BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VŨ THỊ MAI
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ðẠM BÓN ðẾN SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA
NGẮN NGÀY TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM VĂN CƯỜNG
luận văn này.
Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận
ñược những ý kiến ñóng góp của thầy cô giáo, ñồng nghiệp, bạn ñọc và xin
trân trọng cảm ơn.
Tác giả luận văn VŨ THỊ MAI
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Mục lục iii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình viii
1 MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Tình hình sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới và VN 3
2.2 ðặc ñiểm dinh dưỡng ñạm của cây lúa 14
2.3. Hiệu suất bón ñạm (HSBð) Những nghiên cứu liên quan ñến
HSBð, và tính trạng liên quan ñến HSBð? 19
2.4 Những nghiên cứu về nâng cao HSBð 30
hệ số kinh tế của các giống lúa 79
4.14 Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến hàm lượng ñạm trong lá
và HSBð cho cholophyll của các giống lúa 81
4.15 Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón hiệu quả ñầu tư các giống lúa
trong 2 mùa vụ 83
4.16 Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến tình hình sâu bệnh hại
các giống lúa trong 2 mùa vụ 85
4.17 Tương quan giữa năng suất hạt và một số yếu tố liên quan ở các
giai ñoạn sinh trưởng 85
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 95
5.1 Kết luận 95
5.2 ðề nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
v
DANH MỤC VIẾT TẮT
CGR: tốc ñộ sinh trưởng cây trồng
CV%: sai số thí nghiệm
DM: khối lượng chất khô tích luỹ
LAI: chỉ số diện tích lá
LSD
(0,05)
: xác xuất ở mức ý nghĩa 95%
P1000: khối lượng 1000 hạt
NAR: hiệu suất quang hợp thuần
NSLT: năng suất lý thuyết
NSTL: năng suất thích luỹ
trồng (CGR) của các giống lúa qua các giai ñoạn sinh trưởng 58
Bảng 7 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến hiệu suất quang hợp
thuần (NAR) của các giống lúa qua các giai ñoạn sinh trưởng 62
Bảng 8 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến chỉ số ñộ dày lá (SLA)
của các giống lúa qua các giai ñoạn sinh trưởng 66
Bảng 9 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến diện tích và khối lượng
lá ñòng thời kỳ trỗ của các giống lúa 70
Bảng 10 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến khối lượng bông của
các giống lúa qua các giai ñoạn sinh trưởng 72
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
vii
Bảng 11 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành
năng suất của các giống lúa 75
Bảng 12 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón năng suất thực thu và hiệu
suất bón ñạm cho năng suất của các giống lúa 77
Bảng 13 : Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến năng suất sinh vật học
và hệ số kinh tế của các giống lúa 79
Bảng 14: Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến hàm lượng ñạm trong
lá và HSBð cho cholophyll của các giống lúa 82
Bảng 15: Ảnh hưởng của liều lượng ñạm bón ñến hiệu quả ñầu tư của
các giống lúa 84
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
viii
DANH MỤC HÌNH
khẩu mà còn trở nên thiếu lương thực trong tương lai.
Theo Gislum và cs, (2005)[50]; Sheehy và cs, (2004) thì năng suất lúa
của châu Á hiện nay trung bình là 5,3 tấn/ha, bằng 60% tiềm năng năng suất
lý thuyết có thể ñạt ñược trong ñiều kiện khí hậu của châu lục. Do vậy, việc
ứng dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất như: cải tạo giống, cải tiến biện pháp
kĩ thuật canh tác và với chế ñộ dinh dưỡng hợp lý, ñặc biệt là dinh dưỡng
ñạm sẽ góp phần quan trọng nâng cao năng suất lúa.
Bên cạnh ñó, nước ta là một nước nông nghiệp và cũng là một nước
nhập khẩu phân bón. Ngành phân bón trong nước mới chỉ ñáp ứng một lượng
nhỏ nhu cầu phân bón của sản xuất nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu
khoảng 90-93% phân ñạm, 100% Kali, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK
với tổng số trên 3 triệu tấn/năm. Lượng phân bón sử dụng tăng trung bình 9%
mỗi năm trong 15 năm qua và trong thời gian tới có xu hướng tăng khoảng
10% mỗi năm. Vì vậy khi chúng ta làm nâng hiệu suất sử dụng ñạm
(kilogram lúa ñược tạo ra trên kilogram ñạm ñược bón) thêm 5% sẽ tiết
kiệm ñáng kể lượng phân bón, giảm ô nhiễm môi trường, giảm sâu bệnh, tăng
sản lượng, phẩm chất lúa gạo và tăng hiệu quả kinh tế.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
2
Các nghiên cứu trước ñây trên thế giới và Việt Nam ñã cho thấy có
nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và hiệu suất
sử dụng ñạm của cây lúa như: ñiều kiện sinh thái, môi trường, biện pháp canh
tác (cách chăm sóc, liều lượng phân bón, thời kỳ bón phân, cách bón…), các
gen trong cây.
Vậy, khi hàm lượng ñạm bón cho cây thay ñổi làm ảnh hưởng ñến
ñặc ñiểm nông sinh học như thế nào ñể góp phần làm tăng năng suất và
hiệu quả sử dụng ñạm của cây lúa tại nước ta là một yêu cầu cấp thiết cần
ñược nghiên cứu.
nghệ sản xuất phân hoá học ñã khiến cho năng suất tăng gấp ñôi so với năng
suất của nền nông nghiệp truyền thống, chỉ dựa vào chăn nuôi.
Qua nghiên cứu người ta thấy khi giảm một nửa lượng phân ñạm trong
trồng trọt năng suất cây trồng giảm 22 lần nếu xét trong giai ñoạn ngắn và 25
- 30% trong trung hạn. Lợi nhuận nông trại giảm 40, thu nhập giảm 12%, tổng
sản lượng hoa màu giảm 40%. Do vậy công nghiệp chế biến giảm, xuất khẩu
nông phẩm giảm, ñể ñảm bảo tiêu dùng phải nhập khẩu khiến cho giá ngũ cốc
trên thị trường thế giới tăng 5% (Schmitz và Harmann, 1994).
Theo FAO: toàn thế giới năm 1960 sử dụng 10 triệu tấn phân ñạm, năm
1980 là 62,7 triệu tấn ñến năm 1990 là 150 triệu tấn. Về phân lân của những
năm 60 thế giới sử dụng 2,1 triệu tấn (P
2
O
5
) ñến năm 1990 là 40 triệu tấn.
Như vậy, về tổng thể không thể phủ nhận vai trò của phân hoá học trong thực
tế, ñây là nhu cầu quan trọng nhằm tăng tính sản xuất của ñất.
Hiện nay trên thế giới việc sử dụng phân bón rất biến ñộng, tuy nhiên
nơi sử dụng nhiều nhất vẫn là các nước Tây Âu và một số nước châu Á. Còn
ở Châu Phi, vùng Trung ðông và các nước Mỹ la tinh nhìn trung lượng phân
hóa học sử dụng còn thấp hơn nhiều mức bình quân thế giới.
Việc dùng phân ở châu phi rất không ñều nhau. Có những nước bón rất
cao lại bắt ñầu giảm xuống (Algiêri). Có những nước thập kỷ 60 không bón
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
4
phân song ñến thập kỷ 80 vào cuộc rất nhanh (Saudi arabica), năm 1990 nước
này bón ñến 500 kg NPK/ ha.
Ở Bắc Mỹ chỉ có 2 niên vụ (1994 - 1996) lượng bón có hơi giảm sút,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
5
năm 1992 – 1993 tăng lên 45% .
Phân hóa học ñặc biệt là phân ñạm ñã ñóng góp vai trò quan trọng
trong tăng năng suất cây trồng, phân bón ñã tăng ở các nước công nghiệp phát
triển: tại Mỹ ure tăng 11 lần, Pháp tăng 6 – 8 lần, Liên Xô cũ tăng 11 – 13 lần
các nước ñang phát triển như châu Phi tăng 2 lần, châu Mỹ la tinh tăng 2,5
lần, châu Á tăng 3 lần.
Bảng 1.2: Nhu cầu phân bón trên thế giới
ðơn vị: triệu tấn
Dinh dưỡng Năm 1987 Năm 1995
ðạm (tính theo N)
72 91
Lân (tính theo P) 15 18
Kali (tính theo K) 22 26
(Nguồn: Lê Văn Khoa, 2001)
Vào những năm 1900 mức tiêu thụ phân ñạm của thế giới là 2 triệu tấn,
50 năm sau lên tới 14 triệu tấn, năm 1978 là 100 triệu tấn, ñến năm 1982 là
130 triệu tấn, năm 2000 khoảng 180 triệu tấn. Về phân lân những năm 60 thế
giới sử dụng 21 triệu tấn (P
2
O
5
) ñến năm 1990 là 40 triệu tấn [30].
Hiệp hội phân bón quốc tế IFA cho biết trong giai ñoạn 5 năm tới nhu
cầu phân bón thế giới dự kiến sẽ ñạt 171,9 triệu tấn trong năm 2010/2011,
tăng 11,6% so với năm 2005/2006, tương ứng mức bình quân 2,2%/năm trong
5
vào năm 2010, ñạt 24,1 triệu tấn P
2
O
5
. Trung Quốc chiếm 40%
mức gia tăng sản lượng DAP kể trên.
- ðối với phân MOP: sản lượng phân kali (MOP) toàn cầu năm 2010
dự báo sẽ ñạt 71,3 triệu tấn, tăng mạnh so với 64,3 triệu tấn năm 2005. IFA
dự ñoán sản lượng phân kali (K
2
O) của thế giới có thể ñạt 41,4 triệu tấn vào
năm 2010, tăng so với mức 37,5 triệu tấn trong năm 2006, trong khi nhu cầu
tiêu thụ loại phân này dự kiến ñạt 30,8 triệu tấn vào năm 2010, tăng so với
27,1 triệu tấn năm 2006.
Theo IFA, hầu hết sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ phân bón ñều xuất phát
từ thị trường châu Á, trong ñó khu vực Nam Á và ðông Á chiếm hơn một nửa
tổng mức tăng này. Ngoài ta, các khu vực khác trên thế giói dự kiến mức tiêu
thụ tăng trưởng bình quân hàng năm: Mỹ la tinh và vùng Caribe (3%), Bắc
Mỹ (2,1%), ðông Nam Á (3,3%), ðông Âu và Trung Á (3%), châu ðại
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
7
Dương (2,1%), Tây Á và ðông Bắc Phi (1,9%). Nhu cầu phân bón của thị
trường châu Phi giai ñoạn 2006 – 2009 tăng 4,2% so với năm 2005/2006, thị
trường châu Âu giai ñoạn này tăng nhẹ.
2.1.2. Tình hình sử dụng phân bón ñối với cây lúa ở Việt Nam
Trong các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây lúa thì ñạm là yếu tố
hạn chế chủ yếu của năng suất. Mỗi năm nước ta sử dụng 1,202,140 tấn ñạm,
2
S), lượng bón thích hợp và kinh tế nhất là: 80 –
100 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O/ha cho cả 2 vụ. ðất phù sa cổ ít chua
(Dystric Fluvisol), các chất dinh dưỡng tổng số nghèo nhưng cân ñối, CEC
thấp thì lượng bón thích hợp và kinh tế nhất là 100 kg N - 90 P
2
O
5
– 60 kg
K
2
O /ha cho cả 2 vụ (Vũ Thị Ca, 2000)[37].
Kết quả ñiều tra trực tiếp 100 hộ tại Nông trường sông Hậu năm 2002, sau
ñó xử lý thống kê xác ñịnh ñược: Trên ñất phù sa sông Hậu lượng phân 118 kg
N, 77 kg P
2
O
5
, 86 kg K
2
O/ha là tối ưu ñể bón cho lúa Vụ hè thu, năng suất lúa
cao nhất là 45,19 tạ/ha, Bón 120 kg N, 84 kg P
2
O
2
O; vụ Hè thu là 60 - 70 kg N + 40 -
50 kg P
2
O
5
+ 30 – 40 kg K
2
O (Cục Trồng trọt, 2007)[39].
Các giống lúa yêu cầu lượng phân bón khác nhau, thường thì lúa lai
yêu cầu dinh dưỡng cao hơn lúa thuần. ðể ñạt ñược 7,5 tấn thóc giống lai cao
sản cần bón 150 kg N + 70 kg P
2
O
5
+ 120 kg K
2
O/ha; lúa thuần bón từ 80 –
100 kg N + 50 – 70 kg P
2
O
5
+ 60 – 80 kg K
2
O/ha (Nguyễn Văn Hoan,
2006)[22]. Nguyễn Như Hà, (2006)[16] khuyến cáo lượng phân bón cho
giống lúa chịu hạn CH5 là 90 kg N + 90 kg P
2
O
5
K
2
O
ðất phù sa sông Hồng
ðất bạc màu Phú Thọ
ðất nhiễm phèn Hải Phòng
ðất cát ven biển
100-120
79-90
80-100
79-90
30-40
20-25
60-80
25-30
2
11
0
14
Bảng 1.3. Liều lượng phân bón ñược nông dân sử dụng cho lúa trên một
số loại ñất ở miền Bắc Việt Nam
5
; 0 - 79 kg K
2
O/ha, ñất nhiễm phèn
trung bình là: 61 - 136 kg N; 24 - 93 kg P
2
O
5
; 0 - 80 kg K
2
O (Mai Thành
Phụng và cs, 2005)[12].
Như vậy có nhiều công trình nghiên cứu ñã xác ñịnh lượng phân bón
cho nhiều loại ñất ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, tuy nhiên người dân bón
phân không theo quy trình kỹ thuật, phân ñạm thường ñược sử dụng nhiều
hơn. Do bón phân mất cân ñối nên hiệu quả sử dụng phân bón thấp, gây ô
nhiễm môi trường.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
10
Vấn ñề khác khi tính lượng phân cần bón cho lúa thì hầu hết dựa vào
thí nghiệm ñồng ruộng với quy mô nhỏ. Mặc dù những thí nghiệm chỉ cung
cấp thông tin ở những ñịa ñiểm nhất ñịnh, nhưng dùng phép ngoại suy ñể tính
lượng phân cần bón trên ñồng ruộng của nông dân. Một sai số của phép ngoại
suy là ñất ñai ở khu vực nghiên cứu rất khác so với ñồng ruộng của nông dân
nên lượng phân khuyến cáo thường không ñáp ứng ñúng nhu cầu dinh dưỡng
của lúa.
Viện Nông hoá- Thổ nhưỡng ñã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
Hướng chung của 2 vụ ñều bón ñến mức 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón
trên mức 90N này năng suất lúa tăng không không ñáng kể . Theo Nguyễn
Thị Lẫm (1994) [19] khi nghiên cứu về bón phân ñạm cho lúa cạn ñã kết
luận: Liều lượng ñạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc ñịa phương
là 60N/ha. ðối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng ñạm
thích hợp từ 90- 120N/ha.
Theo Nguyễn Như Hà (1999) ảnh hưởng của mật ñộ cấy và ảnh hưởng
của liều lượng ñạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho
thấy: Tăng liều lượng ñạm bón ở mật ñộ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh
hữu hiệu.
Nói chung ở các ruộng cao sản với năng suất lúa là 5 tấn/ha thì có thể
lấy ñi từ ñất với lượng ñạm là 110 kg N. Theo De Datta và Buresh (1986) [46]
thì khi bón ñạm urê vào ñất, cây lúa sử dụng rất ít do tỷ lệ mất ñạm lớn ở thể
hơi NH
3
.
Do vậy mặc dù cây lúa ñược bón một lượng ñạm khoáng khá lớn,
lượng sử dụng ñạm từ ñất vẫn chiếm khoảng 50-80% hoặc còn cao hơn nữa .
Phần lớn lượng ñạm cung cấp cho cây lúa từ ñất ñược khoáng hóa từ các hợp
chất hữu cơ. Quá trình và tốc ñộ khoáng hóa chất hữu cơ chịu ảnh hưởng bởi
nhiệt ñộ, ñộ ẩm, chế ñộ nước, số lượng và chất lượng chất hữu cơ, tỷ lệ cấp
hạt sét và nhiều yếu tố khác .
Tuy vậy, trong ñất luôn luôn xảy ra hai quá trình thuận nghịch là
khoáng hóa các hợp chất hữu cơ có chứa ñạm và cố ñịnh các dạng ñạm vô cơ
dưới dạng hữu cơ cây trồng khó hấp thụ. Lượng ñạm khoáng bị cố ñịnh ở hữu
cơ có thể lên ñến 34gN/1kg C ở rễ và gốc lúa.
Phân ñạm có vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất và sản
lượng lúa Việt Nam. Hơn 2/3 lượng phân ñạm ở Việt Nam sử dụng bón cho
lúa (Trần Thúc Sơn, 1996) [27].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
60
thì lượng ñạm khoáng thích hợp ñể
ñạt năng suất cao và có hiệu quả kinh tế là N90-120; tỷ lệ NPK thích hợp
là 1: 0,5 : 0,5.
Tuy nhiên, khi bón với lượng ñạm quá cao thì năng suất chẳng những
không tăng lên, thậm chí còn giảm xuống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với
ñất phù sa sông Hồng khi bón lượng ñạm từ 80-100 kg N/ha thì hiệu suất
1kgN là 10-15 kg thóc ở vụ xuân và 6-9 kg thóc ở vụ mùa. Nếu bón trên 160
kg N/ha thì hiệu suất ñạm giảm rõ.
Trên ñất bạc màu, khi bón lượng ñạm từ 40-80 kg N/ha thì hiệu suất
1kg N là 10-13,5 kg thóc ở vụ mùa, bón trên 120 kg N/ha hiệu suất giảm
xuống còn 5-6 kg thóc/1 kg N (Phạm Tiến Hoàng, Trần Thúc Sơn, Phạm
Quang Hà, 1996),[28].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
13
*ðạm trong ñất lúa nước ở Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Trần Thúc Sơn thì hàm lượng ñạm tổng số trong
một số loại ñất lúa chính ở miền Bắc biến thiên khá rộng, từ 0,3-2,05g N/kg
ñất thùy thuộc vào loại ñất phát sinh và hàm lượng chất hữu cơ trong ñất.
Hàm lượng ñạm tổng số cao ở trên ñất phù sa không ñược bồi ñắp hàng năm
của hệ thống sông Hồng (1,25 - 2,05 g/kg ñất), thấp nhất ở ñất ven biển
(0,135 - 0,630 g/kg ñất).
Hàm lượng ñạm tổng số trên ñất trồng lúa ở cao nguyên Sơn La là
0,24%. ðất dốc tụ Bắc Thái hàm lượng ñạm tổng số biến ñộng từ 0,10 -
0,28%.
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [38] trong ñất Việt Nam, hàm lượng ñạm
thấp nhất là ñất bạc màu (0,042%) và cao nhất là ñất lầy thụt (0,62%), ñất có
hàm lượng ñạm trung bình là ñất phù sa sông Hồng (0,12%). Hàm lượng ñạm
phần ñạm của quá trình này do vi sinh vật sử dụng, phần còn lại giải phóng ra
cung cấp cho cây trồng. Tỷ lệ C/N là hết sức quan trọng trong quá trình này,
nó cho biết quá trình khoáng hóa xảy ra thuận lợi không, lượng ñạm khoáng
ñược tạo ra trong quá trình này. Giữa hàm lượng ñạm tổng số và hàm lượng
chất hữu cơ trong ñất lúa có mối quan hệ chặt chẽ. Tùy theo loại phát sinh mà
tỷ lệ C/N biến ñộng từ 7,0 - 11, 9.
Thời kỳ bón ñạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực
của phân ñể làm tăng năng suất lúa. Với phương pháp bón ñạm (Bón tập trung
vào giai ñoạn ñầu và bón nhẹ vào giai ñoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng
suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha.
Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân ñạm trên ñất phù
sa sông Hồng ñạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50- 75% tổng lượng ñạm,
lượng ñạm bón nuôi ñòng chỉ từ 12,5- 25%.
2.2 ðặc ñiểm dinh dưỡng ñạm của cây lúa
Trong số các nguyên tố ña lượng thiết yếu thì ñạm ñược xem là nguyên
tố quan trọng nhất ñối với cây lúa vì nó là thành phần cơ bản của protein -
chất cơ bản của sự sống, cần thiết cho quá trình sinh trưởng và hình thành
năng suất lúa, ñạm luôn là yếu tố hạn chế năng suất hàng ñầu trên tất cả các
loại ñất (De Data, 1981)[45]. Lúa cần ñạm trong suốt quá trình sinh trưởng
sinh dưỡng ñể tích lũy chất khô và ñẻ nhánh, ñiều này xác ñịnh số lượng
bông. ðạm góp phần tạo nên số hạt trong giai ñoạn phân hóa ñòng, tăng kích
thước hạt bằng giảm số lượng hoa thoái hóa và tăng kích thước vỏ trấu trong
suốt giai ñoạn làm ñòng, tích lũy hydratcacbon trong thân lá ở giai ñoạn trước
trỗ và trong hạt ở giai ñoạn vào chắc vì chúng phụ thuộc vào tiềm năng quang
hợp (Mae, 1997)[59].
Ngoài ra nó còn nằm trong thành phần diệp lục của lá, trong các vật
chất khô của cây trồng có chứa 1 - 5% ñạm. ðối với cây lúa ñạm là yếu tố
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………
15
16
lượng ñạm bón. Nếu bón 100 – 150 kg N/ha có thể tăng năng suất từ 10,34
lên 38,92 tạ/ha.
Phân tích các bộ phận non của cây trồng, người ta thấy trong các bộ
phận non hàm lượng ñạm nhiều hơn ở các bộ phận già. Hàm lượng ñạm trong
các mô non có từ 5,5 – 6,5%, vì vậy trong thực tế cây lúa cần nhiều ñạm trong
những thời kỳ ñầu.
Phân ñạm có tác dụng làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng hiệu
suất quang hợp, tăng tích luỹ chất khô,…ñối với lúa, cuối cùng làm tăng hệ số
kinh tế.
Tiềm năng năng suất của các giống lúa chỉ ñược thể hiện khi ñược bón
ñủ phân. Do ñó bón thừa ñạm cũng không tốt mà thiếu ñạm cũng không tốt.
Nếu bón thiếu ñạm thì cây lúa sẽ thấp, ñẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, hàm
lượng diệp lục giảm, lúc ñầu lá có màu vàng nhạt ở ngọn lá rồi dần cả phiến
lá biến thành màu vàng. Thiếu ñạm còn làm cho số bông và số hạt ít năng suất
bị giảm. Còn nếu bón thừa ñạm cây lúa sẽ hút nhiều ñạm làm tăng hô hấp,
tăng lượng gluxit tiêu hao. Vì thế gluxit tích luỹ do quang hợp tuỳ theo sự hút
ñạm. Hút nhiều ñạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh ñẻ vô hiệu
nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vóng sẽ dẫn ñến hiện tượng ñổ non, khả nằng
chống chịu kém và sẽ làm giảm năng suất một cách rõ rệt.
Yoshida, (1981)[33] cho biết khi bón tất cả số lượng ñạm cho từng thời
kỳ thì thời kỳ có hiệu quả nhất ñối với năng suất thóc là 10 ngày sau cấy.
Hiệu quả ñối với năng suất của mỗi gam ñạm mà cây ñã hút nói chung giảm
vào các thời kỳ sinh trưởng sau và có ñỉnh cao thứ nhì vào 40 ngày sau cấy
(tương ñương với thời kỳ làm ñòng).
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả S.Mitsui (1962)[78], Bùi Huy
ðáp (1980)[3], ðinh Dĩnh (1970)[5] và ðào Thế Tuấn (1980)[6] cho biết rằng
ở thời kỳ ñẻ nhánh, nhất là khi ñẻ nhánh rộ cây lúa hút nhiều ñạm nhất, thông
thường cây lúa hút 70% lượng ñạm cần thiết. ðây là thời kỳ hút ñạm có ảnh