Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc vào thời kỳ 3 5 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99 vụ dông 2011 tại trường ĐHNL thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) thuộc chi Maydea, họ hòa thảo Gramineae là một trong
ba cây ngũ cốc quan trọng nhất cung cấp lương thực cho con người và là cây thức ăn
gia súc quan trọng nhất. Ngô là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến lương thực,
thực phẩm, dược phẩm và là nguyên liệu lý tưởng để tạo ra năng lượng sinh học. Ngô
là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị, thu về nhiều ngoại tệ cho nhiều quốc gia và
vùng lãnh thổ.
Với giá trị kinh tế cao và khả năng thích nghi rộng nên ngô được trồng hầu hết ở
các vùng trên thế giới: trải dài trên 90 vĩ tuyến (từ 40
0
vĩ Nam tới gần 55
0
vĩ Bắc), từ
độ cao 1 - 2m đến gần 4000m so với mặt nước biển. Năm 2010, diện tích trồng ngô
trên thế giới là 161,91 triệu ha, năng suất đạt 5,12 tấn/ha, và sản lượng là 844,41 triệu
tấn. Trong đó, Mỹ là nước có diện tích lớn nhất với 32,96 triệu ha, năng suất đạt 9,59
tấn/ha, sản lượng đạt 316,17 triệu tấn. Trung Quốc đứng thứ hai với diện tích 32,52
triệu ha, năng suất đạt 5,46 tấn/ha và sản lượng đạt 177,54 triệu tấn. (FAOSTAT,
2012) [30].
Ngô là thức ăn giàu năng lượng, là thành phần quan trọng trong hỗn hợp thức ăn
chăn nuôi gia súc, gia cầm vì thành phần chính của ngô là tinh bột và đường chiếm
tới 90% trọng lượng chất khô. Ở các nước phát triển, có nền chăn nuôi công nghiệp
hiện đại thì ngô đã trở thành thức ăn lý tưởng, họ sử dụng 70 - 90% lượng ngô cho
chăn nuôi như: Mỹ 89%, Rumani 69%, Hungari 90 %… Ngô có thể sử dụng dưới
dạng thức ăn xanh, ủ chua, thức ăn tinh hay tổng hợp đều rất tốt cho các loại gia súc
gia cầm đặc biệt là chăn nuôi lấy thịt, sữa, trứng…
Ở Việt Nam,Ngô được đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình,
1997) [22], là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa, được trồng cách đây

mì dẹt gọi la Asihmerha có thể bảo quản được từ 5-7 ngày trong thùng kín ở Ai Cập,
ở Mexico người ta dùng bột ngô nấu với nước vôi loãng để tạo thành đồ uống quen
thuộc như Atole Tâmlitos ngô còn được sử dụng làm nguyên liệu của ngành công
nghiệp lương thực- thực phẩm, công nghệ y dược và công nghiệp nhẹ để sản xuất
rượu, cồn, tinh bột, dầu, glucozơ, bánh kẹo Còn ở nước ta đồng bào miền núi
thường dùng ngô làm lương thực như mèn mén, bánh ngô, ngô bung, rượu ngô, ngô
luộc, xôi ngô
Với đặc tính thích ứng rộng trong các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai nên
cây ngô được trồng ở tất cả các vùng miền trong cả nước. Trong 10 năm gần đây, nhờ
có các chính sách khuyến khích của Nhà nước, nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng,
đặc biệt là cuộc cách mạng trong lĩnh vực giống ngô lai. Nhiều giống ngô lai cho
năng suất cao, phẩm chất tốt như Bioseed9681, Bioseed9999, ĐK888, Pioneer,
CP888, CP999, C919, G49, P11, B06, LVN10, LVN25, LVN4, LVN99… đã được
đưa vào sản xuất. Trong đó, có nhiều giống ngô có ưu thế lai cao được phát triển ở
2
3
nhiều vùng miền đã làm cải thiện đáng kể năng suất và sản lượng ngô trong nhiều
năm gần đây. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng ngô của nước ta ngày càng tăng nên
việc sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nên hàng năm nước ta vẫn phải
nhập khẩu một lượng lớn ngô cho tiêu dùng
Việc đưa các giống mới vào sản xuất là điểm mấu chốt để làm tăng năng suất
ngô ở nước ta nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Tuy nhiên, đối với mỗi loại
giống mới thì việc xác định biện pháp kỹ thuật trồng trọt hợp lý là rất cần thiết cho
mỗi điều kiện sinh thái khác nhau
Giống ngô lai LVN99 là giống lai đơn do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo năm
1995 theo phương pháp lai đỉnh và luân giao. Giống bắt đầu được đưa vào mạng lưới
khảo nghiệm ngô quốc gia từ năm 2000 và đưa vào sản xuất thử năm 2002. Giống
được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống chính thức năm 2004 cho vụ xuân,
thu và đông ở đồng bằng Bắc bộ; vụ hè - thu, thu - đông ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Ở nước ta đây là giống ngô mới, qua kết quả khảo nghiệm cơ bản từ năm 2004

quả kinh tế đối với giống ngô LVN99 tại Thái Nguyên cũng như một số tỉnh ở miền
núi phía Bắc
1.2.2. Yêu cầu
-Nghiên cứu ảnh hưởng của mức đạm bón thúc khác nhau ở thời kỳ 3-5 lá đến
sinh trưởng, phát triển và đặc điểm hình thái cũng như khả năng chống chịu của
giống ngô lai đơn LVN99
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón khác nhau ở thời kỳ 3-5 lá
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cũng như hiệu quả kinh tế của giông
ngô LVN99
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đối với học tập : giúp các học viên củng cố kiến thức, có điều kiện tiếp cận
với phương pháp nghiên cứu khoa học và áp dụng được những kiến thức lý thuyết đã
học vào thực tiễn sản xuất.
- Đối với nghiên cứu khoa học : Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học
về ảnh hưởng của mức đạm bón thúc vào thời kỳ 3-5 lá đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất và hiệu quả kinh tế đối với giống ngô lai đơn LVN99
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
4
5
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất mức phân đạm khác nhau bón thúc thích hợp
nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế đối với giống ngô LVN99 trên một đơn vị diện
tích.
- Kết quả nghiên cứu góp phần từng bước xây dựng quy trình kỹ thuật thâm
canh giống ngô lai đơn LVN99 tại trường Thái Nguyên và một số tỉnh ở miền núi
phía Bắc với lượng phân đạm bón thúc thích hơp để giống ngô LVN99 đạt hiệu quả
kinh tế cao nhất.
5
6
PHẦN 2

trong 3 cây ngũ cốc chính của loài người: lúa nước, lúa mỳ và ngô thì không có cây
nào sánh kịp với cây ngô về tiềm năng năng suất, về quy mô và hiệu quả của ưu thế
lai. Từ những năm cuối thế kỷ 20, nghề trồng ngô trên thế giới đã có những bước
phát triển kỳ diệu nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai, kỹ thuật nông học tiên tiến và
những thành tựu của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản…đã đưa
sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mỳ và lúa nước.Hiện nay trên thế giới có
khoảng 140 nước trồng ngô, trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các
nước đang phát triển (Báo cáo tổng kết 29 của ISAAA) [20].
Trong vòng 40 năm trở lại đây, ngành sản xuất ngô đã có những tiến bộ vượt
bậc: Năng suất ngô trung bình của thế giới vào năm 1961 chỉ chưa đạt đến 20 tạ/ha,
đến năm 2004 đã đạt hơn 49 tạ/ha. Sản lượng ngô đã tăng từ 204 triệu tấn lên đến
729,21 triệu tấn, trong khi diện tích chỉ tăng từ 104 triệu lên 147,47 triệu ha. So với
lúa nước năm 1961 có diện tích là 115,26 triệu ha, năng suất 18,7 tạ/ha và sản lượng
là 215,27 triệu tấn: năm 2004 diện tích là 150,78 triệu ha, năng suất 40 tạ/ha, sản
lượng 607,77 triệu tấn. Còn lúa mỳ năm 1961 có diện tích là 200,88 triệu ha, năng
suất 10,9 tạ/ha, sản lượng 219,22 triệu tấn và năm 2004 thì các số liệu tương ứng là
211,95 triệu ha, 30 tạ/ha và 625,05 triệu tấn (FAO 2011)[30]
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước của thế giới
năm 2010
Loại
Cây trồng
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Ngô 162,3 50,6 820,6
Lúa mỳ 222,39 29,1 648,21
7

Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy diện tích trồng ngô tăng liên tục từ năm 2000
đến năm 2008, từ 137 triệu ha ( năm 2000) tăng lên 156,4 triệu ha (năm 2008). Đến
năm 2009 thì cả diện tích, sản lượng đều giảm nhưng năng suất lại đạt cao nhất từ
trước đến nay với 809,0 triệu tấn. Đến năm 2010 cả diện tích, sản lượng đều tăng. Có
được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn
8
9
tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt
từ năm 1996 đến nay cùng với những thành tựu mới trong chọn giống ngô lai nhờ kết
hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ
cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa
mỳ và lúa nước, năng suất ngô trên thế giới đã tăng 1,83 lần trong vòng 30 năm (1960-
1990), nhất là các nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, Trung Quốc, Brazil. Tình hình
sản xuất ngô của một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 2.3.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010
Nước
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Mỹ 32,96 95,92 316,16
Trung Quốc 32,51 54,59 177,54
Brazil 12,81 43,74 56,06
Mexico 7,14 32,59 23,3
Ấn Độ 7,18 19,58 14,06
Italia 0,92 95,33 8,82
Đức 0,46 87,85 4,07
Hy Lạp 0,18 117,26 2,19

- Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai khác nhau trong sản xuất. Ở các nước phát triển
90-100% diện tích ngô được trồng bằng các giống lai có ưu thế lai cao, trong khi đó
các nước đang phát triển diện tích trồng giống ngô lai rất thấp (37% diện tích) chủ
yếu là trồng các giống thụ phấn tự do (63% diện tích) (CIMMYT, 1991-1992) [25].
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình Lương thực thế giới (IPRI,
2003) [32] vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15%
dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu
cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các
nước đang phát triển tỷ lệ này là 22%, dự báo nhu cầu ngô trên thế giới năm 2020
được trình bày ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
Vùng
Năm 1997
(triệu tấn)
Năm 2020
(triệu tấn)
Tăng so với
năm 1997 (%)
Thế giới 586 852 45
Các nước đang phát triển 295 508 72
Đông Á 136 252 85
Nam Á 14 19 36
Cận Sahara - Châu Phi 29 52 79
Mỹ Latinh 75 118 57
Tây và Bắc Phi 18 28 56
(Nguồn: IPRI 2003) [32]
Như vậy đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm
1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Á nhu cầu tăng
85% so với năm 1997.
10

một số nước trong vùng đã được CIMMYT đánh giá cao. Tình hình sản xuất ngô ở
Việt Nam trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.5:
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2000- 2010
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
11
12
2000 730,2 27,5 2005,9
2001 729,5 29,6 2161,7
2002 816,0 30,8 2511,2
2003 912,7 34,4 3136,3
2004 991,1 34,6 3430,9
2005 1052,6 36,0 3787,1
2006 1033,1 37,3 3854,6
2007 1096,1 38,5 4303,2
2008 1125,9 39,7 4531,2
2009 1086,8 40,8 4431,8
2010 1126,9 40,9 4606,8
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2012 )[18]
Trong 9 năm trở lại đây Việt Nam đã phát triển mạnh cây ngô trên cả 3 mặt:
diện tích, năng suất, sản lượng. Diện tích trồng ngô được mở rộng từ 730,2 nghìn ha
(năm 2000) lên đến 1126,9 nghìn ha (năm 2010), năng suất từ 27,5 tạ/ha (năm 2000)
tới 40,9 tạ/ha (năm 2010), do đó kéo theo sản lượng năm 2010 tăng gấp 2,3 lần so với
năm 2000. Từ năm 2000 – 2010 tốc độ tăng trưởng về diện tích là 39,67 nghìn

phân bố rải rác, địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, hạn và rét thường kéo dài,
lượng mưa không phân bố đều trong năm nên năng suất không cao, năm 2010 năng
suất là 33,2 tạ/ha thấp nhất so với các vùng trong cả nước. Nhưng đây vẫn là vùng có
sản lượng ngô lớn nhất nước ta, năm 2010 với sản lượng là 1527,1 nghìn tấn, chiếm
33,15% sản lượng toàn quốc. Các vùng cũng sản xuất nhiều ngô là vùng Tây Nguyên,
Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích trồng ngô nhỏ nhất nhưng lại
có năng suát cao nhất trong cả nước, năm 2010 năng suất ngô ở vùng này là 52,9
tạ/ha bằng 129,34% năng suất ngô cả nước.
Từ những kết quả đạt được chứng tỏ vị thế của cây ngô trong nền sản xuất
nông nghiệp nước ta. Tuy vậy so với thế giới thì năng suất ngô ở nước ta còn thấp
hơn nhiều, do đó sản xuất ngô ở nước ta rất cần có những bước phát triển nhảy vọt
với những bước đi cụ thể để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cả nướcũng như theo kịp thế
giới và bè bạn năm châu.
*Khó khăn trong sản xuất ngô của Việt Nam
Năng suất ngô của nước ta còn thấp so với năng suất ngô trung bình của thế
giới (năm 2008 năng suất ngô của Việt Nam đạt 40,2 tạ/ha, bằng 78,7% năng suất
ngô thế giới), năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với tiềm năng, giá thành sản xuất
ngô còn cao, cạnh tranh gay gắt giữa ngô và các cây trồng khác.
Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt ngày càng
nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện, sản xuất ngô ở nhiều nơi đang gây
nên tình trạng xói mòn, rửa trôi đất.
Các giống ngô thực sự chịu hạn và các điệu kiện bất thuận khác như đất xấu,
chua phèn, kháng sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thời cho năng xuất
cao và ổn định… nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác cho người sản xuất
vẫn chưa nhiều. Đặc biệt các biện pháp kỹ thuật canh tác, mặc dù đã được cải thiện
nhiều song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của giống mới.
13
14
*Thách thức đối với sản xuất ngô ở Việt Nam

2
, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân
số so với cả nước [5].
Với điều kiện đất đai phức tạp gây cản trở lớn trong việc sản xuất ngô của tỉnh. Đại
đa số các huyện còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trình độ thâm canh còn thấp. Điều
14
15
kiện tự nhiên phức tạp, hệ thống thuỷ lợi còn chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới
cho nên sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng còn nhiều hạn chế.
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 – 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2001 9,7 30,6 29,7
2002 11,6 32,8 38
2003 13,4 32,6 43,7
2004 15,9 34,3 54,6
2005 15,9 34,7 55,1
2006 15,3 35,2 53,9
2007 17,8 42,0 74,8
2008 20,6 41,1 84,6
2009 17,4 38,6 67,2
2010 17,9 42,1 75,4
Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2012 [18]
Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng các giống cũ,
giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp. Sau một thời gian với

2
O
5
– 20 K
2
O kg/ha. Mức bón phân khuyến cáo cho ngô ở Đài Loan là 175 kg N +
95 kg P
2
O
5
+ 70 kg K
2
O kg/ha (Shan, 1994) [37].
Nhu cầu dinh dưỡng của ngô tùy thuộc vào giống và tiềm năng cho năng suất.
Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N, 20 kg P
2
O
5
, 75 kg K
2
O, 9 kg
Ca, 16 kg Mg, 12 kg S/ha. Ngô địa phương năng suất 2,5 tấn/ha tổng lượng hút 65 kg
N, 11 kg P
2
O
5
,42 kg K
2
O, 5 kg Ca, 16 kg Mg, 12 kg S/ha (Thomas Dieroff và cs,
2001) [40]

+
, Ca
2
+
, Mg
2
+
sẽ giảm trong khi sự hút anion, đặc biệt là
Phophorus sẽ thuận lợi. Xảy ra theo chiều hướng ngược lại, khi cây hút Nitrat, tùy
thuộc vào tuổi của cây, với cây ngô non sự hút amonium - N nhanh hơn sự hút đạm
nitrat, trái lại các cây ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếm tới
hơn 90% tổng lượng đạm cây hút (dẫn theo Arnon, 1974) [24].
Rhoads (1984)[35] thực hiện thí nghiệm ngô tưới nước theo rãnh cho thấy:
Năng suất ngô 1.200 kg/ha khi không bón đạm và 6.300 kg/ha khi bón 224 kg/ha N
trên đất chưa bao giờ trồng ngô và năm trước đó không bón đạm. Ở năm tiếp theo
năng suất ngô là 4.400 kg/ha khi không bón đạm và 7.000 ka/ha khi bón ở mức 224
kg/ha.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của phân đạm và S đến sự sinh trưởng,
năng suất và chất lượng của giống ngô lai (Cargill 707), tác giả Hussain và CS (1999)
[31] cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150N + 30S và 150N + 20S (kg/ha)
làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/bắp và khối lượng
hạt/bắp so với các xử lý khác. Năng suất ngô đạt cao nhất (5,59 tấn/ha) ở công thức
bón 150N + 30S (kg/ha).
Theo Velly và cộng sự (dẫn theo De.Geus, 1973) [27], khi bón cho ngô với liều
lượng: 40 kg N/ha năng suất thu được 12,11 tạ/ha; 80 kg N/ha năng suất thu được
15,61 tạ/ha; 120 kg N/ha năng suất thu được 32,12 tạ/ha; 160 kg N/ha năng suất thu
được là 41,47 tạ/ha; 200 kg N/ha năng suất thu được là 52,18 tạ/ha.
2.4.2. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô ở Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ Văn
Sơn (1995) [10] đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồng bằng sông

2
O
5
, 115 kg K
2
O (tương đương 337 kg urê, 360
kg supe lân, 192 kg clorua kali).
Nhu cầu dinh dưỡng của ngô phụ thuộc vào loại đất. Trên đất phù sa sông
Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120 N - 90 P
2
O
5
- 60 K
2
O cho năng suất 40 - 50
tạ/ha; 150N - 90P
2
O
5
- 100 K
2
O cho năng suất 50 - 55 tạ/ha; 180 N - 90 P
2
O
5
- 100
K
2
O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha (Trần Hữu Miện,1987) [7]. Ngô vụ Đông trên đất
phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P

2
O
5
- 0 K
2
O.
Tác giả Vũ Cao Thái thì khuyến cáo: trên đất phù sa nên bón 120 kg N - 60 kg
P
2
O
5
- 90 kg K
2
O/ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75. Trên đất xám bạc màu bón 100 kg N -
100 kg P
2
O
5
- 150 kg K
2
O/ha với tỷ lệ là 1:1:1,5 (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [13].
Trên đất bạc màu vùng Đông Anh - Hà Nội, giống ngô LVN10 có phản ứng rất rõ với
phân bón ở công thức bón 120 N - 120 P
2
O
5
- 120 K
2
O/ha và cho năng suất hạt gấp 2
lần so với công thức đối chứng không bón phân. Hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1

2
O/ha.
- Đối với giống chín trung bình và chín muộn:
+ Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P
2
O
5
; 80
- 100 kg K
2
O/ha.
+ Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P
2
O
5
;
120 - 150 kg K
2
O/ha.
Lượng phân bón thích hợp cho ngô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ
trong vụ Đông Xuân là 10 tấn phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg
K
2
O/ha (tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 22,6 - 28,8 kgN/1 tấn
ngô hạt; vụ Hè Thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 90 kg P
2

vụ Hè Thu, còn vụ Thu Đông (vụ 2) có thể tăng lượng K
2
O lên 90 kg. Trên đất xám
của vùng Đông Nam bộ, liều lượng phân bón cho ngô có hiệu quả kinh tế cao nhất là
180 kg N - 80 kg P
2
O
5
- 100 kg K
2
O/ha (giống LVN99) (dẫn theo Ngô Hữu Tình,
2003) [13].
Các loại phân khác nhau với mức bón khác nhau có ảnh hưởng lớn đến sự
sinh trưởng và năng suất ngô LVN10 vụ Xuân 2000, vì vậy việc sử dụng loại phân và
lượng phân cần được xác định trên cơ sở lợi nhuận ở cả 3 loại phân mức bón kinh tế là
200 kg NPK/ha. Phân NPK Lâm Thao loại 5-10-3 là rất phù hợp với cây ngô với lượng
19
20
bón tối đa là 350 kg NPK/ha, sử dụng ở mức bón N-P-K: 100-50-50 là kinh tế nhất (Ngô
Hữu Tình và CS, 2001) [12].
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suất ngô và
giúp cải thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988, 1994) để đảm bảo cho cây
trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng,
còn 75% phân hoá học (dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [8].
Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phân bón hợp
lý, bón cân đối giữa các nguyên tố. Bón phân cho ngô để đạt hiệu quả kinh tế cao
phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời
kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên đồng ruộng, tính chất đất, đặc điểm loại phân
bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện khí hậu thời tiết.
Bón cân đối đạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa. Bội thu do bón

2
O
5
: K
2
O khoảng
240 - 400 kg/ha.
Phân đạm ảnh hưởng có tính chất quyết định đến sinh trưởng và năng suất ngô.
Không bón năng suất đạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N
năng suất đạt 70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng
suất đạt 79,9 tạ/ha (Vũ Hữu Yêm, 1995) [19].
Để tạo ra 1 tấn ngô hạt trong vụ ngô Đông miền Bắc cần 25 - 28 kg N, vụ
Xuân 28 - 32 kg N, vụ Hè Thu 32 - 35 kg N, Thu Đông 30 - 32 kg N (Trần Hữu
Miện, 1987) [7]
Trên đất phù sa cổ, đối với giống ngô lai LVN4 bón đạm ở các liều lượng nền
1 + 150N, nền 1 + 180N, nền 1 + 210N đều làm năng suất hơn đối chứng 1 (không
20
21
bón phân) từ 26,64 - 32,48 tạ/ha trong vụ Đông Xuân và 28,43 - 30,98 tạ/ha trong vụ
Hè Thu. Lượng đạm tăng từ 120 - 210N thì năng suất ngô cũng tăng theo, nhưng hiệu
quả kinh tế cao nhất là bón 10 tấn phân chuồng + 150N + 90P
2
O
5
+ 60K
2
O/ha (Lê
Quý Tường và CS, 2001) [16]. Trên đất bạc màu, phân N có tác dụng rất rõ song
lượng bón tối đa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là 150 kg/ha trên nền cân đối P -
K (Nguyễn Thế Hùng, 1996) [6].

tế của giống ngô LVN99.
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Công thức thí nghiệm :
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc vào thời kỳ 3-5 lá đến sinh
trưởng và năng suất giống ngô LVN99 với 5 công thức bón đạm.
Bảng 3.1: Các công thức thí nghiệm
22
23
Công thức
Lượng đạm bón vào thời kỳ… (kgN/ha) Tổng lượng
đạm bón
(kg/ha)
3 - 5 lá 7 - 9 lá Trước trỗ 10
ngày
1 (đ/c) 0 50 50 100
2 25 50 50 125
3 50 50 50 150
4 75 50 50 175
5 100 50 50 200
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu
nhiên hoàn chỉnh (RCBD-Randomized Complete Block Design), 5 công thức, 3 lần
nhắc lại, xung quanh có dải bảo vệ.
- Số ô thí nghiệm: 3 x 5 = 15 (ô) mỗi ô 10 hàng
- Diện tích 1 ô thí nghiệm: 4.9 x 5 =24.5 m
2
- Diện tích toàn ô thí nghiệm: 24.5 x 15 =367.5 m
2
- Giữa các lần nhắc lại cách nhau 1m
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
I 1 5 3 2 4

- Bón thúc: Chia làm 3 lần
+ Bón thúc lần 1 khi cây con 3 - 5 lá : lượng đạm bón cho mỗi công thức như
bảng 3.1 và ½ K
2
O . Rạch rãnh cách gốc 5 - 7cm, rắc phân vào gốc và vun đá chân
cho ngô.
+ Bón thúc lần 2 khi cây có 7 - 9 lá: lượng đạm bón cho mỗi công thức như bảng
3.1 va` ½ K
2
O. Rắc phân cách gốc 10-12cm, vun gốc ngô tạo thành luống.
+ Bón thúc lần 3 trước trỗ cờ 10 -15 ngày: Bón hết số lượng phân đạm còn lại
(rạch hàng cách gốc 13 - 15cm, sâu 7-10cm rồi bón và lấp phân kết hợp vun cao
chống đổ).
* Chăm sóc
- Giai đoạn sau khi gieo đến khi ngô 3 lá: khi cây mọc dặm kịp thời những chỗ
mất khoảng.
+ Nếu trời mưa, đất bị nén chặt cần xới xáo, phá váng. Yêu cầu: xới nhẹ nhàng,
xới nông tay vì cây còn nhỏ hệ rễ chưa phát triển.
+ Chú ý phòng trừ sâu xám.
- Giai đoạn 3 - 5 lá:
+ Tỉa định cây, chỉ một cây/hốc theo mật độ đã định.
+ Xới xáo làm đất tơi xốp tạo điều kiện cho rễ phát triển, làm sạch cỏ dại.
+ Bón thúc lần 1 kết hợp vun đá chân.
+ Phòng trừ sâu xám.
+ Duy trì độ ẩm 60-80%, nếu úng phải thoát nước kịp thời.
- Giai đoạn 7 – 9 lá:
+ Xới xáo, tiêu diệt cỏ dại.
+ Bón thúc lần 2 và vun cao thành luống.
+ Chú ý phòng trừ sâu cắn lá, sâu đục thân.
+ Giữ độ ẩm đất 60-80%.

+ Tốc độ tăng trưởng sau 30 ngày
( )
ngàycm
tt
hh
/
12
12


+ Tốc độ tăng trưởng sau 40, 50, 60 ngày tính như sau 30 ngày
Trong đó: h
1
: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày
h
2
: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày
t
1
: Thời gian sau trồng 20 ngày
t
2
: Thời gian sau trồng 30 ngày
3.4.2. Chỉ tiêu về hình thái
- Chiều cao cây (cm): chọn 10 cây (trừ các cây đầu hàng),đo từ sát mặt đất đến
điểm phân nhánh đầu tiên của bông cờ vào giai đoạn chín sữa.
- Chiều cao đóng bắp (cm): trên 10 cây đã đo chiều cao cây, xác định chiều cao
đóng bắp bằng cách đo từ gốc sát mặt đất đến đốt đóng bắp trên cùng (bắp thứ nhất).
- Số lá/cây: đếm tổng số lá/cây theo phương pháp đánh dấu lá từ 3, 6, 9,
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status