đồ án kỹ thuật máy xây dựng Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón vào thời kỳ trước trỗ đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99 vụ xuân năm 2011. - Pdf 27

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây cốc quan trọng cung cấp lương
thực cho con người và thức ăn cho vật nuôi. Ngô còn là nguồn nguyên liệu
cho ngành công nghiệp lương thực - thực phẩm - dược phẩm và công nghiệp
nhẹ. Hiện nay, ngô đang được quan tâm đặc biệt với vai trò là nguồn
nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học.
Cuối thế kỷ XX nghề trồng ngô trên thế giới đã có sự phát triển kỳ diệu
thành tựu .Nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ giống ngô lai và những di truyền
,kỹ thuật canh tác vào sản xuất . Hiện nay trên thế giới luá mì lúa nước và cây
ngô được coi là 3 cây ngũ cốc chính của loài người song không có cây nào
sánh kịp với cây ngô về quy mô, hiệu quả về ưu thế lai.
Ở Việt Nam, cuộc cách mạng về ngô lai đã được nhà nước Bộ Nông
Nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học Công nghệ và các tỉnh trong cả
nước đặc biệt quan tâm.Chính vì vậy trong vòng 10 năm (1990 - 2000) tỷ lệ
trồng ngô lai tăng từ 0% lên tới 65%, một tốc độ phát triển rất nhanh trong
lịch sử phát triển ngô lai thế giới và châu Á. Hiện nay việc sử dụng ngô làm
lương thực ở nước ta vẫn còn nhiều, đặc biệt là những vùng khó khăn, những
vùng có tập quán sử dụng ngô làm lương thực hàng ngày. Sự hạn chế về mặt
dinh dưỡng của cây ngô là một số axit amin không thay thế như Lysine,
Triptophan, Methionine…thấp. Vì vậy nhiều nhà tạo giống ngô trên thế giới đã
nghiên cứu cải thiện hàm lượng của một số axit amin không thể thay thế này.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, một số giống ngô LVN99 đã
được tạo ra, nhưng do nội nhũ mềm nên hạn chế phát triển. Những năm gần
đây các nhà chọn tạo giống của Trung tâm cải tạo ngô và lúa mì quốc tế
(CIMMYT)đã tạo ra các nhũ mềm cứng, chống chịu sâu bệnh, đổ, hạn tốt và
cho nang suất tương đương ngô thường nhưng có chất lượng proteincao hơn
ngô thường, với hàm lượng protein là 11% (ngô thường là 8.59%) trong đó
lysine trong protein là 40% triptophan trong prortein là 0,82% (ngô thường là
20% và 0,5%) (Lê Qúy Kha,Trần Hồng Uy,2002) [7]. Với số lượng ngô được

vào sản xuất.
Giúp sinh viên biết cách viết, trình bày một báo cáo khoa học.
3.2. Ý nghĩa trong sản xuất
Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra được lượng phân đạm bón thích hợp để
giống ngô LVN99 đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ở Việt Nam, nông nghiệp nông thôn có vị trí rất quan trọng. Hiện nay,
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển của nông nghiệp, nông
thôn và đã có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát
triển của khu vực này. Trải qua các giai đoạn phát triển, nông dân, nông
nghiệp và nông thôn đã có những đóng góp tạo nên những thành tựu lớn trong
công cuộc đổi mới. Cho đến nay, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển
tương đối toàn diện, tăng trưởng khá, quan hệ sản xuất từng bước đổi mới phù
hợp với yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá. Những thành tựu
đó đã góp phần rất quan trọng vào sự ổn định kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đầy
nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Đóng góp một phần không nhỏ đối với sự phát triển đó là hệ thống các
cây lương thực, trong đó có cây ngô. Tuy hiện nay cây lúa vẫn đang giữ vị trí
đứng đầu về sản lượng cũng như tầm quan trọng nhưng với khả năng phát
triển trong tương lai, cây ngô đã từng bước tự chứng tỏ được mình.
Ngô là cây trồng quang hợp theo chu trình C4, có tiềm năng năng suất
cao mà không một cây cốc có thể so sánh kịp. Để nâng cao hiệu quả trong sản
xuất nông nghiệp nói chung và khai thác triệt để vị trí, vai trò của cây ngô nói
riêng, công tác lai tạo những giống ngô mới có năng suất cao, phẩm chất tốt,
thích ứng rộng là một yêu cầu cấp thiết. Trong đó yếu tố giống có vai trò hết
sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và sản lượng ngô.
Với vai trò làm lương thực cho người (17%), thức ăn cho chăn nuôi
(gần 70%) và làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, dược

hội nông thôn miền núi.
Ngô là cây trồng tạo ra một lượng năng suất, vật chất rất lớn trong một vụ
trồng.Vì vậy ngô hút từ đất một lượng dinh dưỡng rất lớn trong quá trình
sống, đặc biệt là dinh dưỡng đạm. Phân đạm đóng vai trò hết sức quan trọng
trong đời sống cây ngô, tham gia vào quá trình hình thành protein…, do vậy
nó ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng protein trong hạt ngô. Người dân ở
vùng nông thôn, vùng núi thường có tập quán trồng ngô trên nương rẫy,
không bón phân hoặc bón với hàm lượng rất ít trong khi nhu cầu sử dụng các
chất dinh dưỡng của cây ngô lại rất cao, điều đó làm cho đất nghèo kiệt về
dinh dưỡng, không cung cấp đủ nhu cầu cho cây ngô, cho nên năng suất ngô
thường thấp, chất lượng kém, chính vì vậy nghiên cứu liều lượng bón đạm
thích hợp đối với giống ngô LVN99 là một vấn đề rất cần thiết trước khi mở
rộng ra sản xuất.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng em tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu ảnh
hưởng của liều lượng đạm bón vào thời kỳ trước trỗ đến sinh trưởng và
năng suất của giống ngô LVN99 vụ xuân năm 2011. Tại trường Đại Học
Nông Lâm –Thái Nguyên.”
2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
2.1. Tình hình sản xuất ngô và ngô LVN99 trên thế giới
Có thể nói rằng trong ba cây ngũ cốc chính của loài người : Lúa nước,
lúa mì, và cây ngô thì không có cây nào sánh kịp với cây ngô về tiềm năng
năng suất hạt, về quy mô, tỷ lệ và hiệu quả ưu thế lai.
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Do có nền
di truyền rộng và thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau nên cây ngô
được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có khoảng
140 nước trồng ngô, trong đó có 38 nướ c là các nướ c phát triển cò n lại là
các nước đang phát triển (Báo cáo tổng kết 29 của ISAAA) [1]. Tổng diện
tích trồng năm 2009 lên đến 159,53 triệu ha, năng suất 5,12 tấn/ha và sản
lượng 817,11 triệu tấn một năm (FAOSTAT, 2010) [34].
Ngô được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như: làm lương thực, thực

triệu ha và năng suất ngô đạt 5,12 tấn/ha cả diện tích năng suất có tăng lên
không đáng kể. Trong công tác cải tạo giống cây trồng trên cơ sở ưu thế lai,
ngô lai là một thành công kỳ diệu của nhân loại. Nhờ sử dụng giống ngô lai
và kỹ thuật trồng trọt tiên tiến mà năng suất ngô trên thế giới càng ngày càng
tăng lên.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2009

Nước

Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Mỹ 31,83 9,66 307,38
Trung Quốc 30,48 5,35 163,12
Brazil 13,79 3,71 51,23
Italia 0,91 8,60 7,88
Đức 0,52 9,75 4,53
(Nguồn FAOSTAT, 2010) [10]
Qua bảng 2.2, chúng ta thấy: Tình hình sản xuất ngô của một số nước
trên Thế giới nước có diện tích và sản lượng lớn nhất là Mỹ diện tích là 31,83
triệu/ha, sản lượng là 307,38 triệu tấn, diện tích, năng suất lớn thứ 2 là Trung
Quốc 30,48 triệu ha và sản lượng 163,12 triệu tấn. Braxin có diện lớn thứ 3
nhưng năng suất thấp chỉ đạt 3,71tấn/ha, sản lượng cao hơn Đức và Italia đạt
51,23 triệu tấn. còn Đức và Italia có diện tích nhỏ hơn Đức 0,52 triệu ha
nhưng năng suất cao hơn cả Mỹ và Trung Quốc, Italia diện tích là 0,91 triệu
ha đạt năng suất cao hơn so với Trung Quốc.
2.2.Tình hình sản xuất ngô LVN99 ở Việt Nam

(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1961 229,2 1,14 260,1
1975 229,2 1,05 280,6
1990 432,0 1,55 671,0
1994 524,6 2,14 1.143,9
2000 730,2 2,51 2.005,9
2005 1.072,6 3,60 3.787,1
2007 1.072,8 3,96 4.250,9
2008 1.140,2 4,01 4.573,1
2009 1.086,8 4,03 4.381,8
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN và PTNT 2010 [21])
Sản xuất ngô ở Việt Nam trải qua nhiều bước thăng trầm, đến nay đã đạt
được những thành tựu to lớn,được chia làm 3 giai đoạn chính:
Giai đoan 1: trước năm 1975 do điều kiện còn khó khăn nên cây ngô
chưa được chú trọng, vì vậy diện tích đạt 229 nghìn ha, năng suất 1,14 tấn/ha,
với sản lượng bình 260,1 nghìn tấn/năm.
Giai đoạn 2: Từ năm 1975 – 1994 diện tích trồng ngô tăng chậm từ 229,2
nghìn ha (năm 1975) lên 534,6 nghìn ha (năm 1994). Đầu những năm 1990
ngành sản xuất ngô Việt Nam thực sự có một bước tiến nhảy vọt, gắn liền với
việc sử dụng giống ngô lai ra sản xuất, đây là bước chuyển tiếp quan trọng
trong chương trình phát triển ngô lai ở Việt Nam – từ giống thụ phấn tự do
sang giống ngô quy ước. Hàng loạt các giống ngô lai đã được mở rộng ra sản
xuất:LVN10,LVN4,LVN5, LVN9,LVN12, LVN17 Do được chọn tạo trong
nước nên được tạo ra có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và tập
quán canh tác của người dân, giá thành giống chỉ bằng 50- 70% so với các
giống nước ngoài cùng loại.

- Nhóm đa lượng : Cacbon, oxy, hydro, nitơ, photpho, lưu huỳnh,
kali, canxi, magiê.
- Nhóm vi lượng : Sắt, mangan, kẽm, đồng, molipden, bo, clo,nhôm,
bạc, natri, coban, bari.
Các nguyên tố tạo thành cơ thể cây ngô chiếm số lượng lớn, chúng tham
gia xây dựng các hợp chất hữu cơ trong cây. Ví dụ : C, O, H, N, P, S…tạo
nên nước, đường, tinh bột, xenlulozơ, amino axit , protein, lipit…
Các nguyên tố khoáng tham gia trực tiếp vào các quá trình chuyển hóa
vật chất và năng lượng trong cây. Chúng có vai trò lớn trong các quá trình
quang hợp hô hấp, cân bằng nước cũng như toàn bộ quá trình sinh trưởng phát
triển của cây. Các yếu tố chính hoặc thành phần tham gia cấu trúc của các hệ
thống chức phận như bộ máy quang hợp, chuỗi hô hấp, các trung tâm tổng
hợp protein. Trong cây tồn tại các ion K
+
, Ca
++
, Mg
++
, và N
+
, chúng điều khiển
các tính chất và khả năng thẩm thấu trên bề keo của tế bào. Các nguyên tố
kim loại có hóa trị thay đổi khi ở dạng ion ( Fe, Ca, Zn, Mn ) điều khiển quá
trình oxy hóa khử trong trao đổi chất, chúng là những xúc tác sinh học.
Có thể nói ít nhất 16 nguyên tố dinh dưỡng cần thiết để tạo thành cơ thể
và ổn định sinh trưởng bình thường của cây ngô. Thiếu các nguyên tố này có
thể gây ra những biến đổi làm suy yếu hoặc rối loạn thay đổi sinh trưởng phát
triển của cây ngô. Điều quan trọng những nguyên tố này phải hàm lượng thích
hợp trong đất và có hàm lượng dễ tiêu đối với cây ngô.
Cây ngô hấp thụ các yếu tố khoáng dưới dạng ion dung dịch đất hay từ

năng suất, đặc biệt ở thời kỳ trỗ cờ phun râu cây đòi hỏi dinh dưỡng rất
cao,nên vào thời kỳ này nếu một nửa lá bị héo khô sẽ làm giảm 25 – 30%
năng suất.
Thời kỳ kỳ trỗ cờ phun râu ngô đã hút gần như toàn bộ số kali cần thiết
và lượng lớn đạm và lân.
- Giai đoạn chín: Qúa trình tích lũy chất khô đã hoàn thành, ngô bắt đầu
mất nước nhanh, các bộ sinh trưởng sinh dưỡng chuyển sang màu vàng.Hầu
hết các giống đều cần khoảng 60 ngày để hoàn thành hạt; trong đó các giống
ngắn ngày cần ít hơn khoảng 35-40 ngày trong thời gian hình thành hạt, mỗi
ngày bình quân tạo thành 2,5-3% trọng lượng hạt khi chín hoàn toàn.
Trong giai đoạn chín cây ngô thực hiện các chức năng phân phối lại
lượng dinh dưỡng đã hấp thụ. Lượng dinh dưỡng cây hấp thụ được khong chỉ
tích lũy ở hạt mà còn một lượng hạt lớn ở thân lá.
Tiêu tốn nước trong quá trình tích lũy chất khô ở cây ngô thấp hơn lúa.
Để tạo 1 gam chất khô ngô cần 349 gam nước, trong khi đó lúa cần 628 gam
nước.
* Đạm: Là nguyên tố quan trọng bậc nhất đối với cây ngô. Trong đạm
Nitơ là thành phần của axi tamin, yếu tố để tạo nên protein. Nitơ tham gia vào
thành phần của hàng loạt các chất quan trọng trong cơ thể thực vật, quyết định
các quá trình trao đổi chất, những biến đổi sinh hóa, sinh lý và quá trình sinh
trưởng phát triển của cây. Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các
axit amin và từ các axit amin đó tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ
thể thực vật. Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thực vật là không
thể thay thế được.
Trong điều kiện bình thường cây hút đạm nitrat và đạm amon. Hai dạng
đạm có tác dụng sinh lý khác nhau. Khi hút đạm, độ PH trong cây cao lên, khi
PH bằng 6,8 cây hút cả hai dạng đạm này như nhau, cây phản ứng khác nhau
với đạm,ở đất chua cây chủ yếu hút nitrat hỗ trợ việc hút cation, trong khi
đạm amon gây khó khăn cho việc hút cation.Thiếu đạm những lá già ở gốc
thường vàng và khô đi bắt đầu từ đầu lá rồi lan dần ra sống lá. Khi thừa đạm

của bộ rễ thường thiếu lân.
*Kali: Kali khác với đạm và lân không tham gia vào hợp chất hữu cơ mà
tồn tại dưới dạng ion trong dịch cây. Kali có vai trò trong việc phân chia TB
duy trì các chức năng sinh lý cây, kali nhanh chóng tham gia vào hoạt động
của enzim, thúc đẩy quá trình vận chuyển hydratcacbon. Kali tham gia vào
quá trình điều khiển sự đóng mở của khí khổng. kali giúp cây đề kháng với
sâu bệnh, tăng cường hoạt động của bó mạch, bề dày cương mô, do vậy giúp
cây cứng cáp, chống đổ… thiếu kali các đốt thân ngắn, nhỏ lại, lá dài từ đầu
mút lá dọc theo hai bên mép lá trở lên úa vàng. Thiếu kali con gây thiếu
canxi, cản trở hấp thụ B, Zn, Mn và NH4, thiếu kali các hợp chất protein và
sắt tích lũy trong các đốt thân, cản trở việc vận chuyển các hợp chất
hydratcacbon, làm bộ rễ kém phát triển, cây dễ đổ.
Điều kiện tạo nên hiện tượng thiếu kali là do đất xấu, lượng kali dễ tiêu
thấp, do đất quá ẩm hay bị gí chặt.
Kali là nguyên tố được cây hút ngay từ đầu và thuộc loại sớm trong ba
nguyên tố NPK. Khi ngô phun râu hầu như cây đã hút đủ nhu cầu kali. Hàm
lượng và khả năng cung cấp kali phụ thuộc vào tính chất vật lý của đất. lượng
kali cây sử dụng vào hạt chỉ bằng 1/5 tổng lượng đã hút, còn phần lớn vẫn để
lại trong thân lá.
3.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến quá trình hút khoáng.
3.1.3.1. Không khí trong đất.
Lớp đất trên cùng xốp hơn, lượng CO
2
chiếm 0,2 - 0,7% khoảng trống.
Còn ở tầng sâu hơn, chặt chứa 3 - 5%. CO
2
tạo ra hô hấp cho đất hoặc là sản
phẩm phân hủy của các axit hữu cơ, tạo thành axit cacbonic ở trong đất có tác
dụng hòa tan các ion, tạo thuận lợi cho cây hấp thụ dinh dưỡng. Những sự
tăng hàm lượng CO

nhiệt, có hệ thống rễ chùm phát triển (FAO, 1995) [66].
Ngô là loại cây trồng tạo ra năng suất và chất lượng vật chất lớn trong
một vụ trồng. Vì vậy ngô hút từ đất một lượng chất dinh dưỡng rất lớn trong
quá trình sống. Tùy theo lượng hút và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng, các
nhà nghiên cứu phân bón chia các nguyên tố dinh dưỡng thành 2 nhóm chính:
- Nhóm nguyên tố đa lượng (Đạm, lân, kali, magie, lưu huỳnh) là chất
quan trọng được cây hút nhiều trong quá trình sống. Nhưng do hàm lượng dự
trữ trong đất ít nên nhiều nguyên tố bị thiếu htuj làm cho năng suất ngô bị
giảm. Muốn trồng ngô đạt năng suất cao cần thường xuyên cung cấp, bổ xung
các chất dinh dưỡng chính cho ngô.
- Nhóm nguyên tố vi lượng (Sắt, Molipđen, Bo, Kẽm, Mangan) đây là
các chất được cây ngô hút với lượng rất ít nhưng đóng vai trò quan trọng
trong đời sống cây ngô vì các yếu tố vi lượng tham gia vào thành phần các
enzim, các chất có hoạt tính sinh lý cao, đóng vai trò điều tiết quá trình sống
của cây. Các yếu tố vi lượng được hút từ đất còn rất ít, tuy nhiên ở những
ruộng ngô thâm canh cao, trồng ngô liên tục nhiều năm có thể dẫn đến thiếu
hụt một số chất,nên bổ sung các nguyên tố vi lượng hoặc thông qua các chế
phẩm dinh dưỡng có sẵn ngoài thị trường.( Nguyễn Thế Hùng, 2002) [9].
Cây ngô là có tiềm năng năng suất lớn, trong các biện pháp thâm canh
tăng năng suất ngô thì phân bón đóng vai trò quan trọng. Theo Berzennyi và
cộng sự năm 1961 thì phân bón ảnh hưởng đến 30,7% năng suất ngô. Còn lại
các yếu tố khác như: Mật độ, phòng trừ cỏ dại, đất trồng…Nguồn cung cấp
chủ yếu cho cây là đất trồng trọt, theo các nhà nghiên cứu của viện Lân, kali -
Alanta (Mỹ) cho biết: Để tạo ra 10 tấn ngô hạt trên 1ha, cây ngô lấy đi của đất
một lượng dinh dưỡng rất lớn: 197N + 80P
2
0
5
+ 208 K
2

Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ
Văn Sơn (1995) [38] đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồng
bằng sông Hồng, thu được kết quả như sau:
- Để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy đi từ đất trung bình một lượng đạm, lân,
kali là: N = 22,3 kg; P
2
0
5
= 8,2 kg; K
2
0 = 12,2 kg.
- Lượng NPK tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là: N = 33,9 kg; P
2
0
5

= 14,5 kg; K
2
0 = 17,2 kg.
- Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45.
- Tỉ lệ N: P: K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
Bảng 2.4. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng (%)
Nguyên tố 6 - 7 lá Trỗ cờ Thu hoạch
N 51,7 47,4 52,2
P
2
0
5
8,3 9,8 19,1
K

00; miền Đông Nam bộ: 90N -
90P
2
0
5
- 30K
2
0; Đồng bằng sông Cửu Long: 150N - 50P
2
0
5
- 0K
2
0.
Theo Nguyễn Văn Bộ (2007) [7], lượng phân bón khuyến cáo cho ngô
phải tuỳ thuộc vào đất, giống ngô và thời vụ. Giống có thời gian sinh trưởng
dài hơn, có năng suất cao hơn cần phải bón lượng phân cao hơn. Đất chua
phải bón nhiều lân hơn, đất nhẹ và vụ gieo trồng có nhiệt độ thấp cần bón
nhiều kali hơn.
Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là:
+ Đối với giống chín sớm:
- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90kg P
2
0
5

; 60 - 90kg K
2
0 /ha.
- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg

2
0/ha và cho năng suất hạt gấp 2 lần so với công thức
đối chứng không bón phân. Cũng theo tác giả thì trên đất bạc màu, hiệu suất của
1kg NPK là 8,7kg;1 kg N là 11,3 kg; 1kg P
2
0
5
là 4,9 kg; 1kg K
2
0 là 8,5 kg.
Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón cho
ngô khác nhau trên các loại đất khác nhau. Theo ông, trên đất phù sa nên bón
120 kg N - 60 kg P
2
0
5
- 90 kg K
2
0 /ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75. Trên đất xám
bạc màu bón 100 kg N - 100 kg P
2
0
5
- 150 kg K
2
0 /ha với tỷ lệ là 1:1:1,5
(dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [41].
Theo Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam (Đỗ Trung Bình, 2000),
liều lượng phân bón cho 1 ha ngô ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên là:
120 kg N - 90 kg P

đạt hiệu quả kinh tế cao phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu
cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây
trên đồng ruộng, tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt
và điều kiện khí hậu thời tiết.
Bón cân đối đạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa. Bội thu do
bón cân đối (trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất
phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9
tạ/ha trên đất đỏ vàng. Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngô
trên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng
(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [7].
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002) [17], từ năm 1985 đến nay tình hình
sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là
13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm. Tổng lượng N + P
2
0
5
+ K
2
0 trong 15
năm qua tăng trung bình 9,0%/năm. Tỷ lệ N : P
2
0
5
: K
2
0 trong 10 năm qua đã
cân đối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 :
0,05; 1 : 0,46 : 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37. Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên
qua các năm 1990, 1995, 2000 với tổng lượng N : P
2

đạm đối với cây ngô ở Việt Nam mới chỉ được đề cập về liều lượng dùng và
tỷ lệ giữa nó với các yếu tố dinh dưỡng khác. Nghiên cứu ảnh hưởng của đạm
đến năng suất và chất lượng các loại giống ngô, trong đó có giống ngô TPTD
QPM so sánh với ngô lai thường thì chưa được nghiên cứu ở nước ta.Lân hữu
cơ rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, hút chất
dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây. Tác dụng chủ yếu của lân
thể hiện trên một số mặt sau đây: Phân chia tế bào, tạo thành chất béo và
protein; thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và quyết định phẩm chất hạt
giống; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; thúc đẩy việc ra rễ đặc biệt là rễ
bên và lông hút; làm cho thân cây ngũ vững chắc, đỡ đổ; cải thiện chất lượng
sản phẩm (trích theo Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [33].
Theo các tác giả Lê Văn Khoa và CS (1996) [24]; Oparin (1977) [35],
cho rằng vai trò của lân đối với sự sống có một nghĩa lớn vì lân tồn tại trong
tế bào của động thực vật, nó có trong nhân tế bào, enzim, vitamin. Lân tham
gia vào việc tạo thành và chuyển hoá Hidrat Cacbon, chất chứa nitơ, tích luỹ
năng lượng tế bào sống. Lân còn đóng vai trò quan trọng trong hô hấp và lên
men.Hiệu lực phân lân đối với ngô bội thu 8 - 10 kg ngô hạt/kg P
2
0
5
, trong
nhiều trường hợp hiệu lực lân không rõ hoặc làm giảm năng suất do kỹ thuật
bón không phù hợp hoặc nhất là lượng bón lân quá cao so với lượng đạm
hoặc bón không kèm kali (Nguyễn Văn Bộ, 1993) [6].
Theo các tác giả Vũ Hữu Yêm và CS (1999) [54], trên đất phù sa Sông
Hồng không được bồi không nên bón quá 90 kg P
2
0
5
/ha cho ngô, bón đến 120

2
0/ha. Bón kali liều lượng 30 - 210 kg K
2
0 /ha không làm gia tăng năng suất
ngô vùng Tây sông Hậu. Hiệu lực của phân kali trên đất phù sa sông Hồng đạt
5,2 kg ngô hạt/kg K
2
0.
Theo Tạ Văn Sơn (1995) [38], trên đất phù sa sông Hồng bón phân kali
đã làm tăng năng suất ngô rõ rệt và đặc biệt trên nền N cao. Phân lân có hiệu
lực rõ rệt đối với ngô trên đất phù sa sông Hồng trên nền 180N - 120K
2
O có
thể bón tới 150P
2
0
5
.
Theo Nguyễn Văn Bộ và CS (1999) [8], ngô là cây trồng có tiềm năng
năng suất rất cao đồng thời cũng lại có nhu cầu dinh dưỡng lớn. Trung bình
với năng suất 6 tấn/ha cây ngô hút 155 kg N; 60 kg; 115 kg P
2
0
5
; 15,7 kg Cu;
35,5 kg MgO và 16 kg S. Hiệu lực phân kali: với ngô ở Việt Nam tăng năng
suất 310 kg ngô hạt/ha, hiệu suất 5,2 kg ngô/kg K
2
O trên đất phù sa Sông
Hồng (Nguyễn Văn Bộ và CS, 1999) [8].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status