1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
======
TRÀ THỊ KHÁNH NHI
NGHIÃN CÆÏU AÍNH HÆÅÍNG CUÍA METHYL
JASMONATE
LÃN KHAÍ NÀNG TÊCH LUÎY ASIATICOSIDE
TRONG NUÄI CÁÚY HUYÃÖN PHUÌ TÃÚ BAÌO
RAU MAÏ (Centella asiatica L.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SINH HỌC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS. TS. TRẦN QUỐC DUNG
ThS. NGUYỄN THANH GIANG
HUẾ, KHÓA HỌC 2011 - 2015
2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ các thầy cô giáo Khoa Sinh học, Trường Đại
học Sư phạm Huế. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý giá đó.
: cộng sự
g/L
: gam/lít
HCTC
: hợp chất thứ cấp
HPLC
: high performance liquid chromatography (sắc ký lỏng hiệu năng cao)
KIN
: kinetin
MeJA
: methyl jasmonate
MS
: Murashige và Skoog (1962)
mg/L
: miligam/lít
: micromol
naphthaleneacetic acid
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Sản phẩm thứ cấp từ nuôi cấy tế bào thực vật so với cây tự
nhiên.
Các hợp chất thứ cấp đã được sản xuất từ nuôi cấy mô và tế
Bảng 1.2
bào thực vật (Mulbagal and Tsay 2004).
Một số chất kích kháng sinh học được sử dụng để cải thiện
Bảng 1.3
hiệu suất của các hợp chất thứ cấp.
13
Bảng 3.1 Sinh khối tế bào thu được sau 24 ngày nuôi cấy (g).
27
Bảng 1.1
32
33
37
38
40
5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Biểu đồ thể hiện sinh khối khô tươi của tế bào rau má
sau khi bổ sung MeJA vào các nồng độ khác nhau.
Biểu đồ thể hiện sinh khối tưoi của tế bào rau má sau
Biểu đồ 3.2
khi bổ sung MeJA vào các nồng độ khác nhau.
Biểu đồ thể hiện sinh khối khô tươi của tế bào rau má
Biểu đồ 3.3 sau khi bổ sung 100 µM MeJA vào các thời điểm khác
nhau.
Biểu đồ thể hiện sinh khối khô của tế bào rau má sau
Biểu đồ 3.4 khi bổ sung 100 µM MeJA vào các thời điểm khác
nhau.
Biểu đồ 3.1
Trang
31
32
Hình 3.4
Phổ HPLC đối chứng.
29
Phổ HPLC của asiaticoside khi bổ sung vào môi trường
nuôi cấy 50 µM MeJA.
Phổ HPLC của asiaticoside khi bổ sung vào môi trường
Hình 3.6
nuôi cấy 100 µM MeJA.
Phổ HPLC của asiaticoside khi bổ sung vào môi trường
Hình 3.7
nuôi cấy 150 µM MeJA.
Phổ HPLC của asiaticoside khi bổ sung vào môi trường
Hình 3.8
nuôi cấy 200 µM MeJA.
Phổ HPLC của dịch chiết asiaticoside từ tế bào nuôi trên
Hình 3.9
môi trường bổ sung 100 µM MeJA ở thời điểm 5 ngày.
Phổ HPLC của dịch chiết asiaticoside từ tế bào nuôi trên
Hình 3.10
môi trường bổ sung 100 µM MeJA ở thời điểm 10 ngày.
Phổ HPLC của dịch chiết asiaticoside từ tế bào nuôi trên
Hình 3.11
môi trường bổ sung 100 µM MeJA ở thời điểm 15 ngày.
Hình 3.5
35
xuất hợp chất thứ cấp thì giải pháp tối ưu nhất là sử dụng các chất kích kháng
của bộ máy bảo vệ cây. Đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề trên như
nghiên cứu tăng sản xuất silymarin trong nuôi cấy tế bào của Silybum
marianum bằng các chất kích kháng thực vật dịch chiết nấm men (YE) và
methyl jasmonate (MeJA) [23].
Rau má (Centella asiatica L.) là cây thân thảo, thường được dùng để
thanh nhiệt, lợi thấp, giải độ, điều trị các bệnh ở gan, tì và thận, chữa lành vết
thương, kháng viêm, tổn thương ở niêm mạc da… [3]. Một số thành phần hóa
học quan trọng có trong nó như nhóm triterpens chứa asiatic acid, madecassic
8
acid, madecassoside, chất chống oxi hóa phenolic và đặc biệt là asiaticoside.
Asiaticoside có tác dụng lớn trong việc chống suy nhược cơ thể, liền vết bỏng
và vết thương tổn ở niêm mạc da, có hoạt tính diệt bào ngăn chặn được sự
phát triển của một số dòng tế bào ung thư [3].
Từ trước đến nay, rau má được khai thác chủ yếu từ nguồn hoang dại,
thô sơ, mang tính riêng lẻ, nên nguồn nguyên liệu cung cấp để chiết xuất các
hợp chất thứ cấp cho việc sản xuất dược liệu còn hạn chế vì thế cần tìm ra các
phương pháp để cải thiện. Nuôi cấy tế bào rau má có bổ sung chất kích kháng
thực vật là một trong những phương pháp tối ưu nhất [11].
Xuất phát từ ý nghĩa trên, tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng
của chất kích kháng thực vật methyl jasmonate lên khả năng tích lũy
asiaticoside trong nuôi cấy huyền phù tế bào rau má (Centella asiatica L.).
Nhằm ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy tế bào thực vật để tăng nhanh quá trình sản
xuất asiaticoside, từ đó cung cấp nguồn dược chất tự nhiên cho các nghiên cứu
trong lĩnh vực y học. Kết quả của đề tài sẽ làm cơ sở cho việc hoàn chỉnh quy
trình sản xuất asiaticoside từ sinh khối tế bào để ứng dụng trong lĩnh vực dược
phẩm sau này.
nhau. Đó chính là sự biệt hóa tế bào. Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hóa
thành các tế bào có chức năng chuyên biệt, chúng không hoàn toàn mất đi
khả năng biến đổi này của mình. Trong điều kiện thích hợp chúng có thể trở
về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ. Quá trình đó gọi là quá trình
phản biệt hóa tế bào.
10
Dựa vào hai đặc tính trên, con người đã ứng dụng vào khoa học thực tiễn
vào tạo nên kỹ thuật nuôi cấy tế bào thực vật.
1.1.2. Quy trình nuôi cấy mô, tế bào thực vật
Từ việc hiểu biết về các nguyên tắc của nuôi cấy tế bào thực vật trong
điều kiện hoàn toàn sạch vi sinh vật, vô trùng, trên môi trường dinh dưỡng
nhân tạo, con người đã hình thành nên nhiều lĩnh vực ứng dụng quan trọng.
Trong đó, nhân giống vô tính cây trồng in vitro hay vi nhân giống
(micropropagation) là một lĩnh vực ứng dụng hiệu quả nhất. Nó bao gồm:
- Nuôi cấy cây non và cây trưởng thành
- Nuôi cấy cơ quan: rễ, thân, lá, hoa, quả, bao phấn, noãn chưa thụ tinh.
- Nuôi cấy phôi: phôi non và phôi trưởng thành
- Nuôi cấy mô sẹo (callus)
- Nuôi cấy huyền phù tế bào
- Nuôi cấy tế bào trần
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng sử dụng hai quy trình nuôi cấy mô,
tế bào đó là nuôi cấy mô sẹo và huyền phù tế bào rau má.
1.1.2.1. Nuôi cấy mô sẹo (callus)
Nuôi cấy callus cho phép các khối tế bào không có hình dạng nhất định
tăng lên từ sinh trưởng không phân hóa của mẫu vật trên môi trường dinh
dưỡng rắn vô trùng [7]. Môi trường nuôi cấy là môi trường dinh dưỡng cơ bản
có chất làm rắn là agar. Môi trường dinh dưỡng cơ bản này chứa các chất dinh
1.1.3. Môi trường nuôi cấy
Tương ứng với mỗi loại nhóm thực vật, sẽ có các nhu cầu thành phần
chất dinh dưỡng đặc trưng riêng, nhưng để nuôi cấy mô, tế bào thực vật đều
cần xuất phát chung từ môi trường cơ bản MS (Phụ lục 2.1). Các nguyên tố đa
lượng bao gồm các loại muối của nitrogen, potassium, calcium, phosphorus,
magnesium, sulfus. Các nguyên tố vi lượng bao gồm các loại muối của sắt,
kẽm, mangan, boron, copper, acid, pyridoxine, các amino acid, các phụ gia
hữu cơ (dịch chiết nấm men, dịch thủy phân casein…). Các chất kích thích
sinh trưởng thực vật chủ yếu là các chất ĐHST như các auxin (2,4 D,
NAA…), các cytokinin ( BAP, KIN…).
12
Nguồn carbon sucrose chính là chất thay thế cho nguồn cacbon được
thực vật cố định từ khí quyển bằng quang hợp. Ngoài ra glucose cũng thường
được đưa vào môi trường và cho hiệu quả mong muốn cao. Chất làm rắn môi
trường thường được sử dụng là agar.
1.2. Hợp chất thứ cấp, ứng dụng nuôi cấy tế bào để sản xuất hợp chất thứ cấp
1.2.1. Hợp chất thứ cấp là gì?
Khi thực vật chống lại với các tác nhân gây hại từ môi trường chẳng hạn
như sự tấn công của động vật, vi sinh vật, stress do thay đổi điều kiện môi
trường sống…chúng sẽ tạo nên các hợp chất có hoạt tính sinh học được gọi là
hợp chất thứ cấp. Thường thì thực vật sản xuất chúng với nồng độ rất nhỏ và
chức năng trao đổi chưa biết được đầy đủ [14].
Những nghiên cứu về hợp chất thứ cấp (HCTC) của thực vật phát triển từ
những năm 1950. Có khoảng hơn 30.000 hợp chất được chiết xuất từ thực vật
có hoạt tính và rất có giá trị đối với cuộc sống. Những hợp chất này có thể xếp
trong ba nhóm chính là alkaloid, tinh dầu và glycoside [7].
1.2.1.1. Các alkaloid
chất từ tế bào thực vật nuôi cấy [10]. Bằng nhiều nghiên cứu, người ta đã kết
luận được rằng, nồng độ sản xuất hợp chất thứ cấp tăng lên trong suốt quá
trình phân hóa tế bào, vì thế chúng được tìm thấy trong các mô có khả năng
phân hóa cao như rễ, lá và hoa. Do sự phân hóa hình thái và sự trưởng thành
không xuất hiện trong nuôi cấy tế bào nên các chất thứ cấp có khuynh hướng
ngưng tạo thành trong quá trình nuôi cấy. Vì vậy, giài pháp trong nuôi cấy
huyền phù tế bào là tăng sự tiếp xúc của khối tế bào ở giữa với môi trường
bên ngoài, dẫn đến sự phân hóa sẽ xuất hiện tới một mức độ nào đó trong khối
để tạo thành các chất thứ cấp [10]. Bên cạnh nuôi cấy tế bào huyền phù, nuôi
cấy callus có ưu điểm là thao tác thí nghiệm đơn giản, dễ vận chuyển mẫu
nhưng nhược điểm là thể tích nuôi cấy bé nên khó phát triển ở quy mô công
nghiệp, mẫu nuôi cấy chỉ tiếp xúc được một mặt với nguồn dinh dưỡng,
những sản phẩm do mẫu nuôi cấy tạo ra trong quá trình trao đổi chất sẽ tích tụ
xung quanh dẫn đến làm chậm sự sinh trưởng của tế bào. Vì thế, nuôi cấy tế
bào huyền phù thích hợp hơn cho việc sản xuất sinh khối tế bào thực vật vì có
thể duy trì và thao tác tương tự với các hệ thống lên men vi sinh vật ngập
chìm trong môi trường lỏng.
14
1.2.2.1. Sự tích lũy hợp chất thứ cấp trong tế bào nuôi cấy
Nuôi cấy tế bào thực vật được nghiên cứu từ năm 1960, có rất nhiều
thuận lợi, và được xem như là một phương pháp để sản xuất các hợp chất thứ
cấp ở thực vật hiệu quả nhất. Một số chất khó tổng hợp bằng phương pháp hóa
học, hoặc khó thu được lượng sản phẩm lớn bằng vi sinh vật thì có thể sử
dụng bằng phương pháp nuôi cấy tế bào thực vật như caffein, morphine… Sở
dĩ, phương pháp này được đánh giá cao vì nó không bị giới hạn bởi yếu tố
ngoại cảnh như môi trường, sự thay đổi thời tiết… so với khi trồng một cá thể
thực vật ở ngoài điều kiện thường [10]. Ta có thể so sánh dễ dàng từ bảng 1.2.
Sản phẩm
Anthocyanin
Anthraquinone
Berberine
Loài thực vật
Vitis sp.
Euphorbia milli
Perilla frutescens
Morinda
citrifolia
Coptis japonica
Thalictrum minor
Sản lượng
(% khối lượng khô)
Cây tự
Tế bào
nhiên
16
10
4
0,3
24
1,5
Tỷ lệ sản
lượng
Lithospermum
erythrorhizon
14
1,5
9,5
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy hợp chất thứ cấp của tế bào
nuôi cấy
Nguyên tắc sản xuất một hợp chất hóa học nào từ bất kì quá trình sinh
học nào đều cần phải hiểu rõ các con đường sinh tổng hợp và các yếu tố ảnh
hưởng đến nó. Từ đó, con người đã nghiên cứu và tìm ra các hướng cải thiện
năng suất sản xuất của các HCTC từ nuôi cấy tế bào [8]. HCTC chỉ được tích
lũy với nồng độ cao và khi thỏa mãn những điều kiện nuôi cấy như sau:
- Chọn lựa đúng và đủ thành phần môi trường và điều kiện nuôi cấy
thích hợp.
- Các dòng tế bào nuôi cấy phải có năng suất cao.
- Luôn bổ sung tiền chất nuôi cấy và các chất kích kháng thực vật.
a. Tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy
16
Một vài sản phẩm tích lũy trong tế bào ở mức cao hơn so với ở trong cây
trồng tự nhiên khi được nuôi cấy ở điều kiện tối ưu (ví dụ ginsenoside từ cây
nhân sâm P. ginseng, bilobalit từ cây bạch quả…). Thông số của các nhân tố
hóa họ và vật lý như thành phần môi trường, chất kích thích sinh trưởng, pH,
18
c. Sử dụng kích kháng bảo vệ thực vật
Sử dụng chất kích kháng bảo vệ thực vật có hiệu quả trong việc tăng
cường sự tổng hợp các hợp chất trao đổi trong một số trường hợp, như trong
sản xuất paclitaxel bằng nuôi cấy tế bào Taxus và sản xuất tropane alkaloid
bằng nuôi cấy tế bào Datura stramonium. Sử dụng các chất kích kháng kết
hợp với loại bỏ các sản phẩm cuối và sự tích lũy trong pha tách chiết, đã được
chứng minh là một hướng rất thành công để gia tăng hiệu suất chuyển hóa.
Ví dụ môi trường lỏng có sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 2,4-D với
nồng độ 0,01 mg/L hoặc trong số các cytokinin thử nghiệm (TDZ, BAP,
zeatin, và kinetin), TDZ là chất bổ sung tốt nhất cho việc thúc đẩy nhanh quá
trình tổng hợp asiaticoside [8].
Yu và cs (2005) đã nghiên cứu sự tích luỹ jaceosidin và siringin trong
nuôi cấy tế bào của Saussurea medusa bằng chất kích kháng thực vật là SA,
kết quả thu được jaceosidin (95 mg/L) cao gấp 2,5 lần và siringin (631 mg/L)
cao gấp 2,7 lần so với mẫu không bổ sung SA [26] và còn rất nhiều những
nghiên cứu khác.
1.2.2.3. Một số công trình nghiên cứu sản xuất hợp chất thứ cấp bằng nuôi
cấy tế bào
Sản xuất hợp chất bằng nuôi cấy tế bào là một hướng nghiên cứu đầy
triển vọng trong việc cung cấp các hợp chất thứ cấp trong công nghiệp sản
xuất dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm. Trên thế giới đã có nhiều công trình
nghiên cứu sản xuất hợp chất thứ cấp bằng nuôi cấy tế bào.
Điển hình như việc sản xuất taxol bằng nuôi cấy tế bào các loài Taxus đã
trở thành một trong những ứng dụng rộng rãi của nuôi cấy tế bào thực vật và
đang tạo ra các giá trị thương mại to lớn. Sở dĩ, taxol có thể được sử dụng
điều trị các trường hợp ung thư buồng trứng và ung thư vú. Ngoài ra, taxol
tiêu hóa. Nó là một isoquinoline alkaloid có trong hệ rễ của cây Coptis
japonica và vỏ của cây Phellondendron amurense.. Để thu được nguyên liệu
thô từ rễ cây C. japonica phải mất 5-6 năm. Yamada và Sato (1981) đã
nghiên cứu thành công quy trình tách chiết berberine bằng nuôi cấy huyền phù
tế bào C. japonica. Sau đó, công ty hóa dầu Mitsui (Nhật Bản) đã cải thiện
được năng suất bằng cách thêm 10 -8mM gibberellic acid vào môi trường nuôi
cấy, hiệu suất cao hơn tới 1,66 g/L [7].
20
Bảng 1.2. Các hợp chất thứ cấp đã được sản xuất từ nuôi cấy mô và tế bào thực vật
(Mulbagal and Tsay 2004)
Hợp chất thứ cấp
Tên loài
Tác giả
Alkaloids
Canthinonealkaloids
Rosmarinic acid
Capsaicin
Capsicum annuum L.
al. 1990
Anthraquinones
Catharanthine
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các chất kích
kháng trong nuôi cấy tế bào thực vật (Bảng 1.3), đã cho thấy vai trò quan
trọng của chất kích kháng đối với mục đích tăng khả năng tích lũy hợp chất
thứ cấp trong nuôi cấy tế bào [9], [15].
Thời gian bổ sung chất kích kháng vào môi trường nuôi cấy ảnh hưởng
đến khả năng tích lũy hợp chất thứ cấp trong nuôi cấy tế bào. Tuy nhiên, để
đạt được mục đích nuôi cấy, việc lựa chọn thời điểm bổ sung chất kích kháng
đòi hỏi phải có sự hiểu biết về con đường sinh tổng hợp các hợp chất thứ cấp
mong muốn. Chong và cs (2005) cho rằng, mẫu tế bào Morinda elliptica nuôi
cấy có bổ sung 50µM jasmonic acid tại thời điểm giữa pha log của chu kỳ
sinh trưởng tế bào, thu mẫu sau 3 ngày, hàm lượng anthraquinone thu được
39,6 mg/g khối lượng khô gấp 2,1 lần so với mẫu đối chứng và hai mẫu được
bổ sung cùng nồng độ jasmonic acid ở đầu pha log và pha ổn định. Mẫu tế bào
có bổ sung 100µM jasmonic acid ở đầu và giữa pha log, sau 5 ngày thu mẫu,
hàm lượng anthraquinone đạt 26,6 và 21,9 mg/g khối lượng khô cao gấp 2,9
và 1,4 lần so với mẫu không bổ sung jasmonic acid [16].
1.3.2. Vai trò chất kích kháng trong nuôi cấy tế bào thực vật
Sử dụng chất kích kháng trong nuôi cấy tế bào thực vật để cải thiện hiệu
suất tích lũy các hợp chất thứ cấp là một hướng đi phù hợp trong việc sản xuất
các tiền chất cho y học, thực phẩm và mỹ phẩm. Hầu hết những nghiên cứu
cho thấy khi bổ sung chất kích kháng vào môi trường nuôi cấy tế bào thực vật
đều làm tăng hàm lượng hợp chất thứ cấp tích lũy được.
Janusz Malarz và cs (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của MeJA và SA
vào sự tích lũy sesquiterpene lactone trong lông hút ở rễ cây rau diếp xoăn
Cichorium intybus. Kết luận bổ sung 100 µM MeJA sau 72 giờ làm tăng gấp
đôi lượng sesquiterpene lactone tích lũy trong tế bào lông hút ở rễ cây rau
diếp xoắn so với thí nghiệm đối chứng [23].
Seung- Mi- Kang và cs (2008) đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của MeJA và
(SA) đến quá trình sản xuất hoạt chất Bilobalit và Ginkgolides trong tế bào
1.4. Khái quát về cây rau má
1.4.1. Phân loại rau má (Centella asiatica L.)
Rau má, hay còn gọi là tích tuyết thảo hoặc lôi công thảo, là loài cây một
năm thân thảo trong họ Hoa tán (Apiaceae) [3].
1.4.2. Phân bố và đặc điểm hình thái
1.4.2.1. Phân bố
Rau má có nguồn gốc từ Australia, Ấn Độ và các đảo Thái Bình
Dương… Rau má là loài thực vật thân thảo phổ biến được sử dụng trong y tế,
thức ăn và trong công nghiệp mỹ phẩm. Ở Việt Nam, rau má mọc hoang khắp
23
nơi, thường gặp ở các bãi cỏ, bờ ruộng, ven suối, sườn đồi, quanh các làng
bản, những vùng ẩm ướt [8].
1.4.2.2. Đặc điểm hình thái
Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan, màu xanh lục hay llục
ánh đỏ, có rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, màu xanh với cuống dài và
phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt.
Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5–20 cm. Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc
thẳng đứng. Chúng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ.
Hoa rau má có màu trắng hoặc phớt đỏ , mọc thành các tán nhỏ, tròn gần
mặt đất. Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa
lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3 mm), với 5-6 thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị
và 2 vòi nhụy. Quả có hình mắt lưới dày dặc, đây là điểm phân biệt nó với các
loài trong chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn
cơm. Quả của nó chín sau 3 tháng và toàn bộ cây, bao gồm cả rễ, được thu hái
thủ công.
1.4.3. Thành phần hóa học
Các phân tích cho thấy thành phần hóa học của rau má gồm: nước
hen suyễn và bệnh giang mai...
Trong y học Trung Quốc, rau má cũng được biết đến là loại thảo dược
"nguồn mạch sự sống" bởi vì nó giúp làm tăng tuổi thọ. Mặc dù nghiên cứu
khoa học vẫn chưa chứng minh hiệu quả của của loại thảo dược này đối với
các rối loạn trong cơ thể, nhưng người ta cũng không phủ nhận tác dụng của
rau má trong việc điều trị chứng mất ngủ, xơ cứng bì, ung thư, rối loạn tuần
hoàn, tăng huyết áp, mất trí nhớ, liền sẹo và giảm nốt cục trên da cellulite. [3],
[4]. Một số bài thuốc từ rau má điều trị các bệnh như: chữa mụn nhọt, chữa
vàng da, kiết lỵ, chảy máu cam.
1.5. Khái quát asiaticoside
1.5.1 Khái niệm
Một trong số hoạt chất chiết xuất từ rau má là asiaticoside, công thức
phân tử là C48 H78O19. Tên gọi hóa học đầy đủ là:
[6-[[3,4-Dihydroxy-6-(hydroxymethyl)-5-(3,4,5-trihydroxy-6-methyloxan2-yl) oxyoxan-2-yl]oxymethyl]-3, 4, 5-trihydroxy-oxan-2-yl](1S, 2R, 4aS,
6aS, 6bR, 9S, 10R, 11R, 12aS, 14bR)-10, 11-dihydroxy-9-(hydroxymethyl) 1, 2,
25
6a, 6b, 9, 12 ahexa-methyl 2,3,4,5,6,6a,7,8,8a,10,11,12,13,14b-tetradecahydro1H-picene4a-carbo-xylate [19].
1.5.2. Tính chất lý hóa của asiaticoside
Asiaticoside tan tốt trong cồn, sản phẩm tinh thể hình kim màu trắng,
nhiệt độ nóng chảy là 230 đến 2330C [19].
1.5.3. Tác dụng dược lý của asiaticoside
Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng
của rau má. Những hợp chất chính có giá trị ở rau má là asiaticoside,
madecassoside và asiatic acid đã được phát hiện, nghiên cứu và ứng dụng.
Trong đó, asiaticoside là một triterpene glycoside và phân loại như một kháng
sinh. Asiaticoside là 1-O-acyl-D-glucose pyranose được tìm thấy trong tự
nhiên, nó là trisacharide ester của acid asiatic. Người ta cho rằng, trong cơ thể