1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, cây sắn (Manihot Esculenta Crantz) là cây trồng quan
trọng đứng thứ 3 sau cây lúa và ngô, đặc biệt là trên đất dốc. Nó là cây trồng
được gắn bó từ lâu đời với người nông dân. Trồng sắn có nhiều lợi ích như
cung cấp lương thực, thực phẩm, là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến, công nghiệp dệt dùng làm hồ sợi vải. Ngoài ra, củ và lá sắn còn cung
cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi, đồng thời sắn là cây trồng có giá trị xuất
khẩu lớn. Sắn có khả năng và cho năng suất nhất định trong điều kiện đất xấu
nhưng muốn đạt năng suất cao, ổn định và duy trì độ phì nhiêu của đất thì áp
dụng phương pháp canh tác bền vững trên đất dốc như trồng băng phân xanh,
trồng xen cây họ đậu với sắn, bón phân đầy đủ và cân đối là rất cần thiết.
Trong xu thế hiện nay, sự tồn tại của cây sắn ở một số vùng sản xuất đã
nói lên được tầm quan trọng của nó. Trên thực tế sản xuất, sắn được trồng chủ
yếu trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, điều kiện sản xuất khó khăn mà tại đó
các cây trồng khác phát triển kém, khi đó, cây sắn vẫn chiếm ưu thế. Hiện
nay, diện tích đất trồng sắn ở nước ta ngày càng bị thu hẹp do đất bạc màu,
sức ép tăng dân số…, người dân chỉ còn diện tích canh tác nhỏ. Do đó, họ
mong muốn có một phương thức canh tác thích hợp cho điều kiện khí hậu của
vùng. Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất
Châu Á về chọn tạo và nhân giống sắn. Tiến bộ này là do nhiều yếu tố mà yếu
tố chính là thành tựu trong chọn tạo và nhân giống sắn lai. Năng suất và sản
lượng của nhiều tỉnh đã tăng gấp đôi do trồng các giống sắn mới năng suất cao
và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững. Năm 2010, diện tích
canh tác các giống sắn mới toàn quốc hiện đạt khoảng 496.000 ha, trong đó có
giống KM98-7, năng suất trung bình đạt 17,2 tấn/ha, sản lượng đạt 8521,7
nghìn tấn (http://faostat.fao.org,2011) [33].
Giống KM98-7 không chỉ có tiềm năng năng suất cao mà còn có khả
năng thích ứng rộng với các điều kiện môi trường sinh thái: Có khả năng chịu
các công thức bón thúc đạm đối với giống sắn KM98-7 trong thí nghiệm
nhằm chọn ra các công thức cho năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng được
nhu cầu sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồng thời phù hợp
với điều kiện sinh thái ở Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núi
phía Bắc.
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- So sánh một số đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của giống sắn
KM98-7 với các mức bón thúc đạm khác nhau trong thí nghiệm.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và chất lượng
của các công thức thí nghiệm.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã
học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thức
cũng như kinh nghiệm trong sản xuất.
- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã
giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và
tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất.
1.4.2. Ý nghĩa trong sản xuất
Góp phần tìm ra các công thức bón thúc đạm có năng suất cao, chất
lượng tốt đưa vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh
Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nguồn gốc, phân loại, giá trị kinh tế cây sắn
2.1.1. Nguồn gốc
Theo một số tài liệu của CIAT và các nhà phân loại thực vật, đặc biệt là
công trình nghiên cứu rất đầy đủ của Rogers và Appan (1973) thì cây sắn có
tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc chi (Manihot), thuộc họ thầu
dầu (Euphorbiaceae), lớp 2 lá mầm, bộ ba mảnh vỏ (Euphorbiales). Đặc điểm
của họ thầu dầu thường là hay có mạch nhựa mủ. Tất cả các loài trong chi
Manihot đều có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 36. Rogers và Appan (1973) đã
xây dựng một bảng phân loại cho 98 loài, phân thành 17 nhóm. Sự nhận dạng
các loài và các nhóm dựa trên sự phân tích nhiều mặt của nhiều đặc điểm hình
thái ở các bộ phận trên mặt đất. Nhờ vào bảng phân loại trên, người ta đã lập
được một bảng nhận dạng các loài trong chi (Trần Ngọc Ngoạn,2007)[24].
2.1.3. Giá trị kinh tế
Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức
ăn gia súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột,
sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc từ các
sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột
ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính
(hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân
châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm, chất giữ ẩm cho đất.
Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân sắn
dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi
đun. Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm. Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi
tằm, nuôi cá. Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,
… Hiện tại, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi
thương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau,1991). Việt Nam là nước đứng
thứ ba trên thế giới về xuất khẩu tinh bột, sau Thái Lan và Singapore.
Về mặt giá trị dinh dưỡng, theo số liệu công bố của FAO, hàm lượng
dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100gam phần ăn được) như sau:
- Nước: 65,5%
- Protein: 1,0%
- Lipid (mỡ): 0,2%
dưỡng nhưng cần chú ý luộc kỹ để làm giảm hàm lượng HCN. Lá sắn đắng
không nên luộc ăn mà nên muối dưa hoặc phơi khô để làm bột lá sắn phối hợp
với các bột khác làm bánh thì hàm lượng HCN còn lại không đáng kể (Trịnh
Xuân Ngọ,Đinh Thế Lộc,2004) [21].
Sắn dễ trồng, hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh tế với
nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất để lấy ngắn nuôi
dài. Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụng hiệu quả tiền vốn, đất
đai, tận dụng tốt các loại đất nghèo dinh dưỡng. Sắn đạt năng suất cao và lợi
7
nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và trồng đúng quy trình canh tác sắn bền
vững. Sắn được nông dân ưu trồng vì có khả năng sử dụng tốt các đất đã kiệt
dinh dưỡng: Cho năng suất cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và sử dụng ít
nhân công, thời gian thu hoạch kéo dài nên thuận lợi cho rải vụ.
2.2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới
Sắn là cây trồng nhiệt đới, được trồng trên phạm vi rất rộng từ 30
0
B đến
30
0
N, ở 89 nước nhiệt đới thuộc Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á - Thái Bình
Dương. Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2010, diện tích sản xuất
sắn trên toàn thế giới là 18,46 triệu ha với năng suất bình quân đạt 12,44 tấn/ha
và tổng sản lượng đạt được là 229,54 triệu tấn (http://faostat.fao.org,2010) [33].
Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng tăng
trong giai đoạn 2001 - 2010, thể hiện ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên
thế giới giai đoạn 2001 - 2010
Năm
Diện tích
tấn/ha và sản lượng tăng thêm 1,72 triệu tấn. Là nhờ áp dụng các biện pháp
thâm canh cao, sử dụng giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt.
Trong giai đoạn năm 2003 - 2009, sản xuất sắn tăng cả diện tích, năng suất
và sản lượng. Diện tích tăng 8% (tương ứng 1,55 triệu ha), năng suất tăng 12,9%
(tương ứng 1,63 tấn/ha), sản lượng tăng 20% (tương ứng 48,14 triệu tấn).
Trong giai đoạn năm 2009 - 2010, sản xuất sắn giảm cả diện tích, năng suất
và sản lượng. Diện tích giảm 3,09% (tương ứng 0,59 triệu ha), năng suất giảm
1,58% (tương ứng 0,2 tấn/ha), sản lượng giảm 4,74% (tương ứng 11,44 triệu tấn).
Phổ thích nghi của sắn rộng nhưng giữa các châu lục có diện tích, năng
suất và sản lượng khác nhau.
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn các
châu lục trên thế giới năm 2010
Vùng trồng
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Châu Phi 11,87 10,22 121,36
Châu Á 3,89 19,21 33,20
Châu Mỹ 2,68 12,40 74,78
(http://faostat.fao.org, 2011)[33]
Qua số liệu ở bảng 2.2 cho thấy:
Châu Phi là châu lục có diện tích, sản lượng lớn nhất nhưng lại là châu
lục có năng suất thấp nhất (năng suất đạt 10,22 tấn/ha). Ở nơi này, sắn là
9
nguồn lương thực chính. Nó chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực của
người dân, bình quân khoảng 9,6 kg/người/năm.
Châu Á có diện tích lớn thứ hai và có năng suất cao nhất trên thế giới.
10
các vùng Đông Nam Á, nơi cây sắn đứng thứ 3 sau lúa và ngô (Trần Ngọc
Ngoạn,2007) [24]. Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh
tranh cây trồng. Vì vậy, giải pháp chính làm tăng năng suất bằng cách áp dụng
giống mới và các biện pháp kỹ thuật.
2.2.2. Tình hình sản xuất sắn trong nước
Đối với Việt Nam, sắn là một loại cây nhập nội được đưa vào trồng cuối
thế kỷ XVIII. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo
do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế
nông hộ. Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia súc
(22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi (Vũ Công
Hậu và Trịnh Thường Mai,1990)[7].
Ở nước ta trong 20 năm từ 1960 đến 1980, sắn được sản xuất nhiều. Sau
đó, giảm sút trong các năm từ 1980 đến 1990. Trong những năm cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, diện tích sắn nước ta ổn định tương đối khoảng 220 - 280
nghìn ha. Tuy nhiên, từ năm 2005 đến nay, diện tích sắn đã tăng đáng kể (xem
bảng 2.3).
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn
Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2001 292,3 12,01 3 509,2
2002 337,0 13,17 4 438,0
2003 371,9 14,28 5 308,9
2004 388,6 14,98 5 820,7
đây, sản xuất lúa ở nước ta phát triển tốt, lượng lúa gạo sản xuất ngày một
nhiều hơn, cho nên vai trò làm lương thực của sắn giảm dần. Ngược lại, ở các
tỉnh phía Nam và Nam Trung Bộ, sắn hiện nay trở thành loại cây cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Ở các tỉnh này, các sản phẩm chế biến
từ sắn như tinh bột, bột ngọt, tapioca, ethanol,… đã cung cấp cho thị trường
trong nước và một phần đã xuất khẩu ra thị trường thế giới. Một khối lượng
sản phẩm sắn được cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc (công
ty C.P, Charoen Pokphand, Cagill,…).
Một số vùng trồng sắn của nước ta có diện tích trồng sắn tương đối lớn.
Đứng đầu của cả nước là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung năm 2010
12
có tổng diện tích là 155.000 ha, năng suất đạt 168,2 tạ/ha với sản lượng bình
quân 2.607.600 tấn. Vùng có diện tích lớn đứng thứ hai là Tây Nguyên với
diện tích là 133.200 ha, năng suất 171,4 tạ/ha và sản lượng đạt 2.283.300 tấn.
Do khu vực Đông Nam Bộ sử dụng giống có năng suất cao và áp dụng những
tiến bộ khoa học hiện đại cơ giới hoá sản xuất ngành trồng sắn. Sắn vùng
đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích nhỏ nhất với 6.000 ha, sản lượng bình
quân 82.300 tấn. Ngoài ra, còn một số vùng trồng sắn với diện tích lớn đó là:
Trung du và miền núi phía Bắc, … (FAO, 2008). Trong những năm tới cùng
với vai trò của các sản phẩm từ sắn được nâng lên, công nghiệp chế biến sắn
phát triển, cây sắn trở thành một loại cây công nghiệp có nhiều tiềm năng phát
triển ở nước ta.
Toàn quốc hiện có 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công suất
khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác
tại hầu hết các tỉnh trồng sắn. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800 -
1200 nghìn tấn tinh bột sắn, trong đó, trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ
trong nước. Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát
và bột sắn. Thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Singapo, Hàn Quốc,…(Báo Hoàng Kim,2008)[9]. Năm 2009 đem đến kỳ
vọng sắn trở thành một ngành hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch đạt 573,8
khẩu, nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, sản xuất ethanol, quỹ đất…
Đầu tư nhà máy chế biến bio-ethanol là một hướng lớn triển vọng. Theo
“Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”,
quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007, với mục tiêu: Phát triển
nhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một
phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng
lượng và bảo vệ môi trường (Báo Hoàng Kim,2008) [9]. Nhu cầu sắn cho sản
xuất ethanol rất lớn. Để sản xuất 100 triệu lít ethanol cần trung bình 250.000
tấn sắn lát khô, quy ra khoảng 600.000 tấn củ tươi. Theo đề án phát triển
nguyên liệu ethanol sinh học đến năm 2015 thì Việt Nam cần 750 triệu lít
ethanol, tương đương 4,2 triệu tấn sắn tươi, chiếm 42% sản lượng sắn cả
nước. Việt Nam hiện có 6 nhà máy sản xuất ethanol công xuất lớn trên 100
triệu lít/năm (Nguyễn Quốc Huân,2011) [10].
Những yếu tố cơ bản tạo nên sự đột phá về năng suất của Việt Nam
trong những năm vừa qua là do:
14
1. Toàn quốc hiện có 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công
suất đạt 2,2 - 3,8 triệu tấn củ tươi/năm tạo thuận lợi cho sản xuất sắn.
2. Các giống sắn mới (KM94, LM98-5, KM98-1, KM140, KM98-7) có
năng suất bột cao gần gấp đôi so với các giống sắn địa phương, mang lại năng
suất và lợi nhuận cho người trồng sắn.
3. Sắn Việt Nam có nhu cầu thị trường xuất khẩu và tiêu thụ lớn đứng
thứ 3 trên thế giới sau Thái Lan và Indonesia.
4. Sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với điều kiện sinh
thái, kỹ thuật nông hộ. Nông dân Việt Nam tích cực áp dụng giống mới và
tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất.
Tình hình sản xuất với tầm nhìn 2020, chính phủ Việt Nam chủ trương
đẩy mạnh việc sản xuất sắn ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển.
Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn tại Việt Nam dự báo thuận lợi và
có thế cạnh tranh cao một số mặt hàng: bio-ethanol, bột ngọt, thức ăn gia
2006 4,1 9,73 39,9
2007 3,8 9,89 37,6
2008 4,1 10,5 43,3
2009 3,9 14,46 56,4
2010 3,9 14,6 56,9
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011)
Qua bảng 2.4 cho thấy, diện tích trồng sắn trong thời gian qua không
tăng lên chỉ dao động trong khoảng 3,8 - 4,1 nghìn ha. Nhưng năng suất sắn
tăng lên qua các năm (năm 2010, tăng 42,6%, tương ứng với 17 tấn/ha so với
năm 2006).
Chính sách phát triển sắn của tỉnh chú trọng tăng năng suất thông qua
đầu tư giống năng suất cao, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến. Bên
cạnh đó, điều kiện khí hậu Thái Nguyên thuận lợi cho cây sắn phát triển tốt
như: Mưa nhiều với tổng lượng mưa 1500 - 1700 mm/năm; nhiệt độ trung
bình không quá lạnh từ 17 - 29
0
C.
2.3. Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới
2.3.1. Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng sắn trên thế giới
Trên thế giới, công tác nghiên cứu phân bón sắn được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả R.Howeler
(R.H.Howeler, 1985) [36] cho thấy, sắn là cây trồng có tiềm năng sinh học cao,
sau một năm trồng, năng suất củ khoảng 15 tấn củ tươi và 15 - 18 tấn thân lá.
Cây sắn lấy đi một lượng dinh dưỡng rất lớn. Tính trung bình để đạt 1tấn củ/ha
cây lấy đi từ đất 4,5kg N; 2,5kg P
2
O
5
; 7,5kg K
2
; 220kg K
2
O; 47kg MgO; 143kg
CaO; 19kg S; 1090g Mn; 660g Zn; 80g Cu; 200g B.
Qua số liệu trên, chúng ta đã thấy rằng cây sắn là cây trồng có khả năng hấp
thu dinh dưỡng ở điều kiện đất xấu song nhanh chóng dẫn đến đất mất khả năng
sản xuất.
Theo các tác giả Nijod (1935), Cours (1953), Dufournet và Goarin (1957),
Kanapathy (1976) nếu năng suất ở trong giới hạn 20 - 60 tấn/ha thì tính trung
bình có thể ước lượng 1 tấn củ/ha huy động 4,5kg N; 2,5kg P
2
O
5
; 7,5kg K
2
O;
2,5kg CaO và 1,5kg MgO [1].
Theo Paula và các cộng sự (1983), nếu năng suất đạt 33,9 tấn/ha thì tính
trung bình 1 tấn củ/ha cây huy động 16,1kgN; 1kg P
2
O
5
; 5,3kg K
2
O; 1,6kg
CaO và 1,2kg MgO, nhưng khi năng suất đạt 27,6 tấn củ/ha thì 1 tấn củ/ha
cây cần 10kgN; 0,87kg P
2
O
5
mạnh. Bên cạnh đó, lân cũng là yếu tố dinh dưỡng hết sức quan trọng, đứng
sau kali và đạm, nhưng cũng không thể thiếu được vì nó thúc đẩy sự ra rễ,
tăng khả năng hút đạm…
Các thí nghiệm ở Ấn Độ cho thấy, khi bón 90kg N, 90kg P
2
O
5
, 180kg
K
2
O, năng suất sắn tăng 92%. Nhưng khi bón 120kg N, 150kg P
2
O
5
, 170kg
K
2
O, năng suất chỉ đạt 34%. Như vậy, tỷ lệ N:P:K cho sắn nơi này là 1:1:2.
Tuy nhiên trong thực tế, sản xuất sắn chủ yếu trên đất dốc nên vận
chuyển một lượng lớn phân chuồng là hết sức khó khăn, đòi hỏi gia công
lao động nên hiệu quả sản xuất thấp. Vì vậy, sử dụng phân hữu cơ tại chỗ
cho sắn là rất cần thiết. Dùng nguồn thân lá cây phân xanh và một số cây
trồng xen với sắn vừa có tác dụng che phủ đất, chống xói mòn vừa tăng thu
nhập từ cây trồng xen.
Theo nghiên cứu của tiến sĩ Howeler (1992) ở Indonesia cho thấy: Trồng
xen với lúa nương, đậu, ngô, đỗ với sắn làm giảm xói mòn 12%. Năng suất
trồng xen cây phân xanh khá cao và ổn định, thường đạt 11 - 16,5 tấn/ha.
18
2.4. Tình hình nghiên cứu sắn trong nước
2.4.1. Tình hình nghiên cứu phương thức trồng xen cây trồng khác với sắn
trồng lạc: 0,40 m x 0,10 m x 1 hạt. Khoảng cách trồng sắn: 1m x 1m hoặc 1,2
x 0,8m. Tổng lượng phân bón cho cả 2 cây trồng trên 1 ha là 15-20 tấn phân
hữu cơ + (40 - 60)kg N + 40kg P
2
O
5
+ 80kg K
2
O. Trong đó, bón cho cây sắn
10-15 tấn phân chuồng + 70%N + 30%P
2
O
5
+50%K
2
O/ha và bón cho cây lạc
5 tấn phân chuồng + 30%N + 70%P
2
O
5
+50%K
2
O/ha.
19
Theo (Trịnh Phương Loan và ctv,1998) [20], đã kết luận: Mô hình trồng
sắn xen lạc nhờ có sự che phủ của lạc nên đã hạn chế được khả năng rửa trôi
đất do mưa, vì vậy lượng đất mất đi thấp hơn hẳn so với sắn trồng thuần. Sản
phẩm chất hữu cơ từ thân lá lạc được hoàn trả lại cho đất nên đã góp phần duy
trì độ phì nhiêu của đất trồng sắn. Công thức trồng sắn xen lạc đạt hiệu quả
kinh tế cao nhất và đất bị cuốn trôi ít hơn so với sắn trồng thuần hoặc sắn xen
Trước những năm 1980, các nghiên cứu về dinh dưỡng sắn còn ít, nước ta
có một số tài liệu điều tra về giống sắn và có một số thí nghiệm cũng như trình
diễn nhỏ thu được 60 - 80 tấn củ tươi/ha, khi trồng sắn có bón phân xanh, phân gia
súc kết hợp bón phân vô cơ và tưới nước.
Theo (Hoàng Minh Châu,1998) [1] cho thấy, đất trồng sắn cho năng
suất tối hảo khi có pH = 4,5 - 7,5; Al trao đổi < 80% lượng bão hòa; lân hữu
dụng > 5ppm; Ca trao đổi > 0,25 mep/100g đất khô; K trao đổi > 0,17
mep/100g đất khô; độ ẩm < 0,5 mmhos/cm; Na trao đổi < 2,5% lượng bão
hòa; Zn và Mn hữu dụng > 1ppm và 5 ppm; Sulfate-S lớn hơn 8ppm.
Kết quả nghiên cứu của (Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh,1998) [25]
cho thấy: Hậu quả của tập quán sản xuất sắn độc canh nhiều năm đã làm cho
đất mất sức sản xuất. Sự thoái hóa đất dẫn đến độ chua của đất tăng, hàm lượng
mùn trong đất giảm kéo theo độ phì, lý tính hóa tính của đất bị suy giảm.
Theo kết quả nghiên cứu của (Trần Công Khanh và Nguyễn Văn Long ,
1998) [15], cho thấy: Bón phân NPK cân đối cho sắn có hiệu lực rõ rệt so với
không bón phân hoặc bón mất cân đối, đồng thời ở các công thức bón cho
1ha: 160kg N + 80kg P
2
O
5
+ 100kg K
2
0 và 120kg N + 80kg P
2
0
5
+ 160Kg K
2
0
đem lại hiệu quả cao nhất trên đất nâu đỏ ở Bình Long.
O]/ha và [160kg N + 80kg P
2
O
5
+ 160kg
K
2
O]/ha với tỷ lệ bón kết hợp giữa N; P; K là 2: 1: 2.
Một số công trình nghiên cứu thực hiện tại miền Bắc Việt Nam trên đất
đỏ vàng của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một số địa điểm
khác trên ruộng của nông dân (Đỗ Thị Thanh Ren,2011) [28] cho thấy rõ phản
ứng của cây sắn với N và K. Trong các nguyên tố đa lượng thì K là yếu tố hạn
chế năng suất sắn. Thí nghiệm bón N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàng của Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thì năng
suất sắn vẫn cao, nhưng khi bón N, P mà không bón K năng suất sắn giảm.
Một thí nghiệm khác tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên khi bón tổ
hợp N; P; K trên đất bạc màu có độ dốc (Nguyễn Duy Hoàng,2004) [8] cho
thấy công thức bón 80kgN + 40kgP
2
O
5
+ 80kgK
2
O/ha cho sắn đạt năng suất
thực thu cao và ổn định nhất.
Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân
hữu cơ làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hoà được chế độ nhiệt và ẩm
độ trong đất, dung tích hấp thu của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổi
ion và khoáng chất của đất được tốt hơn. Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyển
lân từ dạng khó tiêu thành dạng dễ tiêu cho cây trồng (Nguyễn Thế Hùng,2001)
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 3/2011 - 1/2012
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí trên đất sa thạch, đất đồi trồng sắn
lâu năm tại Trung tâm thực hành thực nghiệm, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển của giống sắn tham gia thí
nghiệm (tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá, tuổi thọ lá).
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (số củ/gốc,
chiều dài củ, đường kính củ, năng suất củ tươi).
- Nghiên cứu chất lượng của giống sắn ở các công thức bón đạm khác
nhau (tỉ lệ chất khô, năng suất củ khô, tỷ lệ tinh bột, năng suất tinh bột).
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí gồm 12 công thức, 3 lần nhắc lại, chia ô thí
nghiệm theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) để thử nghiệm 4 mức
N (0, 20, 40 và 80 kg/ha) ở 2 lần bón (sau trồng 45 ngày và 90 ngày).
- Khoảng cách trồng: 1m x 0,8m. Mật độ trồng: 12500 cây/ha.
- Diện tích ô thí nghiệm: 6m x 4m = 24m
2
/CT
- Diện tích thí nghiệm: 24m
2
x 12 x 3 = 864m
2
24
* Sơ đồ thí nghiệm
Đơn vị tính: kg/ha
TT CT
Thúc lần 1
(45 ngày
sau trồng)
Thúc lần 2
(90 ngày
sau trồng)
TT CT
Thúc lần 1
(45 ngày
sau trồng)
Thúc lần 2
(90 ngày
sau trồng)
1 N
0-0
0 0 7 N
2-2
40 40
2 N
0-1
0 20 8 N
2-3
40 80
3 N
0-2
0 40 9 N
3-0
80 0
2
O.
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân khi trồng
+ Bón thúc lần 1 sau trồng 45 ngày: N + 1/2K
2
O, kết hợp làm cỏ lần 1
và vun cho sắn.
+ Bón thúc lần 2 sau trồng 90 ngày: N + 1/2K
2
O, kết hợp làm cỏ và vun
cao cho sắn.
3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Theo dõi sinh trưởng:
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Cố định bằng cọc/cây/ô thí nghiệm
theo đường chéo góc, 10 ngày đo chiều cao cây 1 lần lấy số liệu trung bình ở
mỗi giai đoạn sinh trưởng.
- Tốc độ ra lá: Tiến hành trên 5 cây đã đo chiều cao, 10 ngày đếm số
lá mới ra một lần, dùng phương pháp đánh dấu lá để biết số lá mới ra lấy số
liệu trung bình.
- Tuổi thọ lá: Theo dõi 5 cây/ô thí nghiệm theo phương pháp đánh dấu
lá. Tuổi thọ lá tính từ khi lá non phát triển đầy đủ khi lá chuyển hoàn toàn
sang màu vàng sau đó lấy số liệu trung bình.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống sắn tham gia thí nghiệm:
Theo dõi một lần trước khi thu hoạch, theo dõi 5 cây theo đường chéo
góc, đo đếm lấy số liệu trung bình.
+ Chiều cao cuối cùng: Đo chiều dài thân chính + chiều dài phân cành.
+ Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến ngọn lá chưa xoè.
+ Đường kính gốc dùng thước kẹp panme đo cách gốc 15cm.
+ Tổng số lá trên cây: Đếm tổng số lá (sẹo lá)/5 cây đã đánh dấu.
* Các yếu tố cấu thành năng suất: