nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng, hải phòng - Pdf 13

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, ngoài sự lỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ động viên của thầy cô, bạn bè và gia
đình.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Cô Mai Thị Huyền
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp
này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Nông
Nghiệp trường Đại Học Hải Phòng.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của xã Vinh Quang – Tiên
Lãng – Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực tập vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng ngày 2/4/2012
Sinh viên Nguyễn Vi Sơn
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong ba cây lương thực chủ yếu
trên thế giới: lúa mì, lúa gạo, ngô. Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là
nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực
hàng ngày. Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% số dân
trên thế giới, là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình
quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/
người/ năm tại các nước châu Mỹ [1].
Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng
lúa gạo làm lương thực chính. Việc sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông
nghiệp. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành tích lũy và phát triển cùng với
sự hình thành và phát triển của dân tộc. Đến nay, nghề trồng lúa ở Việt Nam

- Đánh giá được các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển các các công thức tham gia
thí nghiệm. Đánh giá được các chỉ tiêu cấu thành năng suất, năng suất lúa và
hiệu quả kinh tế.
- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống chịu với điều
kiện ngoại cảnh.
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
2.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Vùng trồng
lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang
(Trung Quốc). 53°B, Tiệp 49°B, Nhật, Itali, Nga 45°B đến nam bán cầu, New
South Wales (Úc): 35°N. Vùng phân bố ở châu Á từ 30°B đến 10°N [1]. Hiện
nay trên thế giới có 114 quốc gia trồng lúa và phân bố ở tất cả các Châu lục
trên thế giới, châu Á chiếm 90%. Trong đó, Châu Phi có 41 nước trồng lúa,
Châu Á-30 nước, Bắc Trung Mỹ-14 nước, Nam Mỹ-13 nước, Châu Âu-11
nước và châu Đại dương-5 nước [16].
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỉ gần đây có mức tăng đáng kể,
nhưng do dân số tăng nhanh nhất là các nước đang phát triển (Châu Á, Châu
Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn đang là vấn đề phải quan
tâm trong những năm trước mắt và lâu dài.
Diện tích trồng lúa biến động và đạt khoảng 152.000 triệu ha, năng suất
lúa bình quân xấp xỉ 4,0 tấn/ha. Diện tích trồng lúa trên thế giới tăng rõ rệt từ
năm 1995 - 1980. Trong vòng 25 năm này, diện tích trồng lúa trên thế giới
tăng bình quân 1,36 triệu ha/năm. Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và
đạt cao nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân
630.000 ha/năm. Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến

Toàn Thế giới
Châu Á
Châu Âu
Châu Đại Dương
Nam Mỹ
Bắc,Trung Mỹ
Châu Phi
597.981
544.63
0
3.650
1.164
19.784
12.260
16.493
569.035
515.255
3.210
1.218
19.601
12.195
17.556
584.272
530.736
2.260
1.457
19.973
11.623
18.223
606.268

4% đến kỷ lục 710 triệu tấn. Tăng sản lượng hàng năm dự kiến tập trung tại các
nước châu Á với sản lượng lúa dự kiến 643 triệu tấn, cao hơn 29 triệu tấn so
với năm 2009. Ấn Độ dự kiến chiếm phần lớn tăng sản lượng trong khu vực,
với hồi phục sản lượng tại Philippines, Sri Lanka và Thái Lan. Triển vọng tích
cực tại Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia và Miến Điện, trong khi Đài Loan
và Hàn Quốc có thể giảm. Tiêu thụ gạo toàn cầu trong năm 2010 dự kiến tăng
khoảng 1 - 2% đến 454 triệu tấn gạo xay xát. Trong số này, dự kiến 388 triệu
tấn được dùng làm lương thực, cao hơn 6 triệu tấn so với năm 2009. Dựa vào
các ước tính hiện tại, tiêu thụ gạo đầu người trên toàn cầu trong năm 2010 có
thể tăng từ 56,5 kg/người trong năm 2009 lên 56,8 kg, cho thấy tăng tiêu thụ
gạo bình quân tại các nước đang phát triển còng như tại các nước phát triển.
2.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thể coi là các nôi hình
thành cây lúa nước. Đã từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý
nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Với địa bàn trải dài
trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
6
châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu để nuôi
sống cả mấy chục triệu người.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông
nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò quan
trọng trong đời sống con người. Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong cung cấp
lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp
không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên phù
hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng trên khắp mọi miền của đất nước.
Trong quá trình sản xuất đã hình thành hai vùng sản xuất rộng lớn đó là Đồng
Bằng Châu thổ Sông Hồng và vùng Đồng Bằng Châu thổ Sông Cửu Long [4].
Trong năm 1945, diện tích trồng lúa của cả nước ta là 4,5 triệu ha, năng

(10
6
ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(10
6
tấn)
Xuất khẩu
(10
6
tấn)
2000 7,654 42,5 32,5 3,5
2002 7,5 45,9 34,4 3,24
2005 7,329 49 35,8 5,2
2007 7,2 45,3 36,48 4,3
2008 7,4 46,84 37,74 5
2009 7,1 47 39 6,2
Ngày nay, dân số Việt Nam tăng nhanh, diện tích đất trồng lúa bị giảm,
sự phát triển không nhịp nhàng đó cho thấy nhu cầu lương thực vẫn là một
nhu cầu thiết yếu. Để giải quyết lương thực cho những năm tới ở nước ta có
hai con đường chủ yếu:
Mở rộng diện tích canh tác: bằng các biện pháp tăng vụ hay tăng hệ số
sử dụng đất.
Thâm canh: để có năng suất cao, phẩm chất tốt, con người đã lai tạo tìm
ra các giống lúa mới. Nhưng để phát huy hết tiềm năng của giống thì người
trồng trọt phải có các biện pháp kĩ thuật nhất định. Trong đó sử dụng phân
bón mà nhất là phân đạm có ý nghĩa quan trọng.
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn

bình khoảng 30 ngày với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên,
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
9
nếu đất ruộng nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời
gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Thời kì chín chủ yếu
biến động phụ thuộc vào nhiệt độ. Thời kì này cây lúa trải qua các thời kì sau:
Thời kì chín sữa: các chất dự trữ trong thân lá, vật phẩm quang hợp được
vận chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là quang hợp
ở giai đoạn sau khi trỗ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh
trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ sau thời kì lúa trỗ trở đi hết sức
quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa.
Thời kì chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, vỏ trấu vẫn còn xanh.
Thời kì chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu
vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng của chót bông lan
dần xuống các hạt từ phần cổ bông nên gọi là "lúa đỏ đuôi", lá già lụi dần.
Thời kì chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ khoảng 20% hoặc
thấp hơn, tùy độ ẩm môi trường, lá xanh chuyển màu vàng và rụi dần. Thời
điểm thu hoạch tốt nhất là khi lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống [1,2].
2.3. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA
Các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh
trưởng và phát triển của cây lúa là: các-bon, ô-xy, hyđrô (từ thiên nhiên) và
các chất khoáng: nitơ (N), phốtpho (P), kali (K), canxi, sắt, kẽm, đồng, magiê,
mangan, mô-líp-đen, bo, silic, lưu huỳnh Trong đó 3 yếu tố dinh dưỡng cây
lúa cần với lượng lớn là: nitơ, phốtpho và kali, các nguyên tố khoáng còn lại,
cây lúa cần với lượng rất ít.
2.3.1. Nitơ
Nitơ là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa. Nitơ có mặt trong
rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình
trao đổi chất và năng lượng còng như các hoạt động sinh lý của cây lúa, là

) chiếm khoảng 0,2%
trong rơm rạ và khoảng 0,48% trong gạo. Phốtpho tham gia vào thành phần
ADN và ARN của cây lúa, phốtpho có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình
thành diệp lục, vào quá trình hình thành chất béo, tổng hợp prôtêin trong cây
và vận chuyển tinh bột, làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ,
đặc biệt là rễ bên và lông hút. Trong một số trường hợp đất phèn và đất phèn
mặn thì phốtpho có vai trò kìm hãm các độc tố giúp cho cây lúa sinh trưởng
và phát triển. Tỷ lệ phốtpho cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa. Cây lúa
hút phốtpho trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng mạnh nhất là thời kỳ đẻ
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
11
nhánh và làm đòng. Giai đoạn đầu nhu cầu về phốtpho của cây lúa là rất thấp.
Đủ phốtpho cây đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong
điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy sáng.
Thiếu phốtpho cây còi cọc, số lá ít, lá ngắn, phiến lá hẹp, lá dựng đứng,
xanh tối, đẻ nhánh kém, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt nép,
số bông và số hạt/bông đều giảm.
Thừa phố pho không có biểu hiện gây hại như thừa N vì P thuộc loại
nguyên tố linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan
non. Trong sản xuất, khi bón phân phốtpho cho lúa, lượng phốtpho supe bao
giờ còng gấp 1,5 – 2 lần so với u rê và bón lót toàn bộ phân phốtpho để cung
cấp kịp thời phốtpho cho sự phát triển của bộ rễ lúa. Phốtpho supe (supe lân)
bón lót cho đất ít chua, còn phốtpho nung chảy (hay còn gọi là tecmo phốt
phát) dùng cho nhiều loại đất, đặc biệt có tác dụng ở đất chua.
2.3.3. Dinh dưỡng kali
Cùng với đạm, lân thì Kali là một nguyên tố đa lượng quan trọng đối với sự
sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Kali được cây hút dưới dạng ion K
+
, kali

sở cấu tạo nên protein, cấu tạo nên tế bào và mô cây, diệp lục, thúc đẩy quá
trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ. Trong thành phần chất khô của cây có
chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số. Hàm lượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ với
cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối. Đạm giữ vai trò quan trọng
đối với việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và cần thiết
cho sự sinh trưởng và phát triển của thân lá (làm tăng diện tích lá rõ rệt). Bón
đủ đạm, thân lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng
suất cao. Cây lúa cần nhiều đạm trong thời kỳ đẻ nhánh, nhất là thời kỳ đẻ
nhánh cực đại và thời kì làm đòng. Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu
như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng đạm cho cả chu kỳ sinh trưởng.
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm. Triệu chứng thiếu đạm
thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây. Nếu vào giai đoạn lúa
sinh trưởng mạnh, thiếu đạm lá chuyển vàng (lá già vàng trước, sau lan dần
tới lá non) hay xanh lợt, lá nhỏ, chiều cao cây giảm, khả năng đẻ nhánh kém.
Nếu thiếu đạm ở giai đoạn có đòng thì đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
13
trên bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp. Thừa đạm làm cho thân lá phát
triển quá mạnh, cây cao, lá nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, dễ bị sâu
bệnh, đổ ngã và nhiều hạt lép. Thời kỳ cây lúa mẫn cảm với đạm là trước trỗ
35 – 40 ngày và giai đoạn tượng đòng. Nếu thừa đạm trong các thời điểm này
làm cho thân lá phát triển hơn bộ rễ, ức chế quá trình tượng đòng, dễ đổ ngã,
sâu bệnh, tỷ lệ hạt lép cao, năng suất thấp.
Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác
như lân và kali đều tăng. Theo Bùi Huy Đáp [6], đạm là yếu tố chủ yếu ảnh
hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy tác
dụng.
2.3.5. Dinh dưỡng lân
Lân đóng một vai trò dinh dưỡng quan trọng đối với sinh trưởng và phát

đều giảm. Theo Vũ Hữu Yêm, 1995 [7], cây con rất mẫn cảm với điều kiện
thiếu lân. Thiếu lân trong thời kì cây con cho hiệu quả rất xấu, sau này có bón
nhiều lân thì cây trỗ vẫn không đều hoặc không thoát. Do vậy, cần phải bón
đủ lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả.
Dinh dưỡng lân có quan hệ mật thiết với dinh dưỡng đạm. Nếu bón đủ lân sẽ
làm tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác. Cây được bón cân đối
N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt.
Do vậy, muốn cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao thì không
chỉ cần cung cấp đủ đạm mà còn cần cung cấp đầy đủ cả lân cho cây lúa.
* Độ pH của đất
Độ pH tác động nhiều đến các tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật đến
sự phát triển và năng suất của cây lúa. Độ pH ảnh hưởng tới khả năng cung
cấp dinh dưỡng của đất. Khoảng pH tối ưu cho cây lúa phát triển là từ 5 - 7.
Độ pH thấp có thể kích thích làm cho cây lúa nhạy cảm hơn với các chất độc
và một số bệnh, pH cao các ion bicacbonat và natri có thể làm giảm sản lượng
lúa.
Cây lúa đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt kẽm; lượng kẽm còng như sắt
dễ hấp thụ sẽ giảm khi pH > 7. Photpho thường phát huy hết tác dụng ở độ pH
6 - 7, còn đối với canxi và kali thì ở độ pH < 6. Nếu pH cao quá 7 thì urê và
amoni sulfat có thể bị chuyển hóa thành khí amoniac, đặc biệt đối với đất
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
15
chứa canxi cacbonat. Độ pH thấp sẽ làm giảm tốc độ vi khuẩn giải phóng nitơ
từ các chất hữu cơ. Lưu huỳnh (lưu huỳnh nguyên tố và axit sulfuric) có thể
hạ thấp độ pH của đất, tăng sản lượng lúa.
2.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG ĐẠM ĐỐI VỚI
LÚA VÀ ƯU THẾ LAI VỀ HIỆU SUẤT SỬ DỤNG ĐẠM
2.4.1. Vai trò của đạm
Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu với cơ thể sống vì nó là thành phần

còn phụ thuộc vào tổng lượng phân được cung cấp. Theo Yoshida nếu rất hạn
chế đạm được cung cấp vào 20 ngày trước trỗ. Khi lượng đạm vừa phải có
thể phân ra làm hai lần lá vào giai đoạn sinh trưởng sớm và khoảng 20 ngày
trước trỗ. Khi lượng đạm dồi dào bón vào giai đoạn sinh trưởng sớm hữu
hiệu nhất cho sự tạo hạt. Bón vào thời điểm 20 ngày trước trỗ cho hiệu suất
sản xuất cao khi lượng đạm vừa hay thấp, giai đoạn này trùng với sự sinh
trưởng mạnh của bông non trước trỗ. Trong thực tế sản xuất thì bón thúc đạm
nên tiến hành lúc phân hóa đòng, khi bông non dài 1-2mm, 23-25 ngày trước
trỗ. Đạm hấp thu lúc này được dùng để tăng số hoa do đó tăng kích thước
bông. Đạm hút được lúc làm đòng sẽ giữ cho lá xanh đến sau trỗ và do đó
quang hợp vẫn tiếp tục để cho năng suất hạt.
Thời điểm bón thúc cũng ảnh hưởng đến tính chống đổ của cây. Bón
thúc đạm 20 ngày trước trỗ không chỉ làm cho khối lượng trên bông đạt tối
đa mà cũng tăng cả tính chống đổ vì chiều dài và đường kính các dóng thay
đổi, tích lỹ nhiều trọng lượng chất khô ở phần gốc và thân khoẻ (Yoshida)
Riêng đối với lúa lai, Quách Ngọc Ân và Lê Hồng Thu cho rằng ở các
thời kỳ sinh trưởng lúa lai hấp thu dinh dưỡng khác hẳn với lúa thuần. Lúa
thuần thời kỳ đầu thường hấp thu nhiều dinh dưỡng nhưng lúa lai thời kỳ giữa
và sau hấp thu nhiều dinh dưỡng hơn đặc biệt là thời kỳ cuối hấp thu đạm rất
lớn. Vì vậy khác với lúa thuần cần tập trung bón vào thời kỳ đầu, phân bón
cho lúa cần tập trung vào thời kỳ giữa và sau.
Theo Nguyễn Văn Hoan thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở
lúa lai là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3520 g đạm/ha
chiếm 34,68% tổng lượng hút. Giai đoạn cuối tuy lúa lai hút đạm không mạnh
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
17
như gia đoạn đầu song giữ một tỷ lệ đạm cao và sức hút mạnh rất có lợn cho
quang hợp tích luỹ chất khô và hạt. Vì thế một lượng đạm nhất định cần được
bón vào giai đoạn cuối.

giảm 4% khi không bón lân năng suất 5% và khi không bón đạm năng suất
giảm 117%.
Togari Matsuo cho rằng sau khi bón thúc đạm cho lúa 3 ngày, lượng
đạm trong lá đã tăng lên, hàm lượng diệp lục cũng tăng lên vì thế tác dụng
quang hợp trên đơn vị diện tích là cũng tăng theo. Sự chuyển biến dinh dưỡng
từ lá này sang lá khác sẽ làm cho lá sớm tàn. Cung cấp đầy đủ các nhân tố
dinh dưỡng cũng là biện pháp quan trọng để duy trì hoạt động của lá và kéo
dài đời sống của lá.
Matsuhima (1969), Musayama (1967) đã kết luận: Để có năng suất cao
cần giữ mức độ đạm ở lá dù cho hoạt động quang hợp cao. Kinh nghiệm của
người Nhật Bản cho rằng hấp thu đạm liên tục sau trỗ quan trọng để đạt năng
suất cao.
Theo Tamaka (1958) ở cây lúa tất cả các lá từ lá đòng đến lá thứ 3 từ
ngọn trở xuống đều chuyển các chất đồng hoá được về bông lúa. Các lá thấp
vận chuyển chất đồng hoá được về rễ. Chính vì thế lượng đạm bón thúc sẽ có
tác dụng duy trì được bộ lá tạo điều kiện cho quang hợp sau trỗ được tốt.
Phạm Văn Cường (2003) đã kết luận việc cung cấp đủ đạm lúc cây
trưởng thành là điều cần thiết để làm chậm quá trình già hoá của lá, duy trì
cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng cường Protein tích luỹ
vào hạt.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và chất lượng
hạt lúa Lock và Yoshida (1973), Cook (1957), Diday (1988) kết luận: Năng
suất các giống lúa tăng dần theo lượng đạm bón, nếu bón 100 - 150kg N/ha
có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha.
Thí nghiệm về xác định lượng phân bón thích hợp bón cho lúa trên đất
phù sa sông Hồng để có năng suất cao và hiệu quả kinh tế. Trần Thúc Sơn và
Đặng Văn Hiến đã đi đến các kết luận: Bón lượng đạm tăng ở mức thích hợp
làm tăng trọng lượng chất khô tích luỹ, tăng dần diện tích lá, tăng lượng đạm
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9

Tiềm năng năng suất của các giống lúa chỉ được thể hiện khi được cung
cấp đủ lượng phân. Nếu thiếu đạm cây lúa sẽ đẻ nhánh yếu, cây lùn, lá có
màu vàng nhạt nhưng nếu quá thừa phân lại dễ gây lốp đổ, sâu bệnh, kéo dài
thời gian sinh trưởng, giảm năng suất lúa. Chình vì thế tìm ra lượng phân bón
thích hợp, liều lượng phân thích hợp đối với lúa đặc biệt là lúa lai là điều cần
thiết để đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế.
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
20
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: Vinh Quang – Tiên Lãng - Hải Phòng, đây là vùng đất phù sa
mới được bồi đắp, vàn trũng.
- Thời gian: từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2011
- Phân bón: Đạm Ure Phú Mỹ 46% N, Supe lân Lâm Thao 17%P
2
O
5
,
Kaliclorua 60K
2
O.
- Giống: Việt lai 20
Giống lúa lai đầu tiên hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam nghiên
cứu, lai tạo và phát triển được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công
nhận là giống quốc gia vào năm 2004. Tác giả của giống lúa Việt Lai 20 là
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoan, Trưởng bộ môn Di truyền chọn giống
cây thuộc Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội. Giống lúa lai này đâng
được ưa chuộng rộng rãi không chỉ ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ

2
O
5
+ 90 K
2
O
CT2: 45N + 90P
2
O
5
+ 90 K
2
O
CT3: 90N + 90P
2
O
5
+ 90 K
2
O
CT4: 135N + 90P
2
O
5
+ 90 K
2
O
*Sơ đồ thí nghiệm
3.3.2. Quy trình thí nghiệm
Bón lót : 100% P

- Tích luỹ chất khô (g/m
2
đất/ngày): các khóm lúa rửa sạch, sấy khô ở
800
0
C (trong 48 giờ) cho đến khi khối lượng không đổi. Xác định lượng chất
khô tích lũy (g/m
2
đất)
3.4.3. Các chỉ tiêu sâu bệnh hại và tính chống chịu
Theo dõi sâu, bệnh hại chính trên các ô thí nghiệm, sau đó phân cấp
cho điểm theo thang điểm của Viện lúa quốc tế (IRRI)
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
23
1
Sâu đục thân
Sâu cuốn lá nhỏ
1
3
5
7
9
1-10% cây bị hại
11-20% cây bị hại
21-35% cây bị hại
36-50% cây bị hại
51-100% cây bị hại
2 Bệnh bạc lá
0

- Tỷ lệ hạt chắc (%) = Số hạt chắc x 100/ tổng số hạt (C)
- Khối lượng 1000 hạt (D)
- Năng suất lý thuyết: (NSLT) = A x B x C x D x 10
-4
(tạ/ha)
- Năng suất thực thu: tính trên toàn bộ ô quy ra tạ/ha
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
24
3.5. Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả thí nghiệm được xử lý theo phương pháp phân tích phương
sai (ANOVA) bằng chương trình IRRISTART 4.0 và EXCEL.
Sinh viên: Nguyễn Vi Sơn
Lớp KSNH K9
25

Trích đoạn Ảnh hưởng của liều lượng phân Đạm đến động thái và tốc độ tăng trưởng số nhánh của lúa Việt Lai 20 qua các giai đoạn theo dõ Chỉ số diện tích lá ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẾN TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠ ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÚA VL PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status