Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích kháng phòng trừ nấm gây bệnh hại hạt giống lúa - Pdf 29

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số
thế giới, tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Lúa gạo
có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã
hội. Theo dự báo của FAO (Food and Agricuture Organization), thế giới đang
có nguy cơ thiếu hụt lương thực do dân số tăng nhanh, sức mua lương thực,
thực phẩm tại nhiều nước tăng, biến đổi khí hậu toàn cầu gây hiểm họa khô
hạn, bão lụt, quá trình đô thị hoá làm giảm đất trồng lúa, nhiều nước phải
dành đất, nước để trồng cây nhiên liệu sinh học vì sự khan hiếm nguồn nhiên
liệu rất cần thiết cho nhu cầu đời sống và công nghiệp phát triển. Chính vì
vậy, an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết hàng đầu của thế giới ở hiện tại và
trong tương lai.
Vấn đề bệnh trên cây lúa là một trong những vấn đề có ảnh hưởng
không nhỏ tới năng suất và phẩm chất cây lúa, trong đó nhóm bệnh hại do
nấm là một trong những đối tượng gây hại rất đáng quan tâm trong sản xuất
lúa.
Để phòng trừ những bệnh này, cho đến nay thì biện pháp hóa học vẫn
là phổ biến. Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn nhiều hạn chế, một mặt do đặc
điểm phát triển của nấm bệnh, mặt khác do nông dân chỉ sử dụng thuốc khi
bệnh quá nặng, ngoài ra biện pháp này còn gây ô nhiễm môi trường và để lại
dư lượng trên nông sản.
Biện pháp sử dụng giống kháng bệnh cũng gặp trở ngại vì nấm bệnh dễ
phát sinh ra nòi mới phá vỡ tính kháng (Kiyosawa S, 1989; Way và Heong,
1994; Noda và ctv, 1998).
Hiện tượng kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn (system acquired
resistanca, SAR), gọi tắt là kích kháng, giúp kích thích phản ứng tự vệ của
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 1
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
cây chống lại bệnh hại, đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ

0.05mM, oxalic acid nồng độ 1mM, 2mM, 4mM và Bion nồng độ 200ppm
nhằm hạn chế một số nấm gây bệnh trên hạt lúa.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích kháng đến tỷ lệ nảy mầm và sức
sống của mạ.
- Xác định hiệu quả của chất kích kháng phòng trừ bệnh nấm hại hạt
giống lúa.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 3
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ chế kháng bệnh ở thực vật
Đến nay kiến thức của nhân loại đã tiến khá sâu vào lĩnh vực miễn dịch
của thực vật đối với bệnh. Bên cạnh việc tiến rất sâu vào khía cạnh phân tử
của các gen kháng bệnh, các nhà khoa học còn đi sâu dần vào cơ chế của sự
kháng bệnh để từ đó đưa ra được biện pháp kích thích tính kháng bệnh tự
nhiên của cây trồng.
Sau khi tìm hiểu về cơ chế kháng bệnh ở thực vật người ta phân thành
hai nhóm: Nhóm cơ chế thuộc về sinh hóa học và nhóm cơ chế thuộc cấu trúc
mô học.
Cơ chế kháng bệnh thuộc về sinh hóa học.
Sau khi bị vi sinh vật tấn công để gây bệnh, nơi bị xâm nhiễm tiết ra
một loạt các hợp chất chống vi sinh vật, các protein liên quan đến bệnh, các
enzim để làm giảm hoạt động của mầm bệnh và nhiều chất khác.
Về hợp chất chống vi sinh vật có thể chia ra 2 nhóm: Nhóm
phytoanticipins và nhóm phytoaleuxins. Phytoaleuxins do ký chủ tiết ra để
chống lại với mầm bệnh, trong khi đó phytoanticipins không phải do ký chủ
trực tiếp tiết ra mà do sự tương tác giữa các chất của ký sinh và ký chủ tạo ra.
Hai nhóm này có thể tìm thấy trong các giống có tính kháng bệnh cao.
Bên cạnh đó một loạt các protein có liên quan đến bệnh cây cũng được
tế bào tiết ra. Các protein này có vai trò làm giảm sự phát triển của mầm bệnh
bằng cách tác động lên vách tế bào, màng nguyên sinh chất hoặc lên ribosom

2
O
2
với nồng độ cao lại gây hại cho tế bào. Do đó Peroxidase làm
giảm bớt tính độc của H
2
O
2
đối với tế bào ký chủ.
Bên cạnh sự ra tăng hoạt tính của các enzim còn xuất hiện các tín hiệu
do sự kích kháng gợi lên. Các tín hiệu bao gồm: salycilic acid, Jasmonic acid
và etylen.
Cơ chế kháng bệnh thuộc về cấu trúc mô học.
Có 4 cơ chế kháng bệnh về mặt mô học, tùy thuộc vào 4 cách xâm nhập
của nấm gây bệnh.
- Sự tạo ra lớp vách tế bào mới chung quanh vết thương để bao vây và
ngăn cản sự xâm nhập tiếp theo của các nấm có tính ký sinh yếu, chỉ xâm
nhập qua vết thương.
- Sự rắn chắc hóa vách tế bào bằng cách lignin hóa vách tế bào bị nấm
xâm nhiễm.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 5
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
- Sự hình thành papillae (vách dầy) bên dưới đĩa áp để ngăn cản sự xâm
nhập của nấm gây bệnh.
- Tích tụ hợp chất phenol đưa đến phản ứng tự chết của tế bào để cô lập
nấm gây bệnh. Là phản ứng kháng bệnh ở mức cao của thực vật.
* Quan sát sự thay đổi của mô để đánh giá hiệu quả của kích kháng
- Để khảo sát sự tăng cường lignin hóa vách tế bào, nơi bị mầm bệnh xâm
nhiếm, số vách tế bào phát sáng được đếm dưới kính hiển vi huỳnh quang:
+ Lúa sau khi lây bệnh nhân tạo 24h và 48h: cắt từng đoạn ngắn 4 -5

nghiệm trên. Mẫu thu thập ở các thời điểm 4h trước khi nấm xâm nhiễm và
thời điểm 0, 4, 8, 12, 16, 20, 24, 36 và 48h sau khi nấm xâm nhiễm, sau đó
nhuộm với dung dịch 0,05% DAB (3,3’ – diaminobenzidine, D – 8001,
Sigma) Theo phương pháp của Thordal – Christensen et al. (1997). Ghi nhận
phần trăm đĩa áp tích tụ H
2
O
2
, diện tích vùng tế bào có sự tích tụ H
2
O
2
và mức
độ tích tụ.
* Quan sát sự gia tăng hoạt tính của các enzim có liên quan đến sự
kích kháng
- Sự tăng cường enzim PAL (phenylalanine ammonia lyase), beta –
1,3- glucannase, peroxidase và catalase.
2.2 Sự kích thích tính kháng bệnh của cây trồng
2.2.1 Khái niệm
Kích thích tính kháng bệnh ở thực vật thường được gọi tắt là “kích
kháng”, là một phương pháp giúp cho giống cây trồng bị nhiễm trở nên có
khả năng kháng được bệnh ở mức độ nào đó sau khi được xử lý chất kích
kháng. Kích kháng không tác động trực tiếp đến mầm bệnh mà nó kích thích
cơ chế tự vệ tự nhiên trong mô cây. Chất kích kháng có thể là một loài vi sinh
vật không gây bệnh, không mang tính độc đối với cây trồng hoặc có thể là
một loại hóa chất nào đó không độc và không có tác động trực tiếp diệt mầm
bệnh như hóa chất được dùng trong nông dược (Phạm Văn Kim, 2002). Theo
Tuzun và Kuc (1991) được Ngô Thành Trí và ctv (2004) cho rằng sự kích
thích tính kháng đã được tìm thấy trên 25 loại cây trồng khác nhau khả năng

kháng mà còn truyền đến những mô cây cách xa nơi được xử lý kích kháng
(Ryal và ctv, 1996). Những tác nhân này có cả tác nhân sinh học và không
phải sinh học. Khi xử lý kích kháng bằng biện pháp ngâm hạt nhưng cây có
khả năng tự vệ kháng lại các bệnh trên lá cũng thể hiện kích kháng lưu dẫn.
Kích kháng lưu dẫn khác với kích kháng tại chỗ ở những tín hiệu có khả năng
truyền đến các mô của cây khác cách xa điểm xử lý kích kháng và làm nâng
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 8
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
cao khả năng tự vệ trong cây (Van Loon và ctv, 1998). Manandhar và ctv
(1998) kích thích tính kháng lưu dẫn chống bệnh cháy lá lúa bằng cách sử
dụng dòng nấm Pyricularia oryzae không độc tính và nấm Bipolaris
sorokiniana không những làm giảm bệnh đạo ôn mà còn làm tăng năng suất
lúa.
2.3 Tình hình nghiên cứu ứng dụng kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Kỹ thuật kích kháng tính kháng lưu dẫn trong cây trồng là kỹ thuật sử
dụng một loài vi sinh vật nào đó không gây hại cho môi trường hoặc là một
hóa chất nào đó không có tác dụng diệt vi sinh vật gây bệnh cũng như không
gây ô nhiễm môi trường nhưng có tác dụng kích thích cây trồng tạo ra tính
kháng bệnh. Kỹ thuật đã được nghiên cứu ứng dụng thành công trên thế giới
và trên một số loài cây trồng như dưa leo, cà chua, lúa mạch, lúa
(Hammerschmidt at al., 1995; Ozeretskovskaya, 1995; Jorgensen et al., 1990;
Manandhar et al., 1998).
Trên thế giới việc nghiên cứu kích thích tính kháng bệnh bắt đầu
nghiên cứu từ năm 1936 (Mauch-Mani và Metraux, 1997; Van loon, 2001)
sau đó rất nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu vào cơ chế kích kháng bệnh trên
nhiều loài cây ngắn ngày và đã phát hiện ra nhiều tác nhân kích kháng khác
nhau. Thông thường mầm bệnh thuộc chủng yếu đối với giống ấy, thường tạo
được phản ứng kích kháng (Fink và ctv.,1990) và được rất nhiều tác giả sử
dụng trong nghiên cứu kích kháng. Tuy nhiên tác nhân này chỉ để nghiên cứu

Yamada và ctv (1990), đã sử dụng methanol trích từ hạt lúa mì và lúa
mạch để chống nấm Pyricularia oryzae rất mạnh.
Yokoyama và ctv (1991), chủng nấm Erysiphe graminis f.sp hordei vào
cây lúa mạch, làm cây lúa mạch tạo ra các papilla bên dưới đĩa áp của nấm
gây bệnh, giúp chống lại sự xâm nhập của nấm này.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 10
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Van Peer (1991) do Tuzun và Klopper (1995) trích dẫn nhận thấy,
xử lý vi khuẩn vùng rễ Pseudomonas sp. Chủng WCS 417 lên cây hoa cẩm
chướng, giúp cây tăng tính kháng chống lại bệnh héo rũ.
SA, acetyl salicytic acid (ASA), di-potassium photphate (K
2
HPO
4
),
CuCl
2
, sodium salicylate … cũng được ghi nhận có khả năng kích kháng bệnh
cháy lá lúa (Manandhar et al 1998, Kloepper et al 1992).
Phun SiO
2
dạng bột mịn (SiO
2
) cho thấy kích kháng SAR do gia tăng
hoạt động của phân hóa tố đối với chitin (Schneider và Ulrich, 1994).
Song và ctv (1994), cho rằng sử dụng hai acid béo 11(s), 12(s), 13(s)-
trihydroxy-(9z,15z)-octadecadienoic acid và 11(R)-hydroxy-12(s), 13(s)-
epoxy-(9z, 15z)-octadecadienoic acid, phun qua lá trước hay sau khi nhiễm
bệnh giúp tăng tính kháng bệnh của lúa đối với bệnh cháy lá lúa và giúp giảm
bệnh hơn 50%.

Cai (1996 và 1997) xử lý mạ bằng salicylic acid (SA) 0,01mM, sau 2 –
5 ngày thì chủng bào tử nấm Magnaporthe grisea lên cây lúa giúp giảm bệnh
đạo ôn lúa từ 24 – 59%.
Agrios (1997) cho rằng, có thể xử lý bằng Protein hay glycoprotein
trích từ vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, lipid trích từ nấm
Phytophthora infestans, hay polysaccharide từ nấm để kích kháng cây trồng.
Theo Krishnamurthy và Gnanamanickam (1997), vi khuẩn
Pseudomonas fluorescens 7 – 14 và P. patida v14 sống trong mô thực vật gây
cảm ứng hệ thống kháng làm giảm bệnh đốm vòng.
Theo Manandhar và ctv (1998) cho rằng, cây lúa được chủng lên với
nấm Bipolaris sorokiriana không độc, giúp cây lúa giảm bệnh đạo ôn và làm
tăng năng suất lúa.
SA cũng kích thích tính kháng bệnh trên dưa leo chống lại nấm
Colletotrichum và trên lúa mạch chống lại bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
graminis f.sp hordei theo Manandhar (1998). Cũng theo tác giả này, K
2
HPO
4
gây ra tính kháng bệnh trên cây dưa leo, nho và bắp.
Theo Manandhar (1998), xử lý cây lúa với chất ferric chioride,
KH
2
PO
4
, probenazole và SA thì các chất này có khả năng làm cho cây lúa tiết
ra chất kháng sinh thực vật gây kích kháng chống lại nấm Magnaporthe
grisea.
Manandhar và ctv (1998), nói rằng Yoshida (1992) đã sử dụng chất

chúng ta đã phân lập được thành phần một số nấm, vi khuẩn trên các mẫu hạt
giống lúa, ngô, đậu tương, rau.
Theo Phạm Văn Dư và ctv (1997) xử lý mạ bằng cách chủng vào cây
mạ nguồn bệnh Magnaporthe grisea đã bị làm yếu đi, 2 ngày sau chủng
nguồn bệnh cháy lá thì lúa có khả năng giảm bệnh từ 35 – 38%.
Theo Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thúy, Diệp Đông Tùng, Võ Bình Minh
và Phạm Văn Kim (1999), sử dụng hóa chất như ethrel 800ppm, saccharine
0,05mM, Bion 200ppm, natrium silicate 4mM và CuCl
2
0,05mM cho hiệu quả kích
kháng bệnh cháy lá lúa kéo dài đến 18 ngày sau khi phun lên lá lúa. Ngoài ra, các
hóa chất chitosan glucosamine, napthalence acetic acid 30ppm, KH
2
PO
4
5mM,
Aspirin (acetylsalicylic acid) 0,4mM, SA 0,4mM, ascorbic acid 1mM và benzoic
acid cũng gây kích kháng bệnh nhưng không kéo dài được lâu.
Theo Lăng Cảnh Phú (2000), dịch nuôi cấy của vi khuẩn Flavimonas
oryzuhabitans sau khi được xử lý hạt hoặc phun lên lá lúa, giúp cây lúa có
khả năng chống lại bệnh cháy lá.
Theo Phạm Văn Dư và ctv (2000), SA, ASA, KH
2
PO
4
và chitosan được
xử lý 1 và 2 giờ trước khi chủng bệnh với P.grisea trên 2 giống OM 269 và
OM 1723, cho thấy có ảnh hưởng đến tính kháng lưu dẫn.
Theo Diệp Đông Tùng (2000), sử dụng acibenzolar-s-methyl kích
kháng bệnh cháy lá lúa khi xử lý hạt, thì có thể kéo dài tính kháng đến 30

acid + natritetraborac làm tăng chiều cao, giảm bệnh cháy lá, giảm bệnh thối
cổ gié từ 50 – 60% và tăng năng suất từ 16 – 20%.
Theo Nguyễn Thị Thanh Xuân và Phạm Văn Kim (2001), ngâm hạt với
clorua đồng và xịt bổ sung với K
2
HPO
4
hoặc Na
2
SiO
3
có khả năng kích kháng
bệnh cháy lá đến 30 ngày sau khi gieo trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng
ruộng.
Hạt lúa được xử lý với Na
2
B
4
O
7
thì có khả năng làm giảm diện tích
bệnh trên lá từ 19 – 27% trong thí nghiệm nhà lưới và 7% bệnh trên bông ở
thí nghiệm đồng ruộng (Phạm Văn Dư và ctv, 2001).
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 15
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Trịnh Ngọc Thúy (2001) và Nguyễn Hữu Anh Nhi (2002), clorua
đồng với nồng độ 0.05mM xử lý hạt, giúp giảm bệnh 60 – 62% và kéo dài
hiệu quả đến 34 ngày sau khi gieo.
Cũng theo Trịnh Ngọc Thúy (2001), saccharin, chitosan và glucosamin
phun lá cũng có tác dụng kích thích tính kháng bệnh trên cây lúa.

2
và KH
2
PO
4
đối cới bệnh thán thư ớt Colletotrichum sp., kết quả cho thấy trong
3 chất SA cho hiệu quả kích kháng sớm nhất và keo dài đến 144 GSP,
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 16
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
KH
2
PO
4
có hiệu quả kéo dài đến 96 GSP, còn CuCl
2
có hiệu quả kéo dài đến
72 GSP thể hiện qua phần trăm đĩa áp tạo phát sáng tế bào.
2.3.2.2. Nghiên cứu về bệnh nấm hại trên hạt giống lúa.
Kết quả bước đầu về kiểm tra bệnh hạt giống (Trần Đình Nhật Dũng,
1996) trên 88 mẫu hạt giống thu thập tại Hà Nội, Hà Tây, Nam Hà, Thái
Bình, Hà Bắc, Hòa Bình, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An… đã phát hiện
thấy tất cả các mẫu đều nhiễm nấm bệnh, điển hình là các loài Bipolaris
oryzae (tiêm lửa hại lúa), Alternaria padwickii (cháy lá lúa),Fusarium
moliniforme (lúa von), Microdochium oryzae (khô đầu lá lúa) và Sarocladium
oryzae (thối bẹ lá lúa). Trong đó các mẫu bị nhiếm nâm Bipolaris oryzae là
cao nhất với tỷ lệ mẫu nhiễm trung bình đạt 79.5%, tỷ lệ hạt bị nhiễm trung
bình là 5.9%, nhiễm nặng nhất trên giống lúa Mộc Tuyền.
Trong 4 mẫu giống ngô thu thập ở phía Nam cho thấy cả 4 mẫu đều có
nấm bệnh ký sinh, điển hình là 2 loại: Fusarium moliniforme gây bệnh mốc
hồng và Claphalosporium gây bệnh phấn đen với tỷ lệ giống nhiễm trung

cơ cấu cây trồng ở miền Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Tuất, 1998 – 1999) đã
xác định được 5 loại nấm gây biến màu hạt là Bipolaris oryzae, Alternaria
padwickii, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Rhizoctonia solani.
Trên các giống lúa Trung Quốc đã phân lập được 5 loại: Bipolaris oryzae,
Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae và
Sarocladium oryzae.
Để đánh giá mức độ nhiễm nấm trên một số lô hạt giống lúa được sản
xuất ở Việt Nam, Olga Kongsdal và Phạm Thị Thoa (1996) cho biết: mức độ
nhiễm nấm trên hạt giống lúa Việt Nam khá cao: 96% số mẫu kiểm tra bị
nhiễm nấm Alternaria padwickii, 87% số mẫu kiểm tra bị nhiễm nấm
Bipolaris oryzae, 52% số mẫu kiểm tra bị nhiễm nấm Microdochium oryzae,
39% số mẫu bị nhiễm nấm Sarocladium oryzae. Trong đó tỷ lệ nhiễm nấm
Bipolaris oryzae trung bình là 8.0%.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 18
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Các kết quả kiểm tra nấm bệnh năm 2001 (Phạm Thị Thoa và CTV,
2001), trong các lô hạt giống kiểm tra, tỷ lệ hạt bị nhiễm nấm Bipolaris
oryzae cao nhất ở các mẫu giống lúa thu thập từ Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ
An và Quảng Bình, tỷ lệ nhiễm trung bình từ 4.57% - 6.67%, ở Đà Nẵng là
14.9%. Cũng theo kết quả này: tỷ lệ nhiễm nấm Bipolaris oryzae cao nhât ở
các mẫu hạt giống được sản xuất tại các Trạm, Trại và các Công ty giống cây
trồng Nghệ An, trong khi đó các mẫu hạt lúa giống được sản xuất tại các nông
hộ ở Nghệ An có tỷ lệ nhiễm nấm Bipolaris oryzae thấp hơn với tỷ lệ nhiễm
trung bình là 3.78%.
Kết quả kiểm tra nấm bệnh trên một số mẫu hạt lúa giống được sản
xuất tại các nông hộ ở Hải Dương, Nam Định vụ Mùa năm 2002 (Trần Thị
Hưng và CTV): tỷ lệ hạt lúa giống nhiễm nấm Bipolaris oryzae cao nhất ở các
mẫu thu thập tại Chí Linh – Hải Dương với tỷ lệ nhiễm nấm trung bình từ 4.4
– 6.3%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất trên giống DT10 (17.0%).
Kết quả điều tra thành phần nấm bệnh trên hạt giống lúa Q5 và Khang

Kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm hạt giống cây trồng (Nguyễn
Đức Huy và CTV, 2002) cho biết khi hạt giống lúa bị nhiễm nấm von
(Fusarium moniliforme) thì xử lý bằng thuốc Cacbendazime 50WP nồng độ
0.3% cho hiệu lực phòng trừ bệnh rất tốt.
Tóm lại các kết quả điều tra nghiên cứu bệnh hại trên hạt giống lúa ở
nước ta đã chứng tỏ rằng các lô hạt giống được sản xuất tại các tỉnh trung du,
miền núi, các tỉnh vùng duyên hải ven biển có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so
với ở vùng đồng bằng sông Hồng và những vùng có điều kiện đất đai thuận
lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Các kết quả thu được chủ yếu
vẫn là điều tra thành phần và tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh mà chưa có các giải pháp
cụ thể để phòng trừ hoặc xử lý các lô hạt giống bị nhiễm bệnh.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 20
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Giống lúa:
Sử dụng giống lúa Q5 và Khang dân.
3.1.2 Chất kích kháng:
Oxalic acid 1mM, oxalic acid 2mM, oxalic acid 4mM, CuCl
2
0.05 mM,
Bion 200ppm.
Bảng 3.1. Thành phần chất kích kháng thu thập được
Stt
Tên chất kích
kháng
Nồng độ
thích hợp
Giai đoạn xử lí

Cơ chế của hiện tượng kích kháng do cropsar-3 ĐHCT tạo ra được là
do có sự gia tăng hoạt tính của các enzim β-1,3 glucanase, chitinnase,
Phenylalanine ammonia-lyase (PAL), peroxidase, catalase va còn có sự gia
tăng ligin hóa vách tế bào lá lúa, đồng thời có gia tăng sự tích lũy chất
Polyphenol và Hydrogen peroxide trên vết bệnh hơn. (Phạm văn Kim, Trần
Thị Thủy, Ngô Thành Trí, Trần Vũ Phến, 2009)
* Oxalic acid
Công thức phân tử: HOOC-COOH (khan)
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 23
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Hình 3.3, 3.4: Dạng khan và công thức cấu tạo của Oxalic acid.
Nguồn: Wikimedia Commons
Acid oxalic và các muối oxalat có mặt khá phổ biến trong nhiều loài
thực vật, đáng chú ý là rau muối (Chenopodium album) và chua me đất (chi
Oxalis). Rễ hoặc lá của đại hoàng (chi Rheum), kiều mạch (Fagopyrum
esculentum) cũng được liệt kê như là có chứa nhiều axít oxalic.
Các loại thức ăn chứa một lượng đáng kể axít oxalic, theo trật tự giảm
dần, bao gồm: khế (Averrhoa carambola), hồ tiêu (Piper nigrum), mùi tây
(Petroselinum crispum), hạt các loại anh túc (các chi Meconopsis, Papaver,
Romneya, Eschscholzia), thân cây đại hoàng (chi Rheum), rau dền (chi
Amaranthus), rau bina (Spinacia oleracea), một số thứ và giống củ cải đường
(Beta vulgaris), ca cao (Theobroma cacao), phần lớn các loại quả hạch hay
quả mọng và các loài đậu, đỗ. Cảm giác có sạn ở miệng khi uống sữa chứa
hương vị đại hoàng là do sự kết tủa của oxalat canxi gây ra. Vì thế thậm chí
cả một lượng rất loãng axít oxalic cũng có thể nhanh chóng "phá vỡ" cazein
tìm thấy trong nhiều loại sản phẩm sữa.
Lá của chè (Camellia sinensis) cũng chứa một lượng lớn axít oxalic so
với nhiều loài thực vật khác.
Ứng dụng của Oxalic acid trong nông nghiệp: Đã được sử dụng
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 24

0.05mM, Oxalic
acid ở các nồng độ 1mM, 2mM, 4mM để xử lý các mẫu hạt lúa giống, sau đó
đặt trên giấy thấm để xác định tỷ lệ nấm Alternaria padwickii sau khi xử lý
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN 25

Trích đoạn Ảnh hưởng của các chất kích kháng đến khả năng phát triển của cây mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status