Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số
thế giới, tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Lúa gạo
có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã
hội. Theo dự báo của FAO (Food and Agricuture Organization), thế giới đang
có nguy cơ thiếu hụt lương thực do dân số tăng nhanh, sức mua lương thực,
thực phẩm tại nhiều nước tăng, biến đổi khí hậu toàn cầu gây hiểm họa khô
hạn, bão lụt, quá trình đô thị hoá làm giảm đất trồng lúa, nhiều nước phải
dành đất, nước để trồng cây nhiên liệu sinh học vì sự khan hiếm nguồn nhiên
liệu rất cần thiết cho nhu cầu đời sống và công nghiệp phát triển. Chính vì
vậy, an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết hàng đầu của thế giới ở hiện tại và
trong tương lai.
Vấn đề bệnh trên cây lúa là một trong những vấn đề có ảnh hưởng
không nhỏ tới năng suất và phẩm chất cây lúa, trong đó nhóm bệnh hại do
nấm là một trong những đối tượng gây hại rất đáng quan tâm trong sản xuất
lúa.
Để phòng trừ những bệnh này, cho đến nay thì biện pháp hóa học vẫn
là phổ biến. Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn nhiều hạn chế, một mặt do đặc
điểm phát triển của nấm bệnh, mặt khác do nông dân chỉ sử dụng thuốc khi
bệnh quá nặng, ngoài ra biện pháp này còn gây ô nhiễm môi trường và để lại
dư lượng trên nông sản.
Biện pháp sử dụng giống kháng bệnh cũng gặp trở ngại vì nấm bệnh dễ
phát sinh ra nòi mới phá vỡ tính kháng (Kiyosawa S, 1989; Way và Heong,
1994; Noda và ctv, 1998).
Hiện tượng kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn (system acquired
resistanca, SAR), gọi tắt là kích kháng, giúp kích thích phản ứng tự vệ của
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
1
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
- Thử nghiệm một số chất kích kháng như clorua đồng nồng độ
0.05mM, oxalic acid nồng độ 1mM, 2mM, 4mM và Bion nồng độ 200ppm
nhằm hạn chế một số nấm gây bệnh trên hạt lúa.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích kháng đến tỷ lệ nảy mầm và sức
sống của mạ.
- Xác định hiệu quả của chất kích kháng phòng trừ bệnh nấm hại hạt
giống lúa.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
3
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ chế kháng bệnh ở thực vật
Đến nay kiến thức của nhân loại đã tiến khá sâu vào lĩnh vực miễn dịch
của thực vật đối với bệnh. Bên cạnh việc tiến rất sâu vào khía cạnh phân tử
của các gen kháng bệnh, các nhà khoa học còn đi sâu dần vào cơ chế của sự
kháng bệnh để từ đó đưa ra được biện pháp kích thích tính kháng bệnh tự
nhiên của cây trồng.
Sau khi tìm hiểu về cơ chế kháng bệnh ở thực vật người ta phân thành
hai nhóm: Nhóm cơ chế thuộc về sinh hóa học và nhóm cơ chế thuộc cấu trúc
mô học.
Cơ chế kháng bệnh thuộc về sinh hóa học.
Sau khi bị vi sinh vật tấn công để gây bệnh, nơi bị xâm nhiễm tiết ra
một loạt các hợp chất chống vi sinh vật, các protein liên quan đến bệnh, các
enzim để làm giảm hoạt động của mầm bệnh và nhiều chất khác.
Về hợp chất chống vi sinh vật có thể chia ra 2 nhóm: Nhóm
phytoanticipins và nhóm phytoaleuxins. Phytoaleuxins do ký chủ tiết ra để
chống lại với mầm bệnh, trong khi đó phytoanticipins không phải do ký chủ
trực tiếp tiết ra mà do sự tương tác giữa các chất của ký sinh và ký chủ tạo ra.
Hai nhóm này có thể tìm thấy trong các giống có tính kháng bệnh cao.
được
tích tụ trong tế bào với nhiệm vụ oxy hóa các chất độc do nấm tiết ra, Oxy
hóa các polyphenol làm cho các polyphenol không còn độc đối với tế bào,
nhưng H
2
O
2
với nồng độ cao lại gây hại cho tế bào. Do đó Peroxidase làm
giảm bớt tính độc của H
2
O
2
đối với tế bào ký chủ.
Bên cạnh sự ra tăng hoạt tính của các enzim còn xuất hiện các tín hiệu
do sự kích kháng gợi lên. Các tín hiệu bao gồm: salycilic acid, Jasmonic acid
và etylen.
Cơ chế kháng bệnh thuộc về cấu trúc mô học.
Có 4 cơ chế kháng bệnh về mặt mô học, tùy thuộc vào 4 cách xâm nhập
của nấm gây bệnh.
- Sự tạo ra lớp vách tế bào mới chung quanh vết thương để bao vây và
ngăn cản sự xâm nhập tiếp theo của các nấm có tính ký sinh yếu, chỉ xâm
nhập qua vết thương.
- Sự rắn chắc hóa vách tế bào bằng cách lignin hóa vách tế bào bị nấm
xâm nhiễm.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
5
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
- Sự hình thành papillae (vách dầy) bên dưới đĩa áp để ngăn cản sự xâm
nhập của nấm gây bệnh.
- Tích tụ hợp chất phenol đưa đến phản ứng tự chết của tế bào để cô lập
tích hình chữ nhật.
- Khảo sát sự tích tụ H
2
O
2
: Bố trí thí nghiệm tương tự như các thí
nghiệm trên. Mẫu thu thập ở các thời điểm 4h trước khi nấm xâm nhiễm và
thời điểm 0, 4, 8, 12, 16, 20, 24, 36 và 48h sau khi nấm xâm nhiễm, sau đó
nhuộm với dung dịch 0,05% DAB (3,3’ – diaminobenzidine, D – 8001,
Sigma) Theo phương pháp của Thordal – Christensen et al. (1997). Ghi nhận
phần trăm đĩa áp tích tụ H
2
O
2
, diện tích vùng tế bào có sự tích tụ H
2
O
2
và mức
độ tích tụ.
* Quan sát sự gia tăng hoạt tính của các enzim có liên quan đến sự
kích kháng
- Sự tăng cường enzim PAL (phenylalanine ammonia lyase), beta –
1,3- glucannase, peroxidase và catalase.
2.2 Sự kích thích tính kháng bệnh của cây trồng
2.2.1 Khái niệm
Kích thích tính kháng bệnh ở thực vật thường được gọi tắt là “kích
kháng”, là một phương pháp giúp cho giống cây trồng bị nhiễm trở nên có
khả năng kháng được bệnh ở mức độ nào đó sau khi được xử lý chất kích
kháng. Kích kháng không tác động trực tiếp đến mầm bệnh mà nó kích thích
2
PO
4
) 1% lên ớt kích thích tính kháng với bệnh
phấn trắng do Leveillula taurica (Reuveni và ctv, 1998).
Kích kháng lưu dẫn (systemic acquired resistance: SAR)
Tính kháng không chỉ thể hiện tại vị trí được xử lý bởi tác nhân kích
kháng mà còn truyền đến những mô cây cách xa nơi được xử lý kích kháng
(Ryal và ctv, 1996). Những tác nhân này có cả tác nhân sinh học và không
phải sinh học. Khi xử lý kích kháng bằng biện pháp ngâm hạt nhưng cây có
khả năng tự vệ kháng lại các bệnh trên lá cũng thể hiện kích kháng lưu dẫn.
Kích kháng lưu dẫn khác với kích kháng tại chỗ ở những tín hiệu có khả năng
truyền đến các mô của cây khác cách xa điểm xử lý kích kháng và làm nâng
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
8
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
cao khả năng tự vệ trong cây (Van Loon và ctv, 1998). Manandhar và ctv
(1998) kích thích tính kháng lưu dẫn chống bệnh cháy lá lúa bằng cách sử
dụng dòng nấm Pyricularia oryzae không độc tính và nấm Bipolaris
sorokiniana không những làm giảm bệnh đạo ôn mà còn làm tăng năng suất
lúa.
2.3 Tình hình nghiên cứu ứng dụng kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Kỹ thuật kích kháng tính kháng lưu dẫn trong cây trồng là kỹ thuật sử
dụng một loài vi sinh vật nào đó không gây hại cho môi trường hoặc là một
hóa chất nào đó không có tác dụng diệt vi sinh vật gây bệnh cũng như không
gây ô nhiễm môi trường nhưng có tác dụng kích thích cây trồng tạo ra tính
kháng bệnh. Kỹ thuật đã được nghiên cứu ứng dụng thành công trên thế giới
và trên một số loài cây trồng như dưa leo, cà chua, lúa mạch, lúa
(Hammerschmidt at al., 1995; Ozeretskovskaya, 1995; Jorgensen et al., 1990;
Erysiphe graminis với khoảng thời gian 30 phút, 1 giờ, 2 giờ sẽ làm giảm độ
độc của nấm Erysiphe graminis lần lượt là 35%, 22% và 5,8%.
Theo Gregerson và Smedegaad (1989) được Ngô thành Trí và ctv
(2004) trích dẫn thấy rằng ở loài nấm hoại sinh Cladosporium macrocarpum
cũng có khả năng gây kích kháng, giúp lúa mạc chống lại bệnh phấn trắng.
Theo Vilich và Neltrien (1990) được Trịnh Ngọc Thúy (2000) trích
dẫn, chủng hợp Erysiphe graminis f.sp avenae và Puccinia coronata f.sp
avenae vào lúa mạch, làm giảm độ độc của nấm Erysiphe graminis f.sp hordei
38%.
Yamada và ctv (1990), đã sử dụng methanol trích từ hạt lúa mì và lúa
mạch để chống nấm Pyricularia oryzae rất mạnh.
Yokoyama và ctv (1991), chủng nấm Erysiphe graminis f.sp hordei vào
cây lúa mạch, làm cây lúa mạch tạo ra các papilla bên dưới đĩa áp của nấm
gây bệnh, giúp chống lại sự xâm nhập của nấm này.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
10
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Van Peer (1991) do Tuzun và Klopper (1995) trích dẫn nhận thấy,
xử lý vi khuẩn vùng rễ Pseudomonas sp. Chủng WCS 417 lên cây hoa cẩm
chướng, giúp cây tăng tính kháng chống lại bệnh héo rũ.
SA, acetyl salicytic acid (ASA), di-potassium photphate (K
2
HPO
4
),
CuCl
2
, sodium salicylate … cũng được ghi nhận có khả năng kích kháng bệnh
cháy lá lúa (Manandhar et al 1998, Kloepper et al 1992).
Phun SiO
grisea.
Theo Rajoppan và ctv (1995), xử lý nickel nitrate trên callus ở cây lúa có
tác dụng làm tăng hoạt động của Phenylalanine amonialyase và peroxidase, sẽ
kích kháng đối với bệnh bạc lá lúa do Xanthomonas campestris pv. oryzae …
SA bảo vệ cây lúa ở giai đoạn mạ chống lại bệnh đạo ôn lúa (Cai và
Zheng, 1996), và giúp cây lúa mạch chống lại bệnh mốc sương.
Phun SA 0,01mM lên lá mạ, thì SA kích thích làm cho hai chất
phenylalanine amonialyase (PAL) và peroxidase (POD) hoạt động trong cây
tăng lên, khi đó hàm lượng lignin cũng tăng lên và tích lũy độc tố
monilactone, là một chất kháng sinh thực vật giúp kìm hãm sự nảy mầm
Magnaporthe grisea theo Cai và ctv (1996).
Cai (1996 và 1997) xử lý mạ bằng salicylic acid (SA) 0,01mM, sau 2 –
5 ngày thì chủng bào tử nấm Magnaporthe grisea lên cây lúa giúp giảm bệnh
đạo ôn lúa từ 24 – 59%.
Agrios (1997) cho rằng, có thể xử lý bằng Protein hay glycoprotein
trích từ vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, lipid trích từ nấm Phytophthora
infestans, hay polysaccharide từ nấm để kích kháng cây trồng.
Theo Krishnamurthy và Gnanamanickam (1997), vi khuẩn
Pseudomonas fluorescens 7 – 14 và P. patida v14 sống trong mô thực vật gây
cảm ứng hệ thống kháng làm giảm bệnh đốm vòng.
Theo Manandhar và ctv (1998) cho rằng, cây lúa được chủng lên với
nấm Bipolaris sorokiriana không độc, giúp cây lúa giảm bệnh đạo ôn và làm
tăng năng suất lúa.
SA cũng kích thích tính kháng bệnh trên dưa leo chống lại nấm
Colletotrichum và trên lúa mạch chống lại bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
graminis f.sp hordei theo Manandhar (1998). Cũng theo tác giả này, K
2
năm qua chủ yếu chúng ta vẫn đi sâu nghiên cứu thành phần bệnh hại trên cây
lúa ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển ngoài đồng ruộng. Trong những
năm gần đây, do sự phát sinh gây hại đáng kể của một số loại bệnh trên lúa
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
13
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
như bệnh đen lép hạt, bệnh biến màu hạt…, cùng với sự tài trợ của UNDP và
sự đầu tư của Chính phủ thông qua dự án VIE/86/002, có sự giúp đỡ của Viện
Bệnh hạt giống của Chính phủ Đan Mạch, một số cơ quan nghiên cứu trong
nước như Viện Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội , Trung
tâm Khảo Kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương đã triển khai điều tra,
giám định thành phần và bước đầu nghiên cứu một số bệnh nấm và vi khuẩn
truyền qua hạt giống của một số loại cây lương thực, cây thực phẩm chúng ta
đã phân lập được thành phần một số nấm, vi khuẩn trên các mẫu hạt giống
lúa, ngô, đậu tương, rau.
Theo Phạm Văn Dư và ctv (1997) xử lý mạ bằng cách chủng vào cây
mạ nguồn bệnh Magnaporthe grisea đã bị làm yếu đi, 2 ngày sau chủng nguồn
bệnh cháy lá thì lúa có khả năng giảm bệnh từ 35 – 38%.
Theo Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thúy, Diệp Đông Tùng, Võ Bình Minh
và Phạm Văn Kim (1999), sử dụng hóa chất như ethrel 800ppm, saccharine
0,05mM, Bion 200ppm, natrium silicate 4mM và CuCl
2
0,05mM cho hiệu quả kích
kháng bệnh cháy lá lúa kéo dài đến 18 ngày sau khi phun lên lá lúa. Ngoài ra, các
hóa chất chitosan glucosamine, napthalence acetic acid 30ppm, KH
2
PO
4
5mM,
Aspirin (acetylsalicylic acid) 0,4mM, SA 0,4mM, ascorbic acid 1mM và benzoic
đạo ôn cổ bông (Du et al, 2000).
Theo Trịnh Ngọc Thúy (2000), xử lý hạt lúa bằng cách ngâm với CuCl
2
0,05mM, cây lúa có khả năng kích kháng bệnh cháy lá lúa từ 9 – 24 ngày sau
khi sạ và khi phun trên lá vào 20 ngày sau khi sạ thì làm giảm đến nhỏ hơn
50% tỷ lệ bệnh trên lá lúa và có thể kéo dài đến 43 ngày sau khi sạ.
Trần Vũ Phến và ctv (2000), đã phát hiện ra một chủng nấm
Colletotrichum sp. gây bệnh trên cỏ lồng vực trong ruộng lúa tại Đồng Tháp,
không gây hại cho lúa và có khả năng kích kháng, giúp cây lúa giảm bệnh đạo
ôn từ 58 – 72% so với đối chứng.
Clorua đồng còn cho thấy biểu hiện kích kháng chống lại bệnh cháy lá
lúa khi khảo sát ở mức độ sinh hóa (Ngô Thành Trí và ctv, 2001) và mô học
(Huỳnh Minh Châu và ctv, 2001).
Theo Phạm Văn Dư và ctv (2001), sử dụng Oxalic acid 1mM, Oxalic
acid + natritetraborac làm tăng chiều cao, giảm bệnh cháy lá, giảm bệnh thối
cổ gié từ 50 – 60% và tăng năng suất từ 16 – 20%.
Theo Nguyễn Thị Thanh Xuân và Phạm Văn Kim (2001), ngâm hạt với
clorua đồng và xịt bổ sung với K
2
HPO
4
hoặc Na
2
SiO
3
có khả năng kích kháng
bệnh cháy lá đến 30 ngày sau khi gieo trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng
ruộng.
Hạt lúa được xử lý với Na
2
quả đã cho thấy giúp cây lúa giảm bệnh trên lá kéo dài đến 55 ngày sau kích
kháng.
Theo Nguyễn Ngọc Trì (2004) khi xử lý SA (1.000ppm) hoàn toàn bảo
vệ cây ớt ở giai đoạn 6 lá khỏi sự tấn công của nấm Colletotrichum sp. với
khả năng bảo vệ đạt tới 100%.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Oanh và ctv (2006), Nguyễn
Minh Thùy (2006) ghi nhận ba hóa chất Salicylic acid (SA, 1.000ppm), CuCl
2
(0,05mM) và KH
2
PO
4
(5mM) đều có khả năng kích kháng bệnh thán thư trên ớt.
Phạm Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Khánh Vân và Trần Thị Thu Thủy
(2009), đã thí nghiêm khả năng kích kháng của 3 chất là Salicylic acid, CuCl
2
và KH
2
PO
4
đối cới bệnh thán thư ớt Colletotrichum sp., kết quả cho thấy trong
3 chất SA cho hiệu quả kích kháng sớm nhất và keo dài đến 144 GSP,
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
16
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
KH
2
PO
4
có hiệu quả kéo dài đến 96 GSP, còn CuCl
17
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
– Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, riêng ở Quảng Ngãi trong vụ Đông Xuân năm
1995 – 1996 tỷ lệ hạt giống bị nhiễm lên đến 39.5%. Nấm gây bệnh tiêm lửa
(Bipolaris oryzae) xuất hiện nhiều nhất trong các lô hạt giống ở Quảng Ninh
(16.6%), Thừa Thiên Huế (15.9%), Quảng Nam – Đà Nẵng (7.6%) và Quảng
Ngãi (14.7%).
Kết quả kiểm tra nấm bệnh trên một số lô giống lúa nhập khẩu và sản
xuất tại một số tỉnh ven biển phía Bắc, duyên hải miền Trung (Trần Đình Nhật
Dũng, Nguyễn Thị Hoa, Phạm Thị Thoa, 1996) cho thấy: tỷ lệ nhiễm bệnh ở
tất cả các lô hạt giống đều rất cao, trung bình từ 11.6 – 51.6% số hạt, trong đó
cao nhất ở Quảng Ninh (51.6%), Thanh Hóa (41.3%), Thái Bình (37.2%),
Nam Định (28.6%), Quảng Ngãi (27.1%), Thừa Thiên Huế (25.1%), Nghệ An
(21.8%) và Hà Tĩnh (12.9%). Các giống bị nhiễm với tỷ lệ khá cao đó là
giống Mộc Tuyền (47.7%), các giống lúa thuần Trung Quốc bị nhiễm với tỷ lệ
34.2% và chủ yếu là nấm gây bệnh đốm lá.
Kết quả nghiên cứu bệnh trên hạt giống lúa trong giai đoạn chuyển đổi
cơ cấu cây trồng ở miền Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Tuất, 1998 – 1999) đã
xác định được 5 loại nấm gây biến màu hạt là Bipolaris oryzae, Alternaria
padwickii, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Rhizoctonia solani.
Trên các giống lúa Trung Quốc đã phân lập được 5 loại: Bipolaris oryzae,
Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae và
Sarocladium oryzae.
Để đánh giá mức độ nhiễm nấm trên một số lô hạt giống lúa được sản
xuất ở Việt Nam, Olga Kongsdal và Phạm Thị Thoa (1996) cho biết: mức độ
nhiễm nấm trên hạt giống lúa Việt Nam khá cao: 96% số mẫu kiểm tra bị
nhiễm nấm Alternaria padwickii, 87% số mẫu kiểm tra bị nhiễm nấm
Bipolaris oryzae, 52% số mẫu kiểm tra bị nhiễm nấm Microdochium oryzae,
39% số mẫu bị nhiễm nấm Sarocladium oryzae. Trong đó tỷ lệ nhiễm nấm
Bipolaris oryzae trung bình là 8.0%.
làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt giống.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
19
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Kết quả điều tra thành phần nấm và vi khuẩn trên hạt giống một số
giống lúa chính năm 2001 vùng đồng bằng sông Hồng (Bùi Thị Khơi, 2002)
đã phân lập được 19 loài nấm và 5 loài vi khuẩn trên hạt giống lúa sản xuất ở
9 vùng đồng bằng sông Hồng.
Hạt giống bị nhiễm bệnh đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nảy mầm, nếu bị
nhiễm nặng, hạt giống có thể không nảy mầm được, gây thiệt hại cho sản xuất
nông nghiệp. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của bệnh tới tỷ lệ nảy mầm của hạt
giống lúa (Phạm Thị Hoa, 1997) đã thông báo mẫu giống IR17494 đạt tỷ lệ
nảy mầm cao là mẫu có tỷ lệ nhiễm nhẹ (<10%), mẫu nhiễm đồng thời cả hai
nấm Bipolaris oryzae và Alternaria padwickii với tỷ lệ nhiễm cao dẫn đến có
tỷ lệ cây mầm không bình thường cao.
Trong danh mục thành phần dịch hại trên lúa gạo năm 1977 đã công bố
cho các nước trên thế giới biết: lúa gạo Việt Nam có 14 loại nấm và 1 loại vi
khuẩn.
Kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm hạt giống cây trồng (Nguyễn
Đức Huy và CTV, 2002) cho biết khi hạt giống lúa bị nhiễm nấm von
(Fusarium moniliforme) thì xử lý bằng thuốc Cacbendazime 50WP nồng độ
0.3% cho hiệu lực phòng trừ bệnh rất tốt.
Tóm lại các kết quả điều tra nghiên cứu bệnh hại trên hạt giống lúa ở
nước ta đã chứng tỏ rằng các lô hạt giống được sản xuất tại các tỉnh trung du,
miền núi, các tỉnh vùng duyên hải ven biển có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so
với ở vùng đồng bằng sông Hồng và những vùng có điều kiện đất đai thuận
lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Các kết quả thu được chủ yếu
vẫn là điều tra thành phần và tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh mà chưa có các giải pháp
cụ thể để phòng trừ hoặc xử lý các lô hạt giống bị nhiễm bệnh.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
Tên thương phẩm: Bion
Tên hoạt chất: Acidbenzolar-S-methyl
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
21
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Hình 3.1: Công thức cấu tạo của Acidbenzolar-S-methyl
Nguồn: Wikimedia Common s
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
22
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
* Đồng Clorua:
- Công thức cấu tạo: CuCl
2
Hình 3.2 : Cấu trúc tinh thể đồng khan (II) clorua
Nguồn: Wikimedia Commons
Đồng clorua đã được ứng dụng trong kích kháng rất nhiều bệnh hại cây
trồng. Đồng clorua là hoạt chất chính trong phân bón lá cropsar-3 ĐHCT,
nồng độ 0.05mM chất có khả năng kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn giúp
cây lúa giống nhiễm bệnh trở nên kháng với bệnh đạo ôn lúa. Sử dụng
Cropsar-3 ĐHCT để xử lí hạt giống trước khi phun sạ và phun lên lá lúa vào
25 ngày sau khi sạ, giúp giảm bệnh đạo ôn trên lá.
Cơ chế của hiện tượng kích kháng do cropsar-3 ĐHCT tạo ra được là
do có sự gia tăng hoạt tính của các enzim β-1,3 glucanase, chitinnase,
Phenylalanine ammonia-lyase (PAL), peroxidase, catalase va còn có sự gia
tăng ligin hóa vách tế bào lá lúa, đồng thời có gia tăng sự tích lũy chất
Polyphenol và Hydrogen peroxide trên vết bệnh hơn. (Phạm văn Kim, Trần
Thị Thủy, Ngô Thành Trí, Trần Vũ Phến, 2009)
* Oxalic acid
Công thức phân tử: HOOC-COOH (khan)
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
- Đĩa petri, que cấy, dao cắt nấm, đèn cồn, panh, ống đong, bình tam
giác, đũa thủy tinh, lam kính, lamen, giấy thấm (Blotter paper), giấy đặt nảy
mầm.
- Tủ lạnh, tủ định ôn, tủ sấy, nồi hấp, kính hiển vi quang học, kính hiển
vi soi nổi, chậu vại…
3.1.5 Môi trường nuôi cấy:
Môi trường WA, PDA, PCA, PGA.
3.2 Địa điểm nghiên cứu.
Phòng thực tập bệnh cây – Bộ môn Bệnh cây Nông dược Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội.
Các nghiên cứu trong nhà lưới được tiến hành tại khu nhà lưới – Khoa
Nông học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
3.3 Nội dung nghiên cứu.
3.3.1 Nghiên cứu trong phòng:
- Điều tra, giám định thành phần nấm bệnh trên giống lúa Q5.
- Điều tra, xác định tỷ lệ nhiễm nấm Alternaria padwickii đến tỷ lệ nảy
mầm của mẫu bị nhiễm nấm.
- Phân lập nấm Alternaria padwickii từ giống lúa Q5 bị nhiễm nấm
Alternaria padwickii, nuôi cấy trên môi trường PDA để thu được nấm thuần.
- Quan sát đặc điểm, hình thái, sự phát triển của nấm ở trên hạt và trên
môi trường PDA.
- Khảo sát hiệu lực của chất kích kháng Bion, CuCl
2
0.05mM, Oxalic
acid ở các nồng độ 1mM, 2mM, 4mM để xử lý các mẫu hạt lúa giống, sau đó
đặt trên giấy thấm để xác định tỷ lệ nấm Alternaria padwickii sau khi xử lý
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
25