Phân tích hợp tác thương mại Việt Nam-EU trong lĩnh vực Dệt may - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................1
CHƯƠNG 1............................................................................................2
MỘT VÀI NÉT VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU(EU)...............................2
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu. ............................2
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á. ............................5
................................................................................................................. 8
CHƯƠNG 2............................................................................................9
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -EU
TRONG LĨNH VỰC DỆT MAY...........................................................9
2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam. ................................................9
2.2. Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam .......................................10
2.3. Cơ cấu của ngành dệt may Việt Nam. .................................................12
2.4. Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt Nam-EU.....14
CHƯƠNG 3..........................................................................................18
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – EU
TRONG LĨNH VỰC DỆT – MAY......................................................18
3.1. Định hướng của ngành dềt may Việt Nam ..........................................18
3.2. Định hướng thương mại dệt may Việt Nam- EU:................................20
3.3. Các giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại Việt Nam-EU trong
lĩnh vực dệt may. ........................................................................................22
3.3.1. Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại:.........................................23
3.3.2. CảI cách hệ thống để đẩy mạnh xuất khẩu. ..................................25
3.3.3. Đẩy mạnh phát triển nguyên liệu trong nước. ..............................26
3.3.4. Nghiên cứu triển khai và đào tạo nhân lực. ..................................26
3.3.5. Đẩy mạnh phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm. .........27
KẾT LUẬN...........................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................29
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU

1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
MỘT VÀI NÉT VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU(EU)
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay trong nền kinh tế thế giới
xuất hiện nhiều loại hình liên kết kinh tế. Trong đó liên minh Châu Âu ( cộng
đồng Châu Âu – EU trước đây ) là khối liên kết kinh tế hình thành sớm nhất
và có hiệu quả nhất. Trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21, với GDP khoảng 8500
tỷ USD, dân số khoảng 375 triệu người chiếm giữ khoảng 40-50% sản lưởng
công nghiệp của các nước tư bản phát triển EU đang trở thành một cực rất
mạnh trong nền kinh tế thế giới.
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu.
Ngay từ thời Saclơ đại đế thuộc đế chế La Mã ( TK8 – Sau công nguyên)
những mơ tưởng về thống nhất Châu Âu đã được hình thành. Tuy nhiên trong
một thời gian dài, ý đồ thống nhất Châu Âu chỉ thuộc về một vài nhà chính
trị, quân sự có nhiều tham vọng và một bộ phận các nhà tri thức. Đại bộ phận
Châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có ý tưởng gì về điều đó, mặc dù Châu
Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất.
Đến năm 1923, Bá Tước người Áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị thành
lập một liên minh Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm 1648 hay liên
bang Hoa Kỳ năm 1776 năm 1929 Bộ trưởng Pháp lúc bấy giờ – Arstide
Briand cũng đưa ra đề án thành lập liên minh Châu Âu. Nhưng những ý tưởng
này phải mãi đế sau chiến tranh thế giới thứ hai mới trở thành hiện thực.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu đều kiệt quệ về kinh tế.
So với năm 1937 sản lượng của Đức 1946 chỉ bằng 31%, Italia 64%, Anh
96%. Trong khi đó nhờ chiến tranh mà kinh tế Mỹ đã phát triển vượt bậc sức
mạnh kinh tế của Mỹ còn lơns hơn sức mạnh kinh tế của tất cả các nước Tây
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Âu gộp lại. Mặt khác sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác

Economic Community – EEC ) và cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu.
Ngày 25/ 7/ 1957 hiệp ược về việc thành lập 2 tổ vhức này đã được thông qua
và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/ 1/ 1958. Mỗi tổ chức có một chức năng
riêng: EEC có nhiệm vụ chung liên quan đến những vấn đề kinh tế với việc
tạo lập một thị trường chung, trong đó không còn sự ngăn cản vận động của
hàng hoá, tư bản, sức lao động … giữa các nước Tây Âu với nhau, cộng đồng
năng lượng nguyên tử Châu Âu quan tâm đến việc nghiên cứu phổ biến kiến
thức, bảo đảm nguồn cung cấp thường xuyên các nguyên liệu hạt nhân thúc
đẩy đầu tư lập các cơ sở sản xuất năng lượng hạt nhân chung lập thị trường
nguyên tử chung giữa các nước.
Bước vào đầu thập kỷ 90, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu đã làm thay đổi cục diện thế giới từ hai cực trở thành đa
cực. Trong trật tự mới, các thế lực đều đang dốc sức chuẩn bị lực lượng để
chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tương lai. Mặc dù đến thời điểm này cộng
đồng Châu Âu đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng nói chung về
kinh tế, chính trị lẫn quân sự vẫn còn thua kém Mỹ và Nhật Bản. Do vậy
trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trước mắt các nước Tây Âu vẫn sẽ phải thống
nhất lại, đẩy manh công cuộc xây dựng cộng đồng tạo ra sức mạnh tập thể để
đối phó với hai đối thủ lớn của mình. ĐIều này được thể hiện rất rõ tại Hội
nghị thượng đỉnh các quốc gia Tây Âu ở Maastricht – Hà Lan tháng 11 năm
1991. Tại Hội nghị này các quốc gia thành viên đã thống nhất: Thứ nhất tiếp
tục mở rộng liên kết bằng cắch kết nạp thêm các thành viên mới, thứ hai tạo
lập đồng tiền chung Châu Âu làm cho Châu Âu thay đổi một cách căn bản
vào năm 2000. Thứ ba, tiến tới thống nhất mặt chính trị, xây dựng một chính
sách quốc phòng an ninh chung. Năm 1993 những hiệp ước trên bắt đầu có
hiệu lực và EU cũng chính thức đổi thành liên minh Châu Âu ( European
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Union – EU ). Đồng thời, EU tiếp tục mở cửa lần thứ ba đến năm 1995 ba
nước ở Tây Bắc Âu gồm: Áo, Phần Lan, Thuỵ Điển đã trở thành thành viên

chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới. Đồng thời sự suy sụp của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm cho cục
diện về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng
của mình trong nền kinh tế thế giới. Việc thiết lập được một sự hiện diện
mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho phép EU đảm bảo được
lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế kỷ 21. Để đạt được điều đó
tháng 7/1994, EU đã thông qua văn kiện “Hướng tới một chiến lược mới đối
với Châu Á”.
Chiến lược mới này hướng tới các mục tiêu chủ yếu là:
Thứ nhất: Tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á nhằm
duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới. Việc thiết lập một
sự hiện diện đáng kể ở Châu Á sẽ cho phép EU chăm lo những lợi ích của
mình được tôn trọng hoàn toàn trong khu vực then chốt này vào đầu thế kỷ
21.
Thứ hai: Góp phần vào sự ổn định ở Châu Á bằng cách khuyến khích
hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế.
Thứ ba: Khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vực
kém thịnh vượng nhất. EU và các thành viên của mình tiếp tục góp phần làm
giảm bớt sự nghèo nàn và tạo ra một sự tăng trưởng bền vững ở các nước và
khu vực này.
Thứ tư: Góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ, nhà nước pháp
quyền, cũng như phương tiện tôn trọng quyền con người và các quyền tự do
cơ bản ở Châu Á.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để đạt được các mục tiêu trên EU đã đưa ra hàng loạt các chính sách
củng cố và tăng cường sự hiện diện của mình như.
- Dành cho Châu Á những ưu tiên lớn hơn và đi sâu đối thoại với các
nước và các nhóm trong khuôn khổ song phương hoặc đa phương.
- Coi trọng hợp tác kinh tế trong các lĩnh vực EU có lợi thế như ngân

viếng hội thảo khoa học… nhằm trao đổi thông tin và tăng cường sự hiểu biết
lẫn nhau. Quan hệ Việt Nam –EU bước vào giai đoạn lịch sử mới khi.
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng 7/1995.
Hiệp định đã tạo ra những yếu tố thuận lợi cho EU và mối nước thành viên
EU trong quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư với Việt Nam. Có thể nói,
hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU vừa là cơ sở pháp lý vừa là động cơ
thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU phát triên mạnh mẽ và toàn
diện trên rất nhiều lĩnh vực: hợp tác thương mại, đầu tư khoa học kỹ thuật môi
trường văn hoá giáo dục y tế… đặc biệt là trng lĩnh vực dệt may. Bằng chứng
là hai hiệp định dệt may Việt Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 –
2000 đã ký kết. nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường
EU đã tăng lên nhanh chóng. Vẫn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương
tiếp theo.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -EU
TRONG LĨNH VỰC DỆT MAY
2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam.
Ngành dệt may là ngành công nghiệp truyền thống có lịch sử phát triển
rất lâu đời ở nước ta. Mạc dù thường xuyên phảI đối mặt với rất nhiều thử
thách, song với đặc tính thu hút nhiều lao động, đầu tư ít vốn, thu lãi nhanh,
ngành dệt may đã tận dụng được các lợi thế của đất nước và đóng góp ngày
càng nhiều cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Thứ nhất, ngành dệt may phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là đảm
bảo đầy đủ nhu cầu thiết yếu cho nhân dân trong nước “sau cái ăn là cái mặc
”, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Trên thực tế sản phẩm của ngành dệt may chỉ mới đáp ứng được một phần
nhu cầu trong nước. Hàng năm chúng ta vẫn phảI nhập với một khối lượng
lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm. Mặt khác ngành dệt may sản

các sí nghiệp dệt may lớn Trung ương và địa phương đều đang cố gắng dành
những năng lực tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, phần nào
không xuất được thì để lại tiêu dùng trong nước. bằng chứng là thỉnh thoảng
mọt doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu nào đó lạI đưa ra “cửa
hàng giới thiệu sản phẩm” của mình những lô hàng kém phẩm chất bán cho
hàng tiêu dùng, đó là những chiếc quần áo rộng quá cỡ, khác biệt về màu sắc
và kiểu mốt đối với người Việt Nam. Hoạt động của ngành dệt may trên thị
trường nội địa có thể được phản ánh như sau:
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ở thị trường thành thị, thị trường bị thả nổi: Các cơ sở sản xuất kinh
doanh hàng may mặc của tư nhân gia đời rất nhanh với nhiều quy mô và hình
thức khác nhau đã thay thế dần cho may mặc quốc doanh, tình trạng kinh
doanh đất trốn lậu thuế sản xuất buôn bán hàng giả, hàng “Sida”, hàng ngoại
tràn vào một cách tràn lan, khó kiểm soát được. Ở thị trường nông thôn, miền
núi lại khác hẳn thị trường bị bỏ trống bởi cầu ít, khả năng thanh toán kém do
đó không đủ sức để thu hút tư thương vào.
Nếu ta chỉ làm một phép tính đơn giản cũng có thể thấy được sự lãng phí
đáng quan tâm của ngành dệt may Việt Nam. Nước ta hiện nay có khoảng 78
triệu dân, chỉ tính khiêm tốn mỗi người tiêu dùng bình quân 100. 000 đồng /
năm sẽ tạo được một thị trường với sức mua 7800 tỷ đồng ( tương đương với
khoảng 600 triệu USD ) xấp xỉ kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của chúng
ta vào 14 quốc gia thành viên EU năm 1998.
Đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu ra
hai khu vực thị trường: có hạn ngạch và phi hạn ngạch. Thị trường có hạn
ngạch do EU áp đặt. Nơi đây, loại hình gia công chiếm vhủ yếu 80% kim
ngạch xuất khẩu hầu như ổn định. Sau khi Hiệp định dệt may thời kỳ đầu
( 1993 – 1997 ) được ký kết kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang EU không ngừng tăng lên. Thời kỳ đầu có 105 chủng loại ( category –
cat ) quản lý bằng hạn ngạch, sau khi điều chỉnh ( tháng 8/ 1995 ) còn 54 cat


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status