TÌM HIỂU về CÔNG NGHỆ PHÂN hủy kỵ KHÍ THU METAN và HIỆN TRẠNG áp DỤNG CÔNG NGHỆ này tại VIỆT NAM - Pdf 30

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ PHÂN HỦY KỴ
KHÍ THU METAN VÀ HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG
CÔNG NGHỆ NÀY TẠI VIỆT NAM
NHÓM 5
Sinh viên thực hiện: MSSV:
Nguyễn Duy Thương 91202227
Nguyễn Quốc Thịnh 91202216
Võ Phạm Hồ Cương 91202078
Võ Đặng Duy 91202088
Trần Diệu Trang 91202237
Phạm Ny Ly 91202145
Chu Thị Huế 91202111
Phan Thị Hương 91202281
Giảng viên hướng dẫn : Th.s NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ PHÂN HỦY KỴ KHÍ
1.1. ĐỊNH NGHĨA PHÂN HỦY KỴ KHÍ.
Phân hủy kỵ khí là quá trình phân hủy các chất hữu cơ và vô cơ trong môi trường
không có oxi ở điều kiện nhiệt độ từ 30 đến 65
o
C. Sản phẩm của quá trình phân hủy
kỵ khí là khí sinh học (CO
2
và CH
4


thành
những hợp chất thích hợp dùng làm nguồn năng lượng và mô tế bào. Giai đoạn này
có sự tham gia của các vi khuẩn sau:

Vi khuẩn b.subtilis
• Bước thứ hai là quá trình chuyển hóa các hợp chất sinh ra từ bước 1 thành các hợp
chất có phân tử thấp hơn xác định. Giai đoạn này có sự tham gia của các vi khuẩn:

Bước thứ ba là quá trình chuyển hóa các hợp chất trung gian thành các sản phẩm cuối
đơn giản hơn, chủ yếu là khí metan (CH4) và khí cacbonic (CO
2
).
Trong quá trình phân hủy kỵ khí, nhiều loại vinh sinh vật kỵ khí cùng tham gia
quá trình chuyển hóa chất hữu cơ của CTR thành sản phẩm cuối bền vững. Một
nhóm vi sinh vật có nhiệm vụ thủy phân các hợp chất hữu cơ cao phân tử và lipid
thành các phần xây dựng cấu trúc như axit béo, monosacharic, amino axit và các
hợp chất liên qua. Nhóm vi sinh vật kỵ khí thứ hai được gọi là nonmetanogenic
(gồm các vi sinh vật kỵ khí tùy tiện và vi sinh vật kỵ khí bắt buộc) lên men các sản
phẩm đã cắt mạch của nhóm 1 thành các axit hữu cơ đơn giản mà chủ yếu là acetit
axit. Nhóm vi sinh vật thứ 3 chuyển hóa hydro và acetic axit thành khí CH4 và C02.
Vi sinh vật metan hóa chỉ có thể sử dụng một số chất hữu cơ nhất định để chuyển
hóa thành metan như C02 + H2, formate, acetate, methanol, methylamines và CO.
Các quá trình chuyển hóa xẩy ra như sau:
4H
2
+ CO
2
-> CH
4

2
O -> 9CH
4
+ 3CO
2
+ 4NH
3
4CO + 2H
2
O -> CH
4
+ 3CO
2
Ba giai đoạn của quá trình phân hủy kỵ khí đước trình bài tóm tắt ở bảng sau:
Tên giai đoạn Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3
Thủy phân Axit hóa acetate Metan hóa
Các chất ban
đầu
Đường phức
tạp, protein,chất
béo
Đường đơn
giản
Amino axit,
axit hữu cơ
Acetate
Vi sinh vật Vi khuẩn axit
hóa
Vi khuẩn
axetat hóa

đến tỷ lệ 10-15% TS.
 KHÔ: hàm lượng TS trong rác phân hủy khoảng 20-40%.
• Theo cấp số liệu:
 Mẻ: hệ thống hoạt động gián đoạn theo mẻ.
 Liên Tục: Hệ thống làm việc liên tục.
• Theo phân đoạn phản ứng:
 Một Giai Đoạn: Toàn bộ quá trình phân hủy xẩy ra trong một thùng phản ứng.
 Đa giai Đoạn: Toàn bộ quá trình xảy ra ở nhiều thùng phản ứng mắc nối tiếp theo
một hoặc cả hai chế độ sau:
- Giai đoạn axit hóa và metan hóa được tách riêng với mục đích là gia tăng hiệu
quả, tính ổn định và khả năng kiểm soát.
- Vận hành ở các nhiệt độ khác nhau: trung bình và nhiệt độ cao
Thực tế người ta thiết kế và vận hành bể phản ứng phân hủy kị khí theo một hoặc
hai giai đoạn. Trong thiết kế hai giai đoạn, giai đoạn mọt gồm quá trình thủy phân
và axit hóa (khoảng 1-3 ngày), giai đoạn hai gồm quá trình acetate hóa và metan
hóa. Ưu và Nhược của phân hủy kị khí theo một và hai giai đoạn được trình bày
trong bảng sau:
Một giai đoạn Hai giai đoạn
Ưu điểm -Chi phí đầu tư thấp -Hệ thống ổn định
Sơ đồ quản lý chất thải rắn đô thị bằng công nghệ phân hủy kỵ khí
-Kĩ thuạt vận hành cao -Có thể tối ưu hóa theo từng giai
đoạn
-Sử dụng thời gian lưu và thể tích
hiệu quả
-Diệt vi khuẩn gây bệnh tốt(PH
thấp ở giai đoạn một)
Nhược điểm -Không thể tối ưu hóa hệ thống
-PH không ổn định
-Tính ổn định của hẹ thống thấp
-Chi phí đầu tư cao

- Cần giảm thiểu các thành phần nặng vì chúng có thể gây hư hỏng hệ thống khuấy
và bơm cũng như giảm thiểu các chất tạo bọt gay ảnh hưởng đến hiệu suất của quá
trình tách khí biogas.
2.3.1.2. Đặc trưng sinh học:
Tỷ lượng khí sinh học thu được trên thục tế khoảng 170 -320 Nm
3
CH
4
/kg tùy
thuộc vào nhiệt độ môi trường và loại chất thải. Tỷ lượng khí sinh học thu được từ
chất thải làm vườn thấp hơn so với các thành phần chất thải rắn hữu cơ khác như
thực phẩm, do có hàm lượng lignin cao hơn.
Tải lượng hữu cơ thể tích đảm bảo quá trình phân hủy sinh học bền vững trong
điều kiện hiếu nhiệt đối với rác được phân loại cơ học là 9,7 kg VS/m
3
/ngày; đối với
rác được phân loại tại nguồn là 6kg VS/m
3
/ngày; đối với chất thải từ ngành công
nghiệp chế biến nông sản có tỉ lệ C/N cao hơn 20 thì tải lượng trên có thể đạt được
ngay cả trong điều kiện nhiệt độ bình thường.
Hàm lượng TKN cao gây ức chế quá trình metan hóa, giá trị ngưỡng nồng nộ
NH4
+
khoảng 3g/l. thường hàm lượng TKN trong chất thải được phân loại cơ học
khoảng 14g TKN/kg TS và thực phẩm khoảng 20g TKN/kg TS. Hàm lượng NH4
+
có thể duy trì ở mức 3g/l trong dung dịch lên men bằng cách sử dụng hợp lý nước
pha loãng. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như chất thải từ
ngành chế biến nông sản với tỷ lệ C/N nhỏ hơn 20 và có khoảng 60% Vs dễ phân

Pha loãng chất gây ức chế
bằng nước
- Tương đối nhạy cảm về tải
lượng do các chất gây ức chế
có khả năng lan truyền
nhanh trong bể phản ứng.
-mất VS theo các chất trơ
3
Kinh tế và môi
trường
Thiết bị xử lý và vận hành
bùn rẻ (bù lại đòi hỏi thiết bị
tiền xử lý và thể tích của bể
phản ứng lớn)
-Tiêu thụ nhiều nước
-Tiêu thụ năng lượng cao do
phải gia nhiệt thể tích lớn
2.3.1.4. Một vài hệ thống đang được áp dụng thực tế:
Công nghệ ướt liên tục một giai đoạn của EcoTec đã được áp dụng tại nhà máy
xử lý chất thải sinh học với công suất 6.500 tấn/năm. Ở Đức từ năm 1995 với công
suất 30.000 tấn/năm; nhà máy có công suất 17.000 tấn/năm ở Shilou, Trung Quốc.
Ngoài ra còn có một dự án xây dựng nhà máy có công suất 14.000 tấn/năm ở
Bangkok.
Chất thải đã được phân loại tại nguồn được vận chuyển đến nhà máy và chuyển
qua công đoạn nghiền sơ bộ, phân loại từ tính trước khi phân loại bằng máy trống
quay. Chất thải cháy được được hay còn gọi là nhiên liệu thu từ rác (RDF) được
tách ra và chuyển đến nồi hơi đốt theo công nghệ tầng sôi. Các chất hữu cơ còn lại
được chuyển đến bể chuẩn bị nguyên liệu phản ứng. Tại đây, các chất này tạo thành
dịch lỏng với 15% TS bằng cách trộn với nước. Các tạp chất rắn được loại bỏ và
nguyên liệu được bơm đến bể phản ứng sinh học kỵ khí.

phân loại tại nguồn. Dạng thiết bi phản ứng sử dụng là kiểu dòng chảy nút (plug
flow) đơn giản về mặt ký thuật và không cần phải có thiết bị khuấy trộn cơ học nào
bên trong thiết bị phản ứng.
Nhược điểm chính của quá trình khô là không có khả năng phân bố đều và xoay
vòng vi sinh vật cũng như chống quá tải và quá trình axit hóa. Tuy nhiên các vấn đề
trên đã được giải quyết trong hệ thống Dranco bằng xoay vòng nước rỉ có trộn với
nước sạch theo tỷ lệ 6:1.
Hệ thống này cho phép xử lý rất hiệu quả đối với các chất thải có hàm lượng TS
trong khoảng 20-50%.
Hệ thống Kompogas cũng tương tự như hệ thống Dranco nhưng sử dụng ống nằm
ngang. Với hệ thống này, hàm lượng TS trong chất cần lên men được hiệu chỉnh
trong khoảng 23%.
Hệ thống Valorga khác với hệ thống dạng tròn đứng là sử dụng khí sinh ra để khuấy
trộn. Khí sinh ra được bơm vào đáy bể với áp suất cao mỗi 15 phút. Hàm lượng TS
cần được duy trì trong hệ thống Valorga không quá 20%.
2.3.2.2. Đặc trưng sinh học.
Hệ thống khô một giai đoạn có tải lượng hữu cơ cao hơn so với hệ thống ướt do
không bị ảnh hưởng bới các chất gây ức chế từ quá trình axit hóa hoặc metan hóa.
Nghiên cứu cho thấy không xảy ra hiện tượng ức chế bởi Cacbon trong điều kiện kỵ
khí hiếu nhiệt với các chất thải có tỷ lệ C/N lớn hơn 20 đối với hệ thống Dranco.
Điều này có thể giải thích được do lượng NH
4
+
sinh ra ít hơn và điều kiện khuấy
trộn kém hơn so với hệ thống ướt.
Tỷ lượng sin biogas trong cả 3 hệ thống trên nằm trong khoảng 90 Nm
3
/Tấn, chất
thải làm vườn tươi tới 150 Nm
3

-Mạnh (không cần loại bỏ chất trơ).
-Không bị đoản mạch
Chất thải ướt (<20% TS)
không thể xử lý riêng
biệt (phải trộn với chất
thải khô hơn)
2 Sinh học
-Lượng VS mất trong quá trình tiền xử
lý ít
-Tải lượng hữu cơ cao
-Khả năng lan truyền các chất ức chế
bị hạn chế
Khả năng pha loãng chất
gây ức chế bằng nước
thấp
3
Kinh tế và
môi trường
-Chi phí tiền xử lý rẻ và thể tích bể
phản ứng nhỏ
-Khả năng tiệt trùng hoàn toàn.
-Sử dụng ít nước
-Nhu cầu nhiệt ít
Các thiết bị lưu trữ và
vận chuyển chất thải
yêu cầu công suất lớn
2.3.2.4. Một và hệ thống đang được áp dụng thực tế
Công nghệ Dranco là một công nghệ phân hủy kỵ khí chất thải hữu cơ theo công
nghệ khô liên tục một giai đoạn hiện đang được áp dụng tại 4 nhà máy quy mô công
nghiệp ở châu Âu với công suất từ 11.000 đến 35.000 tấn/năm. Tại Brecht – miền

Sơ đồ khô liên tục một giai đoạn do hãng DRANCO, Bỉ phát triển
microaerophilic hoặc các điều kiện khác. Việc áp dụng các kỹ thuật trên cho phép
gia tăng các khả năng thiết kế hệ thống hai giai đoạn. Điều này có thể làm tăng tính
phức tạp về mặt kỹ thuật của hệ thống nhưng bù lại có thể cho hiệu quả cao.
Trên thực tế, ưu điểm chính của công nghệ hai giai đoạn không phải là hiệu suất
chung cao của hệ thống mà là khả năng xử lý các chất thải có khả năng gây mất bất
ổn định trong các hệ thống một giai đoạn, đặc biệt là rác công nghiệp, thông qua
việc đạt được tính đệm cao hơn, kiểm soát tốt hơn tốc độ nạp hoặc đồng phân hủy
các loại chất thải khác nhau.
2.3.3.2.Hệ thống không lưu trữ sinh khối
Đặc trưng kỹ thuật:Thiết kế đơn giản nhất của hệ thống hai giai đoạn là mắc nối
tiếp hai bể phản ứng dạng khuấy trộn hoàn toàn. Hệ thống này tương đương với hệ
thống ướt một giai đoạn. Các khả năng khác là mắc nối tiếp hai hệ thống dạng dòng
chảy nút (plugflow) theo chế độ ướt-ướt hoặc khô-khô.
Đặc trưng sinh học:Ưu điểm nổi bật của hệ thống hai giai đoạn là tính ổn định
sinh học cao và cho phép phân hủy rất nhanh các chất hữu cơ như trái cây hoặc rau.
Tuy nhiên, rất nhiều các nghiên cứu ở các qui mô khác nhau cho thấy, hệ thống ướt
hai giai đoạn và một giai đoạn không khác biệt nhiều về mặt sinh học, nhưng hệ
thống hai giai đoạn hữu ích cần phải có giai đoạn axit hóa và thủy phân khi có các
chất khó phân hủy sinh học như xenlulo chẳng hạn.
2.3.3.3.Hệ thống có lưu trữ sinh khối
Đặc trưng kỹ thuật:Để đảm bảo mật độ các vi khuẩn metan hóa cao và quần thể
vi khuẩn metan hóa phát triển nhanh trong giai đoạn thứ hai nhằm tăng tốc độ và
khả năng chịu sốc về tải lượng hữu cơ hoặc các chất ức chế có thể thực hiện bằng
hai cách:
Phương pháp thứ nhất: là tăng mật độ vi khuẩn metan hóa bằng cách không phối
hợp giữa lưu thủy lực và lưu chất rắn. Thiết kế này chỉ hiệu quả đối với các chất
thải từ nhà bếp có khả năng thuỷ phân cao hoặc chất thải từ các chợ. Để đạt được
điều này có thể sử dụng bể phản ứng tiếp xúc kết hợp với bể lắng bên trong hoặc sử
dụng màng lọc để lọc dòng ra và xoay vòng vi khuẩn về bể phản ứng.

trưởng dính bám cho phép tăng sưc đề khan g chon g lai cac chat ưc che. Ket quả so
san h quá trình phan huỷ chat thai có khả năng phân hủy sinh học cao từ ngành chế
biến nông sản giữa hệ thống 1 giai đoạn và 2 giai đoạn cho thấy : hệ thống 2 giai
đoạn có tải lượng hữu cơ gấp đôi mà không bị bất cứ ảnh hưởng nào đến vi
khuẩnmetan hóa.
Hệ thống BTA và Biopercolat có thể vận hành với tải lượng 10-15 kg
VS/m3/ngày với điều kiện giảm tỷ lượng phát sinh biogas 20-30% do các hạt lớn
còn lại sau quá trình thủy phân còn chứa nhiều chất cao phân tử, có thể phân hủy
sinh học không được cấp cho bể metan hóa.
Bảng tổng quan về một số đặc trưng của công nghệ đa giai đoạn:
TT Tiêu chí Ưu điểm Nhược điểm
1 Kỹ thuật Tính uyển chuyển trên thực tế Phức tạp
2 Sinh học
Có khả năng tiếp nhận chất thải khó
phân hủy sinh học như xenlulo
Đối với C/N <20 chỉ áp dụng được hệ
thống có lưu trữ sinh khối
Tỷ lượng sinh biogas
thấp (khi các chất rắn
không thể metan hóa)
3
Kinh tế và
môi
trường
Ít kim loại nặng trong sản phẩm hữu cơ
thu được (khi các chất rắn không thể
metan hóa)
Suất đầu tư lớn
2.3.3.4.Một vài hệ thống áp dụng trong thực tế
Công nghệ ướt liên tục đa giai đoạn do hng BTA/Carl Bro, Đan Mạch phát triển:

Quá trình ủ vật liệu thô đựơc thực hiện theo dạng đánh luống trong vòng 6 tuần,
trong suốt quá trình này chúng được đảo trộn một lần.
Phần hữu cơ mịn được chuyển đến máy nghiền thủy lực tạo dung dịch có 10%
chất rắn bằng nước. Dịch lỏng sau đó được bơm theo mẻ (vài mẻ/ngày) vào bể phản
Sơ đồ công nghệ ướt liên tục đa giai đoạn BTA
ứng kỵ khí 1 hoạt động ở nhiệt độ 35oC với thời gian lưu khoảng 2 tuần. Chất thải
tại đây được khuấy trộn nhờ thiết bị khuấy dạng chân vịt. Bùn hoạt tính từ đáy của
bể phản ứng kỵ khí 1 được chuyển sang đáy của bể phản ứng kỵ khí 2. Bể phản ứng
kỵ khí 2 hoạt động ở chế độ hiếu nhiệt (55oC) với thời gian lưu cũng khoảng 2 tuần.
Kết thúc tuần thứ 2 có khoảng 60% chất hữu cơ ban đầu sẽ được chuyển thành
biogas.
Sự phân chia vật lý của 2 giai đoạn tạo ra sự gia tăng sản lượng khí. Khoảng
25% năng lượng được tạo ra từ biogas được sử dụng để cấp nhiệt cho các bể phản
ứng và các hoạt động bên trong nhà máy. Mỗi m3 biogas tạo ra 1,5 kW điện và 3
kW nhiệt.
Chất thải sau phân hủy được ép để loại nước. Phần lớn nước tạo ra được tái sử
dụng để trộn với phân hữu cơ mịn ở máy nghiền. Phần nước thừa được làm sạch
bằng các hồ làm sạch được thiết kế sẵn. Phần bùn rắn được trộn với phân hiếu khí
đã ổn định để tạo sản phẩm cải thiện chất lượng đất.
Sơ đồ công nghệ ướt liên tục đa giai đoạn TBW
2.3.4. Công nghệ mẻ.
2.3.4.1.Tổng quan
Trong các hệ thống mẻ, các bể phản ứng được nạp chất thải một lần, sau đó sẽ
được vận hành qua các bước phân hủy theo chế độ khô với 30 - 40% TS.
Về mặt nguyên lý, hệ thống mẻ có thể coi như một hố chôn lấp được thực hiện
trong thùng nhưng tỷ lượng khí sinh học sinh ra cao hơn từ 50 đến 100 lần so với
bãi rác trên thực tế bởi các nguyên nhân sau:
 Nước rỉ được tuần hòan liên tục cho phép phân tán đều chất dinh dưỡng, vi sinh
vật cũng như các axit sinh ra.
 Nhiệt độ của rác trong bể phản ứng cao hơn nhiệt độ rác tại các bãi rác.

dưới dạng các hạt bùn cho phép xử lý chất thải lỏng có hàm lượng axit hữu cơ cao.
Về hình thức, hệ thống này gần tương tự với hệ thống Biopercolat có lưu
sinh khối.
2.3.4.3.Đặc trưng sinh học
Tại nhà máy Biocel ở Lelystad, tỷ lượng biogas sinh ra trung bình là 70 kg
biogas/tấn chất thải hữu cơ được phân loại tại nguồn nhỏ hơn khoảng 40% so với hệ
thống một giai đoạn liên tục cho cùng loại chất thải. Nguyên nhân chính là do phân
bố không đều nước rò rỉ trong rác khi xoay vòng.
Tải lượng hữu cơ của hệ thống Biocel nhìn chung không cao hơn so với hệ thống
một giai đoạn liên tục, khoảng 3,6 – 5,1 kg VS/m3/ngày tùy thuộc vào nhiệt độ
không khí.
Trong hệ thống mẻ luân phiên, axit hữu cơ sinh ra bị chuyển hóa nhanh trong bể
ổn định. Do vậy, thành phần và tỷ lượng sinh biogas khá ổn định.
2.3.4.4.Các vấn đề kinh tế môi trường
Do tính đơn giản về mặt kỹ thuật của hệ thống mẻ, nên suất đầu tư nhỏ hơn hệ
thống một giai đoạn liên tục khoảng 40%.
Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng đất của hệ thống mẻ lớn hơn so với hệ thống một
giai đoạn liên tục do chiều cao của bể phản ứng nhỏ hơn 5 lần và tải lượng thể tích
nhỏ hơn 2 lần.
Chi phí vận hành hệ thống mẻ tương đương với các hệ thống khác.
Tổng quan về một số đặc trưng của công nghệ mẻ
STT Tiêu chí Ưu điểm Nhược điểm
1 Kỹ thuật Đơn giản Tắc hệ thống đáy thu gom nước rỉ
Cần chất thải có độ xốp lớn
Nguy cơ nổ khi tháo sản phẩm
2 Sinh học Ổn định cao Tỷ lượng sinh biogas thấp do tạo rãnh
Tải lượng hữu cơ thể tích nhỏ
3 Kinh tế và
môi trường
Rẻ, được áp dụng cho

o
C, tối ưu 30 –
35
o
C.
2.5. KHÍ SINH HỌC SINH RA.
Khí sinh học là sản phẩm của quá trình phân hủy kỵ khí các chất thải rắn hữu cơ
dễ phân hủy. Sản lượng khí sinh học thu được phụ thuộc vào thành phần chất thải,
khối lượng chất hữu cơ và điều kiện trong bể phản ứng. Thành phần của khí sinh
học biến đổi như sau:
- CH
4
55 – 65%
- CO
2
35 – 45%
- N
2
0 – 3%
- H
2
0 – 1%
- H
2
S 0 – 1%
CH
4
có nhiệt trị cao nhất (khoảng 9000 kcal/m
3
); thông thường, sản phẩm khí

Ví vậy, 1m
3
biogas tương đương với 0.4kg dầu diesel; 0,6 kg xăng; hoặc 0,8 kg
than.
CHƯƠNG III:
CÁC GIẢI PHÁP THU KHÍ METAN
Dựa vào những lợi ích về năng lượng từ khí metan như đã nêu ở trên thì việc thu
hồi và sử dụng khí metan sinh ra từ các bãi chôn lấp là rất cần thiết trong việc sử
dụng năng lượng và giảm thiểu khí gây ô nhiễm môi trường.
Có rất nhiều phương pháp thu hồi khí metan trong bãi rác, sau đây là 3 phương
pháp thường được áp dụng nhất:
3.1. HỆ THỐNG TẬN THU KHÍ METAN.
Với hệ thống này, các ống thu khí phải được đặt ở độ sâu tối thiểu là 80% độ sâu
chôn lấp rác. Khí được thu từ các giếng đứng và giếng ngang. Theo kinh nghiệm
của các nước phát triển, khi sử dụng hệ thống này hiệu quả thu hồi khí metan đạt
đến 70% lượng khí metan được sản sinh.
Khí của bãi chôn lấp có thể được sử dụng vào nhiều mục đích. Phổ biến nhất là
sử dụng vào mục đích đun nóng và tạo năng lượng, nó có thể dùng để cải thiện chất
lượng khí thiên nhiên, sử dụng làm nhiên liệu động cơ.
Sơ đồ tổng quát của hệ thống tận thu khí metan như sau:
Hình 3.1: Công nghệ tận thu khí metan sinh ra từ bãi chôn lấp rác
(công nghệ của Đan Mạch)
3.2. HỆ THỐNG THU HỒI KHÍ METAN THỤ ĐỘNG.
Hệ thống thu hồi khí metan thụ động này được sử dụng phổ biến ở Anh, sử dụng
để phát tán khí bãi chôn lấp vào một hệ thống có kiểm soát. Hệ thống thu khí này có
ưu điểm là có thể lắp đặt ngay trong quá trình vận hành bãi chôn lấp hoặc sau khi
bãi chôn lấp được đóng cửa.
Hình 3.2: Hệ thống thu hồi khí metan thụ động (công nghệ của Anh)
3.3. HỆ THỐNG THU KHÍ METAN CHỦ ĐỘNG
Hệ thống tận thu khí chủ động có bơm để vận chuyển khí ra khỏi bãi chôn lấp và

Vì không chuẩn bị kịp để tiếp tục giai đoạn II nên dự án có giai đoạn bắc cầu
2006 để chuẩn bị thủ tục. Trong giai đoạn này dự án đã phát triển thêm 8 tỉnh nữa
và xây dựng được 14.000 công trình.
∗ Giai đoạn II (2007 – 2011):
Tới tháng 7 – 2008 đã có 30 tỉnh và thành phố tham gia, số công trình do dự
án xây dựng đã vượt 42.000.
Ngoài dự án kể trên, nhiều tổ chức khác cũng có những hoạt động về phân hủy
kỵ khí, đáng chú ý là:
∗ Viện Năng Lượng.
∗ Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng đồng nông thôn (Hội Làm vườn).
∗ Đại học Nông - Lâm TP. Hồ Chí Minh.
∗ Đại học Cần Thơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status