tìm hiểu về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá theo luật thương mại Việt Nam - Pdf 59

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, với chính sách mở cửa
và hội nhập, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật thương
mại. Năm 1997, Luật thương mại Việt Nam ra đời đánh dấu một bước phát triển
lớn trong chặng đường xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nước ta,
trong đó đáng kể nhất là các điều khoản điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài, đáp ứng nguyện vọng
và mong muốn của các thương nhân Việt nam có quan hệ thương mại Quốc tế.
Ra đời năm 1997, chậm hơn Công ước viên 17 năm, chắc hẳn các quy định
của Luật thương mại Việt Nam về hợp đồng mua bán Quốc tế hàng hóa đã có kế
thừa và đúc rút được những bài học quan trọng từ thực tiễn thương mại Việt
Nam và thế giới, nhưng những quy định này có được phù hợp với thông lệ Quốc
tế hay không, có đáp ứng được trọn vẹn nguyện vọng cũng như mong muốn của
các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài khi ký kết hợp đồng mua
bán Quốc tế hay không thì thực tế sẽ cho thấy một câu trả lời xác đáng nhất. Tuy
nhiên, Luật thương mại của Việt Nam ra đời là một điều hết sức khích lệ, là một
kết quả tất yếu của đòi hỏi do thay đổi về diện mạo và sắc thái đời sống kinh tế
nước ta.
Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam rất rộng, nhưng trong
bài tiểu luận này, chúng em chỉ muốn đề cập đến vấn đề liên quan đến chế độ
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán Quốc tế hàng hóa cùng với một số
kiến nghị nhỏ với mong muốn Luật thương mại Việt Nam sẽ phát huy hiệu quả
đúng với mục đích ra đời của nó.
1
2
PHẦN I
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I. HOÀN CẢNH VÀ MỤC ĐÍCH RA ĐỜI
1. Hoàn cảnh ra đời của Luật thương mại Việt Nam.
Ngày 10/05/1997, một văn bản luật nhằm điều chỉnh các hành vi thương

hỏi điều chỉnh pháp luật về hoạt động ngoại thương phải được tiến hành trên cơ
sở các đạo luật có sự thống nhất đồng bộ, vừa có hiệu lực pháp lý cao vừa ổn
định chứ không thể chỉ dựa trên sự điều chỉnh của các văn bản dưới luật chưa
đồng bộ và thường xuyên thay đổi.
Chính vì vậy, sự ra đời của Luật thương mại Việt Nam 1997 là kết quả tất
yếu của đòi hỏi do thay đổi về diện mạo và sắc thái đời sống kinh tế nước ta.
Mặt khác, khi tham gia vào thương trường quốc tế, các chủ thể của Việt Nam
thường gặp bất lợi khi buôn bán hợp tác đầu tư với các chủ thể nước ngoài, nơi
mà hầu hết đã có một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế đối
ngoại. Vì vậy, để đảm bảo cho các chủ thể kinh tế nước mình trong quan hệ
thương mại Quốc tế cũng như nhằm tạo một môi trường pháp lý lành mạnh hoàn
thiện Luật thương mại Việt Nam 1997 chính thức có hiệu lực từ ngày
01/01/1998 là cơ sở pháp lí góp phần mở rộng giao lưu thương mại với các nước
trên thế giới.
2. Mục đích ra đời của Luật thương mại Việt Nam
“Luật thương mại Việt Nam 1997 là cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng
với kinh tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân; phát triển thị trường
hàng hóa và dịch vụ thương mại trên các vùng của cả nước, mở rộng giao lưu
thương mại với nước ngoài, góp phần đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống nhân
dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích hợp
pháp của thương nhân, góp phần tích cực nhằm đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh
và bền vứng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa , vì mục tiêu dân giàu nước
mạnh xã hội công bằng văn minh”. Lời nói đầu của Luật thương mại Việt Nam
cũng chính là lời giải thích về mục đích ra đời của bộ luật này.
Luật thương mại Việt Nam ra đời với 3 mục tiêu cơ bản sau:
4
 Thương mại là hoạt động quan trọng có ảnh hưởng lớn và trực trếp đến
hoạt động sản xuất và lao động, trong khi nhiều chính sách cơ bản của đảng và

5
2. Thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân trên lĩnh vực thương mại.
Nhằm bảo đảm lưu thông hàng hóa được thuận tiện, Luật thương mại Việt
Nam qui định các quyền tự do sau đây của thương nhân trong khuôn khổ pháp
luật: thương nhân đủ điều kiện theo qui định của pháp luật có quyền hoạt động
thương mại trong các lĩnh vực địa bàn mà pháp luật không cấm (Điều 6, Luật
thương mại), có quyền tự do kinh doanh, tự do chọn bạn hàng (Điều 6, Luật
thương mại), có quyền tự do lựa chọn hình thức để giao kết hợp đồng (Điều 44,
Luật thương mại), có quyền tự do xác định nội dung khác ngoài những nội dung
chủ yếu của hợp đồng (Điều 50, Luật thương mại Việt Nam), có quyền sửa đổi,
bổ sung, chấm dứt hợp đồng (Điều 57, Luật thương mại Việt Nam).
3. Thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế trong các hoạt động thương mại.
Quyền bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc mọi thành phần
kinh tế được qui định tại Điều 7, Luật thương mại Việt Nam. Đây là sự cụ thể
hóa Điều 22, Hiến pháp 1992 trong các hoạt đông thương mại. Bình đẳng ở đây
là các chủ thể được đối xử như nhau trước cơ quan nhà nước và trước pháp luật
Việt Nam, nếu có đủ các đièu kiện có thể so sánh được với nhau. Tuy nhiên,
theo Điều 10, Luật thương mại, thương nhân là doanh nghiệp nhà nước có
những quyền và nghĩa vụ không giống như thương nhân là công ty, tổ hợp tác
hay cá nhân. Trong kinh doanh nói chung cũng như trong hoạt động thương mại
nói riêng, quyền bình đẳng thể hiện ở chỗ, các thương nhân được pháp luật đảm
bảo cơ hội như nhau để tham gia cạnh tranh trong hoạt đông thương mại. Ví dụ:
nếu có những điều kiện dự thầu như nhau, thương nhân đều được phép tham gia
dự thầu. Nếu có đầy đủ các điều kiện kinh doanh xuất nhập khẩu, thương nhân
có điều kiện tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp. Các cơ hội kinh doanh
đó có được tận dụng hay không, phụ thuộc vào từng vị trí của thương nhân trên
thị trường. Như vậy, bình đẳng được hiểu là bình dẳng trước pháp luật. Tuy
nhiên, công bằng tuyệt đối trong kinh doanh là rất khó thực hiện, vì cạnh tranh
trên thị trường là phát huy các thế mạnh riêng nhằm tiếp cận, mở rộng, giành giữ

không là đối tượng điều chỉnh của công ước viên thì Luật thương mại Việt Nam
lại giới hạn các hàng hóa là đối tượng điều chỉnh của luật này, chủ yếu là các
động sản máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất và tiêu dùng. Các bất động
sản như nhà máy công trình xây dựng, các quyền tài sản như sở hữu công
nghiệp, quyền sử dụng đất, cổ phiếu, trái phiếu do có những đặc thù riêng nên
không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam.
Tóm lại, có thể xem Luật thương mại Việt Nam là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành để xác định địa vị pháp lý cho thương nhân hoặc
điều chỉnh các hành vi thương mại nói chung. Vì Luật thương mại Việt Nam điều
7
chỉnh một số hành vi thương mại của thương nhân Việt Nam và thương nhân nước
ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nên đương nhiên bộ luật này cũng điều
chỉnh hoạt động mua bán giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài.
Đây cũng là một mục đích quan trọng của Luật thương mại Việt Nam 1997.
8
PHẦN II
CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
I. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI THƯƠNG.
Không phải bất kỳ lúc nào, khi một bên trong hợp đồng mua bán ngoại
thương không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những quy định trong hợp
đồng đều phải chịu trách nhiệm bồi thường và chịu phạt trước bên kia. Để xác
định xem một trường hợp vi phạm hợp đồng có thể quy trách nhiệm cho bên vi
phạm không, ta phải căn cứ vào các yếu tố cấu thành trách nhiệm.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn khoa học pháp lý về lỗi trong quan hệ mua
bán, Điều 230, Luật thương mại: "Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại" quy định bốn yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua
bán ngoại thương, bao gồm:
1. Thụ trái có hành vi vi phạm pháp luật
Đây là căn cứ cơ bản để quy trách nhiệm, vì hợp đồng là sự thỏa thuận tự

biên lai chứng từ ...
2. Phải có lỗi của bên vi phạm hợp đồng.
Trong hợp đồng mua bán với thương nhân nước ngoài, việc một bên
“không quan tâm” và “quan tâm không đúng mức” tới việc thực hiện nghĩa vụ
của mình, do đó dẫn tới vi phạm nghĩa vụ đó thì bị coi là có lỗi.
Ở đây, cụm từ “không quan tâm” được hiểu là hành vi cố ý, không thực
hiện nghĩa vụ, dù biết là sai nhưng vẫn không chấp hành quy định của hợp đồng
và do đó bị coi là có lỗi. Còn việc “quan tâm không đúng mức” tức là hành vi vi
phạm do vô ý, do sơ suất hoặc có biết trước được hậu quả của hành vi sơ suất đó
song do quá cẩu thả mà không lường trước được mức độ của hậu quả. Ví dụ như
một hợp đồng mua bán ngoại thương theo điều kiện CIF có quy định là người
bán phải thuê tàu chở hàng loại tàu trẻ 10 tuổi, quốc tịch tàu Nhật Bản. Song do
không tìm được loại tàu theo quy định của hợp đồng, người bán tự ý thuê một
con tàu mang cờ Italia để chở hàng mà không thông báo cho người mua. Đến
cảng nước người mua, tàu bị phong tỏa do lệnh của chính quyền sở tại nước
người mua hạ lệnh đối với tất cả các con tàu mang quốc tịch Ý. Như vậy, người
bán dù đã biết trước hành vi của mình nhưng đã không lường trước được hậu
quả phát sinh và lỗi này bị coi là lỗi sơ suất, do không quan tâm đúng mức.
10
Luật thương mại Việt Nam không quy định ai có lỗi mà lỗi được xác định
theo nguyên tắc suy đoán. Khi một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền
suy đoán bên vi phạm có lỗi và vì vậy, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm. Đây
là trách nhiệm suy đoán và dù lỗi cố ý hay vô ý cũng không làm tăng giảm trách
nhiệm. Ví dụ như khi người bán giao hàng chậm, người mua có quyền suy đoán
ngay là người bán có lỗi vì không giao hàng theo đúng thời gian thỏa thuận và
như vậy, người mua có thể quy trách nhiệm cho người bán.
Khi bị quy trách nhiệm, bên vi phạm muốn thoát trách nhiệm phải chứng
minh là mình không có lỗi, chừng nào không chứng minh được thì đương nhiên
vẫn bị coi là có lỗi và phải chịu trách nhiệm.
3. Trái chủ bị thiệt hại vật chất, thiệt hại về tài sản hoặc các quyền có giá

Để đòi bồi thường thiệt hại thực tế, bên bị vi phạm phải chứng minh được
là mình có thiệt hại đó và để thoát trách nhiệm, bên vi phạm phải chứng minh
ngược lại.
4. Có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại
vật chất.
Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp
gây ra các thiệt hại, còn thiệt hại thực tế là hậu quả trực tiếp của những hành vi
đó. Ví dụ như người bán giao hàng chậm so với thời gian quy định trong hợp
đồng làm giá hàng giảm so với giá của thời kỳ lẽ ra hàng được giao, và do vậy
người mua bị bỏ lỡ khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Vậy hành vi giao hàng chậm
là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại tài sản cho người mua (không được nhận
khoản lãi mà mình có quyền được hưởng từ quan hệ hợp đồng). Hay trường hợp
người bán đã giao hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng nhưng người mua
không chịu ra nhận hàng tại cảng đến, làm phát sinh chi phí lưu tàu vì hành vi
không nhận hàng của người mua là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả người
bán phải chi thêm các chi phí lưu tàu, bảo quản hàng hóa.
Nghĩa vụ chứng minh quan hệ nhân quả này thuộc về bên bị vi phạm. Điều
cần chú ý là khi chứng minh phải loại trừ các thiệt hại gián tiếp, thiệt hại không
lường trước được, thiệt hại đoán ước. Trên thực tế, nghĩa vụ chứng minh thiệt
hại trực tiếp lại rơi vào bên bị vi phạm vì bên bị vi phạm muốn đòi được bồi
thường càng nhiều càng tốt nên thường liệt kê các thiệt hại ra. Bên vi phạm để
không phải bồi thường tất cả các thiệt hại mà trái chủ đã nêu thì phải chứng
minh được rằng chỉ một phần thiệt hại xảy ra là do việc vi phạm nhiệm vụ của
mình, thiệt hại tài sản khác còn lại do một số nguyên nhân khác không phải do
lỗi của mình bằng cách đưa ra các văn bản, bằng chứng có liên quan.
12
II. CÁC CHẾ TÀI ÁP DỤNG CHO VIỆC VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.
Khi vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa, bên vi phạm

đúng hợp đồng. Trong trường hợp giao hàng thiếu, chế tài này quy định rằng
bên vi phạm phải giao đủ hàng theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, tức
là phải giao đúng về số lượng, chất lượng, chủng loại, xuất xứ, mẫu mã... Đối
với việc giao hàng kém chất lượng, cung cấp dịch vụ không đúng hợp đồng, bên
vi phạm phải tìm cách loại trừ các khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch
vụ. Trong trường hợp này, Luật thương mại còn quy định thêm rằng bên vi
phạm có thể có thể giao hàng khác để thay thế hàng kém chất lượng hoặc cung
ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng, tuy nhiên “không được dùng tiền hoặc hàng
khác chủng loại, dịch vụ khác để thay thế, nếu không được sự chấp thuận của
bên có quyền lợi bị vi phạm.”
Trên thực tế, khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, để bảo vệ quyền lợi
cho mình, bên bị vi phạm không phải lúc nào cũng cứng nhắc đòi bên kia thực
hiện đúng nghĩa vụ như giao hàng thêm (nếu giao hàng thiếu), hay tìm biện pháp
khắc phục khuyết tật của hàng hóa hoặc thay thế bằng hàng hóa khác (nếu giao
hàng kém chất lượng), nhất là trong trường hợp bên vi phạm gặp nhiều khó khăn
và chi phí để làm được như vậy và thậm chí bên bị vi phạm cũng có thể bị thiệt
hại hơn.
Trong trường hợp này, tức là khi bên vi phạm không thực hiện theo các quy
định nói trên, tại Điều 223, Khoản 3 và 4 của Luật thương mại cũng thể hiện sự
linh hoạt khi quy định cụ thể rằng: Bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền mua
hàng có quyền mua hàng hay nhận cung ứng dich vụ của người khác để thay thế
theo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng. Khi đó, bên vi phạm phải
bù chênh lệch nếu có. Đây cũng là giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra khi
bên bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu. Ví dụ khi bên vi phạm giao hàng
thiếu, bên bị vi phạm không nhất thiết phải chờ bên vi phạm giao hàng đủ mà có
thể mua ngay hàng khác cùng chủng loại của người cung cấp khác để không mất
thời cơ kinh doanh của mình. Tất nhiên, để đảm bảo cho quyền lợi của bên bị vi
phạm, bên vi phạm phải có trách nhiệm đền bù chi phí phát sinh.
Nếu bên có quyền lợi bị vi phạm tự sửa chữa khuyết tật, thiếu sót của hàng
hóa, dịch vụ thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý. Rõ ràng là giải

pháp luật quy định.” Từ định nghĩa trên có thể thấy, phạt vi phạm chỉ được áp
dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định sẽ áp dụng loại
chế tài này cho những vi phạm nhất định và không phụ thuộc vào bên bị vi
phạm có thiệt hại hay không.
Để có thể đòi được tiền phạt, các bên phải dựa trên những căn cứ sau: một
bên đã không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng (Điều
227, Luật thương mại). Không thực hiện hợp đồng có thể là không giao hàng,
không nhận hàng, không thanh toán tiền hàng... Còn thực hiện không đúng hợp
đồng có thể là chậm giao hàng, giao hàng thiếu, giao hàng sai quy cách chủng
loại, giao hàng kém phẩm chất...Ở đây, Luật thương mại không quy định rằng,
15
khi áp dụng chế tài phạt vi phạm, bên có quyền lợi bị vi phạm phải có nghĩa vụ
chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại. Nếu bên bị vi phạm chứng minh được
là bên kia vi phạm và vi phạm đó thuộc diện áp dụng chế tài phạt vi phạm theo
hợp đồng hoặc do pháp luật quy định thì hoàn toàn có thể yêu cầu bên vi phạm
trả tiền phạt.
Về mức phạt vi phạm, Điều 228, Luật thương mại Việt Nam quy định:
“Mức phạt đối với một vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá tám
phần trăm giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.” Như vậy, Luật thương mại cho
phép các bên trả bằng một số tiền cụ thể hoặc theo tỷ lệ phần trăm đối với việc
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng lại không quá tám phần trăm giá trị của phần
hợp đồng bị vi phạm. Điều khoản này cho thấy Luật thương mại Việt Nam coi
chế tài phạt vi phạm như một biện pháp trừng trị về mặt vật chất đối với bên vi
phạm, nhưng chỉ giới hạn ở mức tối đa tám phần trăm giá trị phần hợp đồng vi
phạm là nhằm tránh các bên sẽ lạm dụng điều khoản này.
Quan điểm của các nước về chế tài phạt đều cho rằng phạt là tiền bồi
thường ước tính (tính trước). Như vậy, điều quan trọng là các bên phải có sự
thỏa thuận, dự kiến trước về mứcphạt trong hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, các
nước lại có quy định khác nhau về mối quan hệ giữa thiệt hại và số tiền phạt.

ngày, song khi nhận được thông báo L/C đã mở, Protimex không hề có một
hành vi phản đối hay yêu cầu gì, điều này chứng tỏ Protimex đã chấp nhận việc
thực hiện nghĩa vụ của bên Singapore. Hơn nữa, theo sự trình bày của Protimex
là họ không đủ khả năng thực hiện hợp đồng, nhưng lại không có bất kỳ một
hành vi nào nhằm thông báo cho IRP trước ngày 20/1/1995 để cùng thương
lượng giải quyết, ngăn chặn thiệt hại. Do đó, xét theo Luật thương mại Việt
Nam thì Protimex buộc phải nộp tiền phạt cho công IRP của Singapore. Tuy
nhiên, mức phạt quy định trong hợp đồng lại vượt quá giới hạn tối đa cho phép
của Luật thương mại Việt Nam là 8%. Do đó, nếu chiều theo Luật thương mại
thì cơ quan xét xử chắc chắn sẽ điều chỉnh mức % phạt mà hai bên đã thỏa thuận
với nhau sao cho phù hợp.
Như vậy, có thể thấy các điều khoản phạt trong hợp đồng thường được áp
dụng và phát huy tốt tác dụng nhằm ngăn ngừa, giáo dục bên mua nâng cao ý
thức chấp hành tốt nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, do chỉ giới hạn ở một số vi
phạm nhất định và ở mức phạt tối đa là 8%, chế tài này theo Luật thương mại
Việt Nam đã ít nhiều bị giảm tác dụng.
3. Bồi thường thiệt hại.
Nếu như các bên không ấn định mức phạt trong hợp đồng thì khi thụ trái vi
phạm hợp đồng, trái chủ có quyền yêu cầu thụ trái bồi thường thiệt hại. Bên vi
phạm phải phục hồi quyền lợi cho bên bị vi phạm: bồi thường thiệt hại, chi phí,
mất mát, tổn thất mà một bên phải gánh chịu do bên kia vi phạm hợp đồng.
17
Đây là một loại chế tài được áp dụng rất phổ biến khi có vi phạm hợp đồng
mua bán gây thiệt hại cho bên vi phạm. Theo Điều 229, Khoản 1 Luật thương
mại: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi
phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra.” Theo Điều 230
của Luật thương mại, để có thể áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại cần phải có
đủ các yếu tố sau:
 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
 Có thiệt hại vật chất;

đầu vì đây là những thiệt hại tổn thất thực tế, trực tiếp do chính hành vi vi phạm
hợp đồng của thụ trái trực tiếp gây nên; còn loại thiệt hại sau (nhà máy không có
dầu sản xuất... , công nhân đình công... ) là những thiệt hại gián tiếp vì về
nguyên tắc nhà máy phải luôn có dầu dự trữ cho sản xuất.
Bồi thường “giá trị tổn thất thực tế trực tiếp” cũng có nghĩa là không bồi
thường những thiệt hại xa xôi, đột xuất mà lúc ký kết hợp đồng các bên không
lường trước được. Chẳng hạn, người bán FOB mang hàng ra cảng để giao cho
người mua, nhưng người mua đưa tàu đến chậm, người bán lưu kho hàng hóa,
sau khi đó bị bão lụt nên hàng hóa bị hư hỏng. Ở đây, chi phí lưu kho là thiệt
hại, người mua phải bồi thường, còn thiệt hại hàng hóa do bão lụt là thiệt hại xa
xôi, đột xuất mà lúc ký kết hợp đồng hai bên không lường trước được nên người
mua không phải bồi thường.
Nguyên tắc bồi thường theo luật của các nước có sự khác nhau. Đối với các
nước có nền kinh tế phát triển, luật pháp cho phép đòi bồi thường thiệt hại về
tinh thần tức là những thiệt hại mà người ta khó có thể tính toán được một cách
vật chất, mang tính vô hình nhiều hơn, khó tính toán bằng con số thật mà chỉ
tính toán được một cách tương đối (do tòa án quy định). Ví dụ như bên vi phạm
hợp đồng làm cho bên bị vi phạm mất uy tín kinh doanh nhưng khó có thể lượng
hóa được sự mất uy tín kinh doanh này sẽ làm cho trái chủ thiệt hại về mặt vật
chất là bao nhiêu. Trong khi đó, đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển
mà Việt Nam là một ví dụ, Luật thương mại quy định bên bị vi phạm chỉ được
đòi bồi thường thiệt hại vật chất, là tổn thất thực sự được tính toán bằng những
con số.
Thứ hai, bên vi phạm phải bồi thường “khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà
bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra.” Chẳng
hạn, thương nhân A ký hợp đồng mua gạo của thương nhân B với ý định cung
cấp gạo phục vụ dịp Tết cổ truyền. Vì vậy, thời hạn giao hàng trong hợp đồng
quy định là vào tháng 12/1998. Nhưng B giao hàng chậm (1/1999). Cơ hội bán
hàng đối với bên A không còn nữa. Do đó, sau Tết A mới bán được hàng. Mặt
khác, giá trên thị trường tại thời điểm A bán hàng thực tế và thời điểm bán hàng

làm ăn khác.
Trong thực tiễn thương mại, có thể thấy không phải lúc nào chế tài đòi bồi
thường thiệt hại cũng được bên vi phạm chấp hành nghiêm chỉnh. Đó là vụ việc
tranh chấp giữa ba công ty của Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc. Công ty
TICO Ltd. (Nhật Bản) ký hợp đồng mua của công ty Sunkuong Ltd. (Hàn Quốc)
số lượng 1.300 tấn phân Urê để bán lại cho công ty xuất khẩu rau quả III thuộc
20
Tổng công ty rau quả Việt Nam (VEGETEXCO). Hàng đến cảng Hải Phòng
ngày 6/9/1996, VEGETEXCO đã làm tờ khai hải quan tiếp nhận lô hàng và hải
quan thành phố cũng đã làm thủ tục kiển hàng thông qua Tổng cục đo lường
chất lượng (Quatest 3). Kết quả giám định cho biết độ biuret của lô hàng trên là
1,8% (trong khi hợp đồng quy định là 1% và độ biuret tối đa mà kỹ thuật cho
phép là dưới 1,5%). Như vậy tức là lô hàng không đảm bảo chất lượng so với
hợp đồng. Do đó, VEGETEXCO không những phải lưu giữ lô hàng mà còn bị
hải quan xử phạt hành chính vì đã nhập hàng không đạt tiêu chuẩn, phạt 18 triệu
VNĐ và buộc phải tái chế lô hàng trước khi phân phối. Hơn nữa, kết quả giám
định tiếp tục của Vinacontrol cho thấy, hầu hết khối lượng của các bao dưới
mức tiêu chuẩn là 50 kg và không đồng nhất, có bao chênh tới 9 kg. Như vậy, lô
hàng trên cả về chất lượng và khối lương đều không đúng quy định của hợp
đồng. Vì vậy, VEGETEXCO đã kiện TICO ra trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam, đòi bồi thường tổng giá trị thiệt hại gồm cả lãi suất đọng vốn do phải giám
định, tái chế, bốc dỡ, đóng gói lô hàng là 35.719,48 USD trong thời gian 30
ngày kể từ ngày 23/10/1997 (là ngày trọng tài ra phán quyết). Ngoài ra, trọng tài
còn tuyên bố TICO phải chịu chi phí trọng tài là 1.259,03 USD. Song đến nay,
VEGETEXCO vẫn chưa được TICO bồi thường với lý do phía Hàn Quốc chưa
bồi thường thiệt hại cho TICO.
Từ vụ việc nêu trên, có thể thấy cho dù có áp dụng các hình thức trách
nhiệm khi có vi phạm hợp đồng, song nếu bên vi phạm cố tình không thực hiện
dù đó là phán quyết của trọng tài đi nữa thì bên chịu thiệt nhiều nhất vẫn là
những doanh nghiệp làm ăn lương thiện.

đã gia hạn thêm, khi vi phạm cơ bản hợp đồng.
Đề cập đến chế tài này, Điều 235, Luật thương mại Việt Nam quy định như
sau: “Bên có quyền lợi bị vi phạm tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc vi phạm của
bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận.” Như vậy, Luật
thương mại Việt Nam không quy định cụ thể các điều kiện theo đó các bên có
được hủy hợp đồng mà theo Luật thương mại, để có thể hủy hợp đồng, trước hết
các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng. Điều này có nghĩa là Luật thương mại
chỉ thừa nhận duy nhất một trường hợp hủy hợp đồng là khi các bên có thỏa
thuận sẵn rằng việc vi phạm đó sẽ áp dụng chế tài hủy hợp đồng. Việc hủy hợp
đồng do hai bên tùy ý thỏa thuận và luật không quy định các trường hợp hủy. Do
vậy, nếu các bên không có thỏa thuận gì về trường hợp vị nào hủy hợp đồng thì
theo Luật thương mại Việt Nam là không được hủy hợp đồng.
Các bên có thể thỏa thuận bằng điều khoản hợp đồng hoặc bằng văn bản bổ
sung hợp đồng. Trên thực tế, chế tài hủy hợp đồng thường được áp dụng khi thụ
trái có sự vi phạm cơ bản các nghĩa vụ của hợp đồng:
22
 Người bán cố tình không giao hàng trong trường hợp người mua đã gia
hạn giao hàng;
 Người bán giao hàng thiếu khi đã hết thời gian gia hạn cho việc giao
hàng mà số hàng đã giao không thể đưa vào khai thác sử dụng được;
 Người bán giao hàng kém phẩm chất đến mức hàng hóa đã giao không
thể đáp ứng được mục đích sử dụng của hợp đồng;
 Người bán giao hàng sai chủng loại, sai mẫu mà hợp đồng quy định (nếu
sai mẫu nhỏ thì có thể áp dụng chế tài phạt);
 Người mua cố tình không thanh toán, dù người bán đã gia hạn;
 Người mua không nhận hàng trong thời gian đã gia hạn thêm.
Muốn áp dụng chế tài này, “Bên hủy hợp đồng phải thông báo ngay cho
bên kia biết về việc hủy hợp đồng, nếu không thông báo ngay mà gây thiệt hại
cho bên kia thì bên hủy hợp đồng phải bồi thường.” (Điều 236, Luật thương
mại) Trong luật pháp các nước, đây cùng là một điều kiện bắt buộc: muốn chế

hành giao hàng. Lúc này, người mua không cần phải nhận hàng mà mọi phí tổn
vẫn do người bán chịu. Nếu hợp đồng quy định phương thức thanh toán bằng tín
dụng chứng từ thì trong trường hợp này, người bán đã giao hàng nhưng vẫn
không lấy được tiền hàng do người mua không tiến hành sửa đổi thời hạn hiệu
lực đã hết của L/C. Như vậy, người mua không phải đưa vụ việc ra tòa án mà
vẫn được hủy. Nếu hợp đồng quy định phạt 5% nếu một bên không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng, người mua vẫn có quyền quy kết người bán không giao hàng
để đòi phạt 5%. Nếu người bán không chấp nhận, người mua có quyền kiện ra
tòa.
Việc áp dụng chế tài hủy hợp đồng để lại cho các bên những hậu quả pháp
lý nhất định. Theo Điều 237, hậu quả của việc hủy hợp đồng là:
 Sau khi hủy hợp đồng, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa
vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng
 Mỗi bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ thỏa
thuận trong hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ bồi hoàn thì nghĩa vụ của họ
phải được thực hiện đồng thời.
 Bên bị thiệt hại có quyền đòi bên kia bồi thường.
Quy định “không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận” có
nghĩa là nếu các bên chưa thực hiện hợp đồng thì không thực hiện nữa, nếu đang
tiến hành thì phải ngừng lại, nếu đã thực hiện xong thì thôi. Còn trường hợp hai
bên đã nhận được quyền lợi của nhau thì phải hoàn trả song song bằng hiện vật
(trả lại hàng) hoặc bằng tiền, ví dụ người bán trả lại tiền cho người mua, người
mua trả lại hàng cho người bán, mọi chi phí liên quan do thụ trái gánh chịu. Mọi
chi phí, thiệt hại và các phí tổn, tổn thất phát sinh do việc áp dụng chế tài hủy
hợp đồng gây ra đều do thụ trái, người vi phạm cơ bản của hợp đồng phải gánh
24
chịu. Thực tế các nước phát triển như Đông Nam Á cho thấy “việc bồi hoàn
nghĩa vụ phải được thực hiện đồng thời” là rất khó khăn (do thường chỉ có một
bên trả, bên phải trả sau thường không trả nữa) nên để bảo vệ quyền lợi của
mình, các bên hay áp dụng biện pháp bảo lãnh là thông qua người thứ ba,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status