ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại diễn châu nghệ an - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


THÁI THỊ VÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH BÓN PHÂN VIÊN NÉN
NHẢ CHẬM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT NGÔ TẠI
DIỄN CHÂU - NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TẤT CẢNH HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

Tập thể các thấy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô giáo
trong bộ môn Canh tác học – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ
động viên khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Thái Thị Vân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam ĐOAN i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục viết tắt ix
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2

4.1 Tính chất đất thí nghiệm 45
4.2 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các giai
đoạn sinh trưởng của giống ngô C919 và NK6326. 45
4.3 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái
tăng trưởng chiều cao cây. 49
4.4 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến động thái
ra lá. 52
4.5 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến diện tích
lá và chỉ số diện tích lá (LAI) . 55
4.6 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao
cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô C919 và NK6326. 60
4.7 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
tích luỹ chất khô. 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

4.8 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
chống chịu của giống ngô C919 và NK6326. 70
4.9 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái
bắp ngô. 72
4.10 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến các yếu
tố cấu thành năng suất. 74
4.11 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến năng suất
của các giống ngô 80
4.12 Hiệu suất sử dụng đạm của giống ngô C919 và NK6326 84
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86
5.1 Kết luận 86
5.2 Đề nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 95

chỉ số diện tích lá(LAI) của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ
Xuân 2014 57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

4.5.c Ảnh hưởng của giống đến chỉ số diện tích lá(LAI) 59
4.5.d Ảnh hưởng khoảng cách bón PVNNC đến chỉ số diện tích lá (LAI )
và số lá xanh sau trỗ 30 ngày 59
4.6.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao
cây và chiều cao đóng bắp ở vụ Đông 2013 60
4.6.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao
cây và chiều cao đóng bắp ở vụ Xuân 2014 62
4.6.c Ảnh hưởng của giống đến chiều cao cây cuối cùng và chiều cao
đóng bắp trong vụ Đông 2013 và vụ Xuân 2014 63
4.6.d Ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến chiều cao cây cuối
cùng và chiều cao đóng bắp trong vụ Đông 2013 và vụ Xuân 2014 64
4.7.a :Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
luỹ chất khô của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 65
4.7.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
tích luỹ chất khô của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Xuân. 67
4.7.c Ảnh hưởng của giống đến khả năng tích luỹ chất khô. 68
4.7.d Ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến khả năng tích luỹ
chất khô. 68
4.8.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
chống chịu của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013. 70
4.8.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến khả năng
chống chịu của giống ngô C919 và NK6326 vụ Xuân 2014. 71
4.9.a Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái
bắp của giống ngô C919 và NK6326 ở vụ Đông 2013 72
4.9.b Ảnh hưởng của giống và khoảng cách bón PVNNC đến hình thái

BHH : bắp hữu hiệu
CCCCC : chiều cao cây cuối cùng
CCĐB : chiều cao đóng bắp
CDB : chiều dài bắp
CDBHH : chiều dài bắp hữu hiệu
CIMMYT : Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mì Quốc tế
DKB : đường kính bắp
G - M : gieo đến mọc
G - PR : gieo đến phun râu
G - T : gieo đến trỗ
G - TP : gieo đến tung phấn
LAI : chỉ số diện tích lá
NSLT : năng suất lý thuyết
NSTT : năng suất thực thu

P
1000
hạt : khối lượng 1000 hạt
S lá : diện tích lá
TĐBP : thời điểm bón phân
TGST : thời gian sinh trưởng
TLBHH : tỷ lệ bắp hữu hiệu
TLMM : tỷ lệ mọc mầm
TP - PR : tung phấn đến phun râu
TSM : tuần sau mọc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

1. MỞ ĐẦU


Nam ít được sử dụng vì giá thành cao. Trong những năm qua trường Học viện
Nông Nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và phát triển phân viên nén - là một loại
phân chậm tan được sử dụng ở nhiều nơi cho lúa và ngô.
Nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phân viên nén, tôi tiến hành
thực hiện đề tài:

Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân viên nén nhả
chậm đến sinh trưởng và năng suất ngô tại Diễn Châu - Nghệ An”.
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Xác định được khoảng cách bón phân viên nén nhả chậm thích hợp
nhất đối với giống ngô C919 và NK6326 trồng tại – Diễn Châu – Nghệ An.
1.2.2 Yêu cầu
Đánh giá tình hình sản xuất ngô và sử dụng phân bón cho ngô hiện nay
tại địa điểm nghiên cứu.
Xác định được ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất của của 2 giống ngô.
Xác định hiệu quả sử dụng phân bón của 2 giống ngô nghiên cứu.
Xác định khoảng cách bón PVNNC thích hợp cho 2 giống ngô.
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về
ảnh hưởng của khoảng cách bón PVNNC đến sinh trưởng và năng suất của
ngô, đề xuất khoảng cách bón PVNNC để nâng cao hiệu quả sử dụng
PVNNC.
Góp phần xây dựng phương pháp sử dụng PVNNC bón cho ngô.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao năng
suất ngô.
Giảm ô nhiễm môi trường.

việc tăng năng suất và sản lượng ngô là việc làm vô cùng quan trọng và hết
sức cần thiết. Muốn vậy trong sản xuất ngô phải có sự đầu tư vốn, có sự tập
trung nghiên cứu chọn tạo những giống ngô mới cho năng suất cao, thích nghi
với từng điều kiện sinh thái và chịu được trong điều kiện thâm canh cao. Một
lĩnh vực không thể thiếu đó là phải tiếp thu, áp dụng nhanh chóng những tiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

bộ khoa học tiên tiến, trong đó tiến bộ về phân bón cũng như tìm hiểu những
giống mới đạt năng suất cao thích ứng rộng đang là vấn đề cần được quan tâm
hàng đầu.
2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới
Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới, không cây
nào có thể sánh kịp với cây ngô về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô, hiệu
quả ưu thế lai (Ngô Hữu Tình và cs,1997).
Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học về các
lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, điện khí
hóa, tin học vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình,1997). Do
vậy diện tích và năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, lúa nước của thế
giới giai đoạn 2000 - 2010
Đơn vị: Diện tích (triệu ha); Năng suất (tấn/ha); Sản lượng (triệu tấn)
Năm
Ngô Lúa mì Lúa nước
Diện
tích
Năng
suất
Sản
lượng

thế giới đạt được trong những năm gần đây có thể nói là đã vượt ngoài mọi dự
đoán lạc quan nhất. Năm 2000 do điều kiện khí hậu khó khăn sản lượng ngô
thế giới đạt 591.5 triệu tấn, vậy mà vào năm 2007 đã đạt tới 791.6 triệu tấn.
Riêng 7 năm gần đây đã tăng thêm gần 300 triệu tấn và giá ngô thế giới vẫn ở
mức cao. Trong khi đó, vào năm 2003, Viện Nghiên cứu Chương trình lương
thực thế giới (IFPRI) dự báo nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 chỉ lên
đến 852 triệu tấn (IFPRI, 2003).
Như vậy, từ năm 2000 đến năm 2010 nhìn chung diện tích trồng ngô thế
giới luôn thấp hơn so với diện tích trồng lúa mì và lúa nước, tuy nhiên năm
2001 sản lượng ngô thế giới đã vượt qua sản lượng lúa mì và lúa nước vươn
lên dẫn đầu và tiếp tục giữ vị trí ổn định trong các năm tiếp theo.
Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế
lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ
thuật canh tác. Đặc biệt từ hơn 10 năm trở lại đây, cùng với những thành tựu
mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công
nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong kỹ thuật canh tác, phân
bón cho cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô trên thế giới vượt lên trên lúa
mì và lúa nước.
So với năm 2000 thì tỷ lệ tăng trưởng diện tích qua mỗi năm là 1,17%,
tăng trưởng năng suất/năm đạt 2,06% và tăng trưởng sản lượng/năm là 3,67%.
Trong đó, Mỹ là nước có diện tích ngô lớn nhất thế giới (32,2 triệu ha), chiếm
20,7 % diện tích ngô thế giới và cho sản lượng là 333 triệu tấn (chiếm 41,2 %
sản lượng ngô thế giới), đặc biệt có năng suất cao nhất thế giới 10,34 tấn/ha
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

(cao gấp 1,99 lần so với năng suất ngô thế giới). Tiếp theo Mỹ là Trung Quốc
với 30,4 triệu ha, năng suất đạt 5,1 tấn/ha và sản lượng đạt 155 triệu tấn,
Brazil là nước đứng thứ 3 về diện tích ngô trên thế giới với 13 triệu ha, cho
năng suất bình quân đạt 4,08 tấn/ha và cho sản lượng đạt 53 triệu tấn.

(IFPRI, 2003), nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 lên tới 852 triệu tấn
(sản lượng năm 2005 chỉ mới đạt 705,3 triệu tấn), tăng 45% so với năm 1997,
chủ yếu ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á tăng 70% so
với năm 1997. Xét về nhu cầu địa lý thì nhu cầu tăng trưởng nhanh nhất ở
Châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, sau đó đến Châu Mỹ La Tinh (Chiến lược
quốc gia sau thu hoạch lúa, ngô, đậu tương và lạc đến 2020, 2006).
Nhu cầu ngô tăng do dân số phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu
người được cải thiện nên việc tiêu thụ thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến
lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng. Thách thức đặt ra là 80% nhu cầu ngô
trên thế giới tăng (266 triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển, trong
khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất
sang các nước này. Vì vậy, các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu
của mình trên diện tích ngô hầu như không tăng (IFPRI, 2003).
Bảng 2.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
Vùng 1997 (Triệu tấn) 2020 (Triệu tấn) % thay đổi
Thế giới 586 852 45
Các nước đang phát triển 295 508 72
Đông Á 136 252 85
Mỹ Latinh 75 118 57
Cận Saha - Châu Phi 29 52 79
Tây và Bắc Phi 18 28 56
Nam Á 14 19 36
Nguồn : (IFPRI, 2003)
Như vậy, nhu cầu về ngô trên thế giới ngày càng tăng từ năm 1997 đến
2020 nhu cầu cần tăng thêm 45%, trong đó số lượng tăng nhiều ở các nước
đang phát triển (năm 1997 nhu cầu 295 triệu tấn lên 508 triệu tấn vào năm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

2020), sự thay đổi lớn nhất thuộc về các nước Đông Á với sự tăng thêm 85%

Năm 1975 đất nước mới được giải phóng những khó khăn chồng chất
lên nhau nên cây ngô chưa được chú trọng phát triển, diện tích trồng ngô chỉ
đạt 267 nghìn ha, năng suất 1,05 tấn/ ha, với tổng sản lượng 280,6 nghìn tấn.
Bên cạnh đó, chúng ta gặp không ít khó khăn về vật liệu khởi đầu, cùng với
việc cơ sở vật chất chưa đáp ứng tốt trong các khâu sản xuất ngô. Ở Việt
Nam, ngô tuy chỉ chiếm 12,9% diện tích cây trồng có hạt, nhưng có ý nghĩa
quan trọng thứ hai sau cây lúa. Gần 30 năm qua, nhất là từ những năm 1990
trở lại đây, sản xuất ngô nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.
Năm 2008 là năm đạt diện tích (1.125,9 nghìn ha), năng suất (4,02 tấn/ha) và
sản lượng (4,5 triệu tấn) cao nhất từ trước đến nay. So với năm 1990, diện
tích và năng suất tăng 2,6 lần, còn sản lượng tăng 7 lần ( Tổng cục Trồng trọt,
2009). Cho đến năm 1990 diện tích trồng ngô tăng lên 432 nghìn ha, tổng sản
lượng đạt 671 nghìn tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1975. Đến năm 2004 diện
tích trồng ngô của Việt Nam là 990,4 nghìn ha, năng suất 3,49 tấn/ha và sản
lượng đạt 3453,6 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2004). Năm 2006 diện tích
trồng ngô của Việt Nam là 1033,1 nghìn ha, năng suất 3,7 tấn/ha và sản lượng
đạt 3,9 triệu tấn. Trong quá trình phát triển cây ngô lai ở giai đoạn này phải
kể đến hai sự kiện tạo sự chuyển biến quan trọng, đó là: “Cây Ngô Đông trên
đất hai lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ” và “Sự bùng nổ ngô lai ở các vùng trồng
ngô trong cả nước” (Ngô Hữu Tình , 1997).
Cùng với sự phát triển ngô trên thế giới và các nước trong khu vực, ngô
lai ở Việt Nam trong những năm gần đây đã không ngừng phát triển. Giai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

đọan 1990 diện tích ban đầu 5 ha ngô lai, sau đó diện tích đã mở rộng nhanh
chóng. Năm 1991 diện tích đạt 500 ha, đến năm 1996 diện tích ngô lai là 230
nghìn ha, chiếm 40% diện tích và 74% sản lượng (Quách Ngọc Ân, 1997).
Đến năm 2000 diện tích ngô lai đạt 500 nghìn ha, chiếm 65% diện tích trồng
ngô cả nước. Năm 2006 diện tích ngô lai đạt 1033 nghìn ha, chiếm 83%.

tiêu vào năm 2020.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010
Năm
Diện tích
(Nghìn ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
Sản lượng
(Triệu tấn)
Diện tích
Ngô lai (%)
2000 730,2 2,5 2,0 65
2005 1052,6 3,6 3,8 90
2006 1033,1 3,7 3,9 90
2007 1096,1 3,9 4,3 >90
2008 1125,9 4,0 4,5 >90
2009 1200,0 4,4 5,3 >90
2010 1200,0 4,58 5,5 >90
Nguồn: USDA (2010)
Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy rằng, với những thành tựu đã đạt được
có thể nói đây là một bước tiến vượt bậc của nền nông nghiệp Việt Nam. Kết
quả trên đã được CYMMYT và nhiều nước trên thế giới đánh giá cao. Bên
cạnh những thành tựu về giống, các tiến bộ kỹ thuật về canh tác cũng đã đóng
góp quan trọng cho sự phát triển của cây ngô trong những năm gần đây.
Trong hệ thống cây trồng nước ta, cây ngô giữ vị trí rất quan trọng, nó đã
có mặt trên mọi vùng đất, phù hợp với mọi điều kiện canh tác, tham gia vào
các công thức luân canh xen canh, gối vụ đã dần góp phần xóa hết thế động
canh của cây lúa đa dạng hóa cây trồng và cải thiện hệ sinh thái nông nghiệp
Như vậy, ở nước ta năng suất ngô còn thấp so với các nước có nghề
trồng ngô phát triển. Để đạt được năng suất ngô cao hơn nữa trong thời gian

2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho ngô trên thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Cây ngô là cây có tiềm năng năng suất to lớn. Trong các biện pháp thâm
canh năng suất ngô phân bón giữ vai trò quan trọng nhất. Theo Berzenyi. Z,
Gyorffy. B.(Berenyi và cs,1996) thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7 % năng suất
ngô còn các yếu tố khác như mật độ cây, phòng trừ cỏ dại, đất trồng có ảnh
hưởng ít hơn. Theo kết quả của viện Lân, Kali (Mỹ) cho thấy để tạo ra 10 tấn
ngô hạt/ha, cây ngô lấy đi một lượng dinh dưỡng như sau(kg/ha).
Bảng 2.4. Lượng dinh dưỡng cây hút đất và phân bón(kg/ha)
Chỉ tiêu N P
2
O
5
K
2
O Mg S
Năng suất
chất khô
%
Hạt (10 tấn) 190 78 54 18 16 9.769 52.0
Thân, lá, cùi 79 33 215 38 18 8.955 48.0
Tổng số 269 111 269 56 34 18.724 100.0
Nguồn: Ngô Hữu Tình, 1997 .
Phân đạm (N) được coi là yếu tố tăng năng suất cây trồng quan trọng
và có hiệu quả cao nhất. Đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý bón
cho cây trồng vì: Cây cần với lượng nhiều mà đất không cung cấp đủ, nhất
là đạm dễ tiêu. Trong các cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng đạm
tham gia vào các thành phần axit amin, protein, các enzim, các chất kích

Theo Sinclair and Muchow, (1995), hàng thập kỷ gần đây năng suất ngô
tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô. Đạm được cây
ngô hút với một lượng lớn và đạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt đến sự cân
bằng cation và anion ở trong cây. Khi cây hút N - NH
4
+
sự hút các cation khác
chẳng hạn như K
+
, Ca
2+
, Mg
2+
sẽ giảm trong khi sự hút anion đặc biệt là
Phosphorus sẽ thuận lợi. xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat
(Mengel, 1968)(dẫn theo Arnon, 1974). Tùy thuộc vào tuổi của cây với các
cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút đạm nitrat, trái lại các cây
ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90% tổng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

lượng đạm cây hút (Coic, 1964)(dẫn theo Arnon, 1974). Đạm cũng là thành
phần cấu trúc của vách tế bào (Schrader, 1984), William Bennet, (1993). Đạm
là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của tất cả các
Prôtêin. Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để xác định năng suất ngô.
Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ hoàn toàn, sự phân chia
tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả làm giảm diện tích lá, kích
thước của cây và năng suất giảm. Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá
hiệu quả ngay từ đầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ để
quá trình đồng hóa quang hợp đạt cực đại (dẫn theo Patrick Loo, 2001), (


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status