vẫn tiếp
tục thực hiện kiểm soát tiền tệ chặt trong quý 4/2011 và năm 2012. Với tỷ lệ tăng
trưởng cung tiền và tín dụng năm 2011 giảm mạnh đạt chưa tới 50% so với các năm
trước, làm cho các doanh nghiệp bị khó khăn vừa không vay được vốn, không chỉ
các doanh nghiệp BĐS và xây dựng mà cả các doanh nghiệp ngành khác. Thống kê
một số công ty SXKD hàng đầu trên TTCK cho thấy tỷ suất sinh lời 2011 giảm
30% so với 2010 và giảm phân nửa so với 2009. Trong nghiên cứu gần đây của
VCCI cũng chỉ ra lợi nhuận bình quân quý 4/2011 của các doanh nghiệp SME đã
giảm 18% so với quý 3.
ROE của một số công ty SXKD hàng đầu

ROE các doanh nghiệp năm 2011 giảm mạnh so với các năm trước cho thấy
tình cảnh khó khăn của doanh nghiệp hiện nay

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 22 SVTH: NHÓM 04

 Năm 2012 là năm của quản trị tài chính – kinh doanh trong giai đoạn
đầu của tái cấu trúc nền kinh tế.

GHVD: TS. Diệp Gia Luật 23 SVTH: NHÓM 04

 Tinh gọn SX để giảm vốn: quyết liệt cắt giảm những hoạt động,
sản phẩm không chủ lực, sinh lợi thấp để giảm nhu cầu vốn lưu
động và vốn đầu tư.
 Các giải pháp chiến lược quản trị dài hạn : Các giải pháp này đòi hỏi
quyết liệt trong nhận thức, kiên trì trong triển khai để cấu trúc doanh nghiệp
lên một tầm cao mới, đủ khả năng cạnh tranh và phát triển trong giai đoạn
mới, bao gồm:
 Quản trị Minh bạch để tăng sức mạnh tài chính và tăng hình ảnh
thương hiệu: Từng bước áp dụng mô hình quản lý minh bạch của
công ty cổ phần đại chúng để phát huy nguồn lực nội tại và nguồn
lực bên ngoài. Tiến tới cổ phần hóa để tăng nguồn lực tài chính,
đồng thời tạo sự tin tưởng cho khách hàng, tăng giá trị thương
hiệu và thị phần
 Áp dụng quản trị - công nghệ để tăng năng suất lao động: Thời
kỳ đầu tư chiều rộng từ thâm dụng vốn đã không còn hiệu quả.
Doanh nghiệp phải tập trung đầu tư chiều sâu, tái lập quy trình
sản xuất theo hướng nâng cao năng suất lao động trong khâu sản
xuất dựa trên công nghệ mới và quy trình sản xuất thân thiện với
môi trường.
 Khách hàng là mục tiêu phục vụ : Để đảm bảo thị trường bền
vững trong môi trường cạnh tranh, thì sự hài lòng của khách hàng
là tiêu chí số 1. Cần tập trung khâu dịch vụ chăm sóc khách hàng
theo hướng “một cửa - một dấu” , giảm thủ tục và các khâu trung
gian.
Bên cạnh các giải pháp nâng cao tính độc lập, khả năng hoạt động của NHNN:
Từng bước phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ và
NHNN trong quá trình hoạch định và thực thi CSTT; cấu trúc lại NHNN theo mô
hình quản lý tập trung, hiệu quả, phù hợp với chức năng của NHNN; củng cố các

Tăng cường thanh tra, kiểm tra tính tuân thủ, chấp hành kỷ cương của các
TCTD; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về các tỷ lệ đảm bảo an
toàn, quy định về trần lãi suất huy động và các quy định khác; phối hợp với các cơ
quan truyền thông để thông tin hành vi vi phạm và kết quả xử lý đối với TCTD;
Xây dựng đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để nâng cao chất lượng, hiệu quả
và an toàn hệ thống.
Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ K21- Lớp Ngày 03
GHVD: TS. Diệp Gia Luật 25 SVTH: NHÓM 04

Nghiên cứu, sớm ban hành một số văn bản hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng như:
vay vốn giữa các TCTD, đầu tư tài chính, trong đó có hoạt động đầu tư trái phiếu
doanh nghiệp, ủy thác, nhận ủy thác đầu tư…
Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo kiểm
soát lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiểm soát tổng phương tiện thanh
toán 14-16% và tín dụng tăng trưởng 15-17%.
Kiểm soát tăng trưởng tín dụng và dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp phát
hành lần đầu. Giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các nhóm TCTD trên cơ sở
xếp loại TCTD của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và theo nguyên tắc
TCTD hoạt động tốt thì mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm TCTD hoạt động
chất lượng thấp hơn. Tập trung vốn phục vụ lĩnh vực sản xuất và các dự án, phương
án có hiệu quả, kiểm soát dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức
hợp lý. Thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ cho vay bằng ngoại tệ để đảm
bảo tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ phù hợp khả năng huy động vốn, chủ trương
hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế.
Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt theo tín hiệu thị trường,
phù hợp với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, diễn biến cán cân thanh
toán quốc tế và các cân đối vĩ mô; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý
ngoại hối, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, thu hút các nguồn tiền đầu tư,
kiều hối, từ nước ngoài về nước, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối nhà nước.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status