Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7 9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN - Pdf 13

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ được viết tắt
CIMMYT International Maize and Wheat inprovementcentre
(Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa Mỳ Quốc Tế)
cs Cộng sự
CSDTL Chỉ số diện tích lá
CV Coefficient of variation
(Hệ số biến động)
FAO Food Agriculture Oganization
(Tổ chức Nông Lương Thực)
LSD Leat significant difference
(Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa)
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
USA Unitead State Depatment of Agriculture
(Bộ Nông Nghiệp Mỹ)
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu thị phần giống ngô lai ở Việt Nam
Biểu đồ 4.1. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7-9 lá đến tốc độ tăng trưởng
chiều cao cây của giống LVN99, vụ đông 2011
4
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, góp
phần nuôi sống 1/3 dân số trên thế giới. Cho đến nay ngô đứng thứ 3 sau lúa mỳ và lúa
nước về diện tích, đứng đầu về năng suất và sản lượng (FAO, 1995) [32]. Ngô là cây trồng
giúp loài người giải quyết nạn đói thường xuyên bị đe doạ (Nguyễn Hữu Lộc, 1969) [12].
Vào cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng về ngô lai đã tạo nên các thành tựu kỳ diệu ở
các châu lục, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Ý Đi đôi với việc áp dụng ưu

nước trong khu vực, giá thành cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Lượng ngô dùng
cho chăn nuôi còn chưa được đáp ứng đủ. Để góp phần làm giảm những hạn chế trên cần xác
định đúng những giống ngô lai mới có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái
của từng vùng, cần hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sinh trưởng, phát triển, các yếu tố
cấu thành năng suất với năng suất để có những hướng cụ thể từ khi chọn vật liệu lai tạo
giống đến sử dụng các biện pháp canh tác phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng của từng
giống, tại mỗi vùng sinh thái.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
lượng đạm bón vào thời kỳ 7 - 9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99,
vụ Đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN“.
5
5
6
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Xác định ảnh hưởng của liều lượng đạm bón vào thời kỳ 7 - 9 lá đến sinh trưởng và
năng suất của ngô. Trên cơ sở đó đề xuất mức đạm thích hợp nhằm tăng năng suất cho
giống ngô LVN99 tại trường ĐHNL Thái Nguyên.
1.2.2. Yêu cầu
- Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thờ kì 7 - 9 lá đến sinh trưởng của giống ngô lai
đơn LVN99.
- Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kì 7 - 9 lá đến năng suất và hiệu quả kinh tế
của giống ngô lai đơn LNV99.
- Xác định lượng đạm phù hợp nhất bón vào giai đoạn 7 - 9 lá cho giống ngô
LVN99.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Giúp cho sinh viên củng cố được những kiến thức đã học, đồng thời gắn liền với
thực tiễn giúp cho mỗi sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và tổ
chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất.

Do nhu cầu về thị trương ngô ngày càng tăng không chỉ ở trong nước
mà cả trên thế giới nên việc nâng cao năng suất chất lượng ngô là một bài
toán khó đang đi tìm lời giải. Đã có rất nhiều giải pháp mới được đưa ra để
giải quyết vấn đề trên như lai tạo giống mới, nghiên cứu tăng mật độ trồng
trên một diện tích,… nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn bởi
nếu chỉ có giống tốt, mật độ trồng hợp lý, điều kiện ngoại cảnh thích hợp mà
không có một chế độ canh tác hợp lý thì sẽ không mang lại hiệu quả cao.
7
7
8
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và yêu cầu thực tiễn chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài này.
2.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng nhiệt đới, được trồng phổ biến trong khoảng vĩ độ 30-55.
Ngô thích hợp với thời tiết ấm, nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng
mạnh là từ 21-27
o
C. Khi nhiệt độ dưới 19
o
C ngô sinh trưởng phát triển chậm lại.
Lượng mưa thích hợp nhất cho ngô trong khoảng 600-900 mm/năm. Ngô là cây
có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nước ta trồng vụ đông xuân và hè thu ở
miền Nam, vụ xuân, vụ đông ở miền Bắc. Cây ngô không kén đất, do vậy có thể
trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song thích hợp nhất là đất trung tính
(pH từ 6,0-7,2), tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn và dinh dưỡng.
Ngô là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới. Bên
cạnh giá trị lương thực, cây ngô còn là cây thức ăn cho gia súc quan trọng 70 %
chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô. Cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ
chua rất tốt cho chân nuôi gia súc lớn, đặc biệt là bò sữa.

Năm
Ngô Lùa mì Lúa nước
Diện
tích
(triệu
ha)
Năng
suất
(tấn/
ha)
Sản
lượng
(triệu
tấn)
Diện
tích
(triệu
ha)
Năng
suất
(tấn/
ha)
Sản
lượng
(triệu
tấn)
Diện
tích
(triệu
ha)

năng suất ngô trên thế giới đã tăng 1,83 lần trong vòng 30 năm (1960-1990), nhất là các
nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, Trung Quốc, Brazil. Tình hình sản xuất ngô của một
số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 2.3.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010
Nước
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Mỹ 32,96 95,92 316,16
Trung Quốc 32,51 54,59 177,54
Brazil 12,81 43,74 56,06
Mexico 7,14 32,59 23,3
Ấn Độ 7,18 19,58 14,06
Italia 0,92 95,33 8,82
Đức 0,46 87,85 4,07
Hy Lạp 0,18 117,26 2,19
Israel 0,0029 283,91 0,084
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2011 [35])
Mỹ là một nước có sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổng sản lượng
ngô thế giới. Theo Rinke.E (1979) [38] việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ
năm 1930. Hiện nay 100% diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong đó hơn
90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình, 2009) [11]. Nhiều thí nghiệm ở Mỹ về các giống
ngô lai đơn đã cho năng suất đạt 25 tấn/ha/vụ. Người ta tính được mức độ tăng năng suất
ngô ở Mỹ trong giai đoạn 1930 - 1986 là 103 kg/ha/năm, trong đó sự đóng góp do cải tiến
10
10
11

Đông Á 136 252 85
Nam Á 14 19 36
Cận Sahara - châu phi 29 52 79
11
11
12
Mỹ la tinh 75 118 57
Tây và Bắc phi 18 28 56
(Nguồn: IPRI (2003)[36])
Thực tế cho thấy, nhu cầu ngô trên thế giới từ 1997 đến 2020 sẽ thay đổi rất lớn,
đặc biệt ở các nước đang phát triển. Trong đó Đông Á và cận Sahara - Châu Phi là hai khu
vực có mức độ thay đổi lớn nhất dự báo nhu cầu năm 2020 tăng 85% và 79%. Nguyên
nhân là do dân số thế giới tăng nhanh, nhu cầu sử dụng thực phẩm có nguồn gốc động vật
tăng đòi hỏi cần lượng ngô lớn dùng cho chăn nuôi. Vấn đề đặt ra là 80% nhu cầu ngô thế
giới tăng (từ 586 triệu đến 852 triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển. Trong khi
đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang
phát triển. Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình bằng cách
thúc đẩy sản xuất ngô trong nước phát triển.
Ngô lai là thành công kỳ diệu của nhân loại trong quá trình cải tạo giống cây trồng trên cơ
sở ưu thế lai. Hiện tượng ưu thế lai đã được Koelreuter miêu tả đầu tiên vào năm 1776, khi
tiến hành lai các cây trồng thuộc chi Nicotiana, Dianthus, Verbascum, Mirabilis và Datura
với nhau. Vào năm 1877, Charles Darwin sau khi làm thí nghiệm so sánh hai dạng ngô tự
thụ và giao phối đã đi tới kết luận: "Chiều cao cây ở dạng ngô giao phối cao hơn 19% và
chín sớm hơn 9% so với dạng ngô tự phối" (Hallauer và Miranda, 1981) [30]. Ngô là cây
điển hình nhất về sự thành công trong ứng dụng ưu thế lai - một thành tựu khoa học nông
nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Ngô lai đã làm thay đổi không những
bức tranh cây ngô trong quá khứ mà còn làm thay đổi kế hoạch của các nhà hoạch định
kinh tế, kỹ thuật và quản lý. Công tác nghiên cứu lai tạo giống ngô mới hiện nay cũng đang
bước sang giai đoạn mới, hứa hẹn nhiều triển vọng nhờ vào sự hiểu biết sâu sắc hơn và sự
hỗ trợ tốt hơn của khoa học kỹ thuật tiên tiến.

1975 267,6 10,42 278,4
1980 389,6 11,00 428,8
1985 392,2 14,90 584,9
1990 431,8 15,50 671,0
1995 556,8 21,30 1.184,2
2000 730,2 27,50 2.005,9
2005 1.052,6 36,00 3.787,1
2006 1.033,1 37,30 3.854,6
2007 1.096,1 39,30 4.303,2
2008 1.125,9 40,20 4.531,2
2009 1.086,8 40,80 4.431,8
2010 1.126,9 40,90 4.606,8
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011 [24])
Số liệu bảng 2.4 cho thấy, sản xuất ngô ở nước ta phát triển mạnh cả về diện tích,
năng suất, sản lượng. Năm 1990 cả nước trồng được 431,8 nghìn ha, tăng 164,2 nghìn ha
so với năm 1975, và 42,2 nghìn ha so với năm 1980. Mười năm sau diện tích trồng ngô đạt
730,2 nghìn ha, tăng 298,4 nghìn ha so với năm 1990. Năm 2010 diện tích trồng ngô của
nước ta là 1.126,9 nghìn ha, tăng 396,7 nghìn ha so với năm 2000. Trung bình 1 năm tăng
39,67 nghìn ha.
Đạt được kết quả đó một phần do chính sách đầu tư đúng đắn của nhà nước cho
nghiên cứu khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nhà khoa học Việt
Nam đã tạo ra nhiều giống ngô lai mới đưa vào sản xuất, tự túc được một phần hạt giống
ngô lai, tiết kiệm nguồn ngoại tệ cho đất nước. Các giống ngô lai có năng suất cao hơn các
giống ngô địa phương, lợi nhuận do mức tăng sản lượng của ngô lai đã đem lại cho quốc
gia hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. Một thành tựu Việt Nam đạt được đó là việc áp dụng các
biện pháp kỹ thuật trồng ngô vụ đông trên nền đất ướt đã mở ra hướng cơ cấu cây trồng
mới cho khu vực đồng bằng Bắc Bộ, mỗi năm tăng khoảng 200.000 tấn ngô đáp ứng nhu
cầu lương thực cho người và thức ăn cho chăn nuôi. Nhờ quy trình sản xuất ngô đông trong
14
14

triệu/tấn. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sản lượng không đáp ứng đủ nhu cầu
sử dụng. Trong khi đó ngô ngoại nhập có chất lượng cao, giá thành hợp lý. Theo tài liệu
của Bộ Nông nghiệp và PTNT mặt bằng giá thức ăn nông nghiệp sản xuất trong nước cao
15
15
16
hơn khu vực khoảng từ 10 - 12% và nhu cầu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam sẽ tăng lên tới
gần 19 triệu tấn vào năm 2015.
Theo tổng cục Hải quan Việt Nam, trước 1996, Việt Nam là nước xuất khẩu ngô
(khoảng 250.000 tấn). Từ 1997, Việt Nam trở thành nước nhập khẩu ngô (50.000 tấn năm
2001 và trên 300.000 tấn năm 2002). Giá trị nhập khẩu là 51,6 triệu đôla (2003), 17 triệu
đôla (2004). Hiện nay ngô chủ yếu được sử dụng cho thức ăn chăn nuôi với nhu cầu tăng
liên tục. Kế hoạch cho năm 2010 là mở rộng diện tích lên 1,2 triệu ha với năng suất trung
bình 4,5 - 5,0 tấn/ha và tổng sản lượng là 5,5 - 6,0 triệu tấn.
Tuy nhiên với việc giá nhiên liệu tăng thì giá ngô nhập về Việt Nam tương đương
giá ngô sản xuất trong nước. Như vậy, nếu Việt Nam không thay đổi phương thức sản xuất,
không chủ động thực hiện các biện pháp đồng bộ, chiến lược thì lượng ngô nhập khẩu
ngày càng tăng.
* Khó khăn trong sản xuất ngô của Việt Nam
- Năng suất ngô của nước ta còn thấp so với năng suất ngô trung bình của thế giới
(năm 2008 năng suất ngô của Việt Nam đạt 40,2 tạ/ha, bằng 78,7% năng suất ngô thế giới),
năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với tiềm năng, giá thành sản xuất ngô còn cao, cạnh
tranh gay gắt giữa ngô và các cây trồng khác.
- Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt ngày càng
nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện, sản xuất ngô ở nhiều nơi đang gây nên tình
trạng xói mòn, rửa trôi đất.
- Các giống ngô thực sự chịu hạn và các điều kiện bất thuận khác như đất xấu, chua
phèn, kháng sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thời cho năng xuất cao và ổn
định… nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác cho người sản xuất vẫn chưa nhiều.
Đặc biệt các biện pháp kỹ thuật canh tác, mặc dù đã được cải thiện nhiều song vẫn chưa

những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông tin trong
nghiên cứu, đánh giá sản phẩm một cách nhanh chóng, chính xác. Tăng cường trang thiết bị
phục vụ trong công tác nghiên cứu.
2.2.3. Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi Trung du Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.562.82 km
2
,
dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả
nước.
Với điều kiện đất đai phức tạp gây cản trở lớn trong việc sản xuất ngô của tỉnh. Đại
đa số các huyện còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trình độ thâm canh còn thấp. Điều kiện tự
nhiên phức tạp, hệ thống thuỷ lợi còn chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới cho nên sản
xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng còn nhiều hạn chế.
17
17
18
Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng các giống cũ,
giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp. Sau một thời gian với sự nỗ
lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, có sự tham gia tích cực của đội ngũ
các nhà khoa học, diện tích trồng ngô lai ngày càng tăng, thay thế dần các giống ngô địa
phương. Đến nay diện tích trồng ngô lai tăng mạnh, chiêm trên 90% diện tích mang lại
năng suất, sản lượng vượt trội trong sản xuất.
Bảng 2.6.Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)

cách nghiên cứu hàng loạt các cá thể giao phối và tự phối ở nhiều loài khác nhau như đậu
đỗ, ngô, ông nhận thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về
chiều cao, tốc độ nẩy mầm của hạt, số quả trên cây và cả sức chống chịu với điều kiện
bất thuận và năng suất hạt. Sử dụng ưu thế lai trong tạo giống ngô lai được nhà nghiên cứu
Wiliam, Janes Beal người Mỹ bắt đầu nghiên cứu từ năm 1876, Ông thu được những cặp
lai hơn hẳn các giống bố mẹ về năng suất từ 10 - 15%. Shull là nhà khoa học dẫn chứng và
nêu khái niệm về ưu thế lai khá hoàn chỉnh trên ngô. Năm 1904 ông đã tiến hành tự thụ
cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần và tạo ra các giống lai từ các dòng thuần này.
Năm 1913, nhà khoa học này đã chính thức đưa ra thuật ngữ “Heterosis“để chỉ ưu thế lai,
những công trình nghiên cứu về ngô lai của Shull đã đánh dấu bắt đầu thực sự của
chương trình chọn tạo giống ngô (Hallauer, 1988)[31].
Ngoài Shull, các nhà khoa học người Mỹ như East, Heyes cũng đã nghiên cứu ưu
thế lai ở ngô. Từ năm 1918, khi Jones đề xuất sử dụng lai kép trong sản xuất để giảm giá
thành hạt giống thì việc áp dụng ưu thế lai vào trồng trọt, chăn nuôi được phát triển
nhanh chóng. Ngô lai đơn đã đem lại năng suất và lợi nhuận cao cho người trồng ngô.
Nhờ việc sản xuất lượng lớn hạt giống với giá thành hạ nên đã tạo điều kiện cho cây ngô
lai phát triển mạnh mẽ ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến trên thế giới.
Năm 1966, Trung tâm cải tiến ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại
Mêxicô. Nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu và đào tạo về ngô, lúa mỳ tại các nước
đang phát triển. Trung tâm đã đưa ra giải pháp là tạo giống ngô thụ phấn tự do (OPV),
làm bước chuyển tiếp ngô địa phương và ngô lai. Hơn 30 năm hoạt động Trung tâm đã
góp phần đáng kể vào việc xây dựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể và
giống ngô trên 80 quốc gia trên thế giới. Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong
chọn tạo giống ngô lai cũng được chú trọng, theo điều tra của Bauman năm 1981, ở Mỹ
các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16% từ quần thể có
nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từ tổ hợp lai của các dòng ưu
tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng (Bauman,1981) [26].
19
19
20

2005, Lưu Văn Quỳnh và cs nghiên cứu tạo giống ngô lai cho vùng sinh thái đồng bằng
sông Cửu Long, bước đầu tạo ra 9 tổ hợp lai có triển vọng trong sản xuất[6].
20
20
21
Thông qua dự án "Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thu nhập cho Nông
dân vùng Đông Nam Châu Á" (AMNET), chúng ta đã thu thập được một số nguồn nguyên
liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực, bước đầu tạo ra một số tổ hợp lai có triển
vọng. Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng khá phong phú và được thử nghiệm trong điều kiện
sinh thái và mùa vụ nên các giống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế như: chịu hạn,
chống đổ, ít nhiễm sâu bệnh, chất lượng và màu dạng hạt tốt hơn. Điển hình là các giống dài
ngày, tỷ lệ 2 bắp/cây cao như: LVN98, LVN145; một số giống ngô chịu hạn tốt, thích nghi với
nhiều vùng sinh thái như: VN8960, LCH9, LVN61, LVN14.
Nhờ sự nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và ứng dụng ngô lai trong sản
xuất, đến năm 2007 giống ngô lai chọn tạo của Việt Nam chiếm 32,5% diện tích, giống
nước ngoài chiếm 52,3%. Số giống ngô có mặt trong sản xuất là 114 giống, trong đó 10
giống được ưa chuộng nhất là LVN10, CP888, B9698, CP999, C919, G49, B9681, P11.
LVN4, CP989 với diện tích chiếm gần 73% diện tích gieo trồng, riêng giống LVN10 chiếm
25%. Khác với lúa lai, các giống ngô lai chủ yếu sản xuất trong nước, đơn vị chính tham
gia sản xuất và cung ứng giống ngô lai là CP Group, Bioseed, ĐC, NSC, Syngenta,
Monsanto và Viện nghiên cứu ngô với thị phần được thể hiện ở biểu đồ 2.1.
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu thị phần giống ngô lai ở Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam, 2007)[1]
* Nghiên cứu về phân bón và bón đạm cho ngô trên thế giới
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt, có hệ
21
21
22
thống rễ chùm phát triển nên việc bón phân cho ngô có tác dụng tăng năng suất rất rõ rệt.
Theo Berzenny (1996) phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngô còn các yếu tố khác

Tỉ lệ N: P: K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
22
22
23
Bảng 2.7. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn
sinh trưởng (%)
Nguyên tố 6-7 lá Trổ cờ Thu hoạch
N 51,7 47,4 52,2
P2O5 8,3 9,8 19,1
K2O 40,0 42,7 28,7
(Nguồn: Tạ Văn Sơn, 1995) [18]
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ là hút kali
được hoàn thành sớm trước phun râu, còn các chất dinh dưỡng khác như đạm và lân còn
tiếp tục đến lúc ngô chín.
Để ngô có năng suất trung bình 60 tạ/ha ngô hạt, cây ngô lấy từ đất 155 kg N, 60 kg
P2O5, 115 kg K2O (tương đương 337 kg urê, 360 kg supe lân, 192 kg clorua kali).
Nghiên cứu của Ngô Hữu Tình (1995) [7] cho kết quả, trên đất phù sa sông
Hồng tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô đạt năng suất cao là 1: 0,35:
0,45 và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180N - 60P2O5 - 120K2O; ở Duyên
hải miền Trung: 120N - 90P2O5 - 60K2O; miền Đông Nam bộ: 90N - 90P2O5 - 30K2O;
Đồng bằng sông Cửu Long: 150N - 50P2O5 - 0K2O. Với ngô Đông trên đất phù sa sông
Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60 kg K2O/ha
(Phạm Kim Môn, 1991) [16].
Trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120N - 90P2O5 - 60K2O
cho năng suất 40 - 50 tạ/ha; 150N - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất 50 - 55 tạ/ha; 180N -
90P2O5 - 100K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha (Trần Hữu Miện (1987) [21]). Trên đất bạc
màu vùng Đông Anh - Hà Nội, giống ngô LVN10 có phản ứng rất rõ với phân bón ở công thức
bón 120N - 120P2O5 - 120K2O/ha và cho năng suất hạt gấp 2 lần so với công thức đối chứng
không bón phân. Cũng theo tác giả thì trên đất bạc màu, hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1 kg
N là 11,3 kg; 1 kg P205 là 4,9 kg; 1 kg K20 là 8,5 kg.

180 kg N - 80 kg P2O5 - 100 kg K2O/ha (giống LVN99) (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003)
[10].
Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh [5], lượng phân bón thích hợp cho ngô lai
trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ Đông Xuân là 10 tấn phân chuồng + 150-
180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn
lượng đạm từ 22,6 - 28,8 kgN/1 tấn ngô hạt; vụ Hè Thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg
N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 27,9 - 28,4
kgN/1 tấn ngô hạt (dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [22].
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suất ngô và giúp cải
thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988, 1994) để đảm bảo cho cây trồng có năng
24
24
25
suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học
(dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [22].
Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phân bón hợp lý,
bón cân đối giữa các nguyên tố. Bón phân cho ngô để đạt hiệu quả kinh tế cao phải căn cứ
vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng,
tình trạng của cây trên đồng ruộng, tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng
trọt và điều kiện khí hậu thời tiết.
Bón cân đối đạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa. Bội thu do bón cân đối
(trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất phù sa sông Hồng; 37,7
tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9 tạ/ha trên đất đỏ vàng. Xét về hiệu
quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngô trên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với
đất phù sa và đất đỏ vàng (Nguyễn Văn Bộ, 2007) [14].
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002)[2], từ năm 1985 đến nay tình hình sử dụng phân
đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là
23,9%/năm. Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm. Tỷ
lệ N: P2O5: K2O trong 10 năm qua đã cân đối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990,
1995 và 2000 là 1: 0,12: 0,05; 1: 0,46: 0,12 và 1: 0,44: 0,37. Lượng phân bón/ha cũng đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status