ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI (DỰ ÁN) CẤP TỈNH NGHIÊN CỨU TỒN TRỮ HẠT GIỐNG LÚA
BẰNG TÚI YẾM KHÍ
Cơ quan chủ trì: VIỆN LÚA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts. Dương Văn Chín HẬU GIANG – 2011
ii
7. Kinh phí thực hiện đề tài: 120 triệu đồng
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI
1.Kết quả nghiên cứu:
1.1. Ý nghĩa khoa học của kết quả nghiên cứu:
Trong công tác nghiên cứu di truyền chọn giống, không phải tất cả các cơ sở
iii
nghiên cứu đều có đầy đủ các phương tiện trữ lạnh hiện đại để tồn trữ hạt của các
đời con lai phục vụ cho công tác nghiên cứu. Với phương thức tồn trữ yếm khí
có thể giúp tồn trữ được các loại hạt giống trong quá trình lai tạo, chọn lọc, nhân
giống để tạo ra các giống lúa mới. Phương thức này cũng có thể được ứng dụng
trong công tác chọn tạo giống lúa mới tại cộng đồng hoặc duy trì sự đa dạng sinh
học đối với cây lúa và các loại cây trồng lấy hạt khác.
1.2. Ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng kết quả khoa học:
- Đối với bồi dưỡng và đào tạo:
+ Các cán bộ của Trung tâm khuyến nông tỉnh và cán bộ thuộc hai huyện Vị
Thuỷ, Phụng Hiệp sẽ được nâng cao trình độ trong quá trình tham gia thực hiện
đề tài.
+ Nông dân phối hợp thực hiện nghiên cứu sẽ nắm vững về mặt lý thuyết cũng
như thực hành kỹ thuật tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm khí, sẽ vận dụng cho
việc tồn trữ hạt lúa giống tại chính gia đình mình đồng thời quảng bá cho các
nông dân lân cận để biện pháp kỹ thuật này được lan tỏa ra nhanh chóng trong
sản xuất.
- Đối với kinh tế xã hội: Nông dân được lợi nhiều vì với phương thức tồn trữ
này, hạt lúa giống sẽ được chủ động tồn trữ quanh năm và có thể được sử dụng
để gieo sạ bất cứ lúc nào. Lúa hàng hoá cũng có thể tồn trữ để chờ giá lên cao,
gia tăng thu nhập.
2. Các sản phẩm khoa học (nếu có)
(các công trình, các báo cáo khoa học đã công bố trên các tạp chí khoa học, hội
nghị khoa học trong và ngoài nước và các kết quả ứng dụng ……có liên quan
tiếp. Thực tế đó đã dẫn đến kết quả là người nông dân không chủ động được
nguồn giống sản xuất, đồng thời chất lương hạt giống sử dụng cũng không cao.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “ Nghiên cứu tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm
khí” được tổ chức thực hiện nhằm mục đích chính là “ Xây dựng qui trình kỹ
thuật tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ
môi trường tự nhiên”. Hai mục tiêu chuyên biệt bao gồm (i) Xác định lọai túi
yếm khí Việt nam có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm trên 85% sau 9 tháng tồn
trữ và (ii) Xác định các phương thức tồn trữ hạt lúa giống khả thi trong điều kiện
Hậu Giang.
Có năm nội dung nghiên cứu trong đề tài này đã được thực hiện để đảm bảo
đạt được các mục tiêu đề ra.
- Nội dung thứ nhất là: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của các lọai bao yếm khí,
phương thức tồn trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa giống và quần thể côn trùng
kho vựa gây hại”.Kết quả của nghiên cứu thứ nhất cho thấy chất lượng của bao
VN1 và VN2 sản xuất tại Việt Nam với giá thành hạ vẫn cho hiệu quả tương tự
với bao Israel ngọai nhập đắt tiền. Về phương thức tồn trữ thì đã khẳng định
vi
được tồn trữ yếm khí có hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế mọt đục thân nhỏ
(Rhizopertha dominica) tấn công hạt giống và tỷ lệ nảy mầm vẫn duy trì ở mức
cao sau thời gian dài tồn trữ.Sau 9 tháng tồn trữ,tỷ lệ nảy mầm trung bình trong
ba lọai bao VN1, VN2 và bao Israel vẫn còn đạt 93,4%, trong khi đó trong bao
hảo khí, hạt giống hầu như chết hòan tòan và tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 0,1%.
- Nội dung thứ thứ hai là: “ Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của của hạt giống được
trữ yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg lúa”. Kết quả nghiên cứu của nội dung này
cho thấy sau 9 tháng tồn trữ côn trùng trong bao VN 1 là 0,8 con/1 kg lúa, bao
VN2 là 1,9 con/1kg lúa và cũng gần như tương đương với bao Israel với 0,0
con/1 kg lúa. Trong khi đó trong bao tải PP hảo khí số mọt đục thân nhỏ lên đến
31,4 con/1 kg lúa. Tỷ lệ nảy mầm của hạt trong bao VN1 là 87,4% và VN2 là
89,1%, trung bình là 88,3%. Trong bao Israel, tỷ lệ nảy mầm đạt 90,5% trong khi
trong việc tồn trữ hạt giống. Sau 9 tháng tồn trữ, tỷ lệ nảy mầm trung bình trong
bao VN1 là 91,2% và VN 2 là 94,1%, cao hơn so với yêu cầu của đề tài là 85%.
Chai PET, cal nhựa trắng, cal nhựa xanh đều cho hiệu quả rất tốt với tỷ lệ nảy
mầm lần lượt là 95,0% ; 95,9% và 96,3%.
viii
MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa Thông tin chung về đề tài
ii
Tóm lược
v
Mục lục
viii
Bảng chú giải các chử viết tắt
9
2.2.1
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yế
m khí,
phương th
ức tồn trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạ
t
lúa giống và quần thể côn trùng kho vựa gây hại.9
2.2.2
Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống được trữ
yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg
11
2.2.3
Nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yế
m khí lúa
giống bằng bao PE và các loại cal nhự
a khác
nhau
12
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến ẩm độ hạ
t
lúa giống tồn trữ
16
3.1.2
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến tỷ lệ nảy mầ
m.
17
3.1.3
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đế
n côn trùng
kho vựa
18
3.2
Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống đượ
c
trữ yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg
19
3.2.1
Ảnh hưởng của các phương cách tồn trữ đến ẩm
độ hạt
a lúa
khác nhau đến ẩm độ hạt giống
23
3.3.2
Ảnh hưởng của các loại bao và thùng chứa lúa
khác nhau đến mật số mọt đục thân nhỏ
24
3.3.3
Ảnh hưởng của các loại bao và thùng chứa lúa
khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống
25
3.4
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng củ
a bao
polyethylene VN 2 với phương thức tồn trữ yế
m
khí đến tỷ lệ nảy mầm hạt lúa giống tồn trữ tạ
i
nhà nông dân
27
3.4.1
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa tồn trữ
28
3.5.2
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bở
i
các nghiệm thức
30
3.6
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chứa trong các loạ
i
dụng cụ khác nhau quan sát lúc 9 tháng sau tồ
n
trữ.
31
xi
3.7
Tính tóan hiệu quả kinh tế
32
3.8
Tập huấn, đào tạo, bài báo.
33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
2. VN 08 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,08 mm
3. VN1 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,1 mm
4. VN2 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,12 mm
5. PP Poly-propylene
6. STT Sau tồn trữ
7. IRRI Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế (International Rice
Reasearch Institute)
8. VLĐBSCL Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long
xiii
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tựa hình Trang
1. Thí nghiệm tồn trữ giống bằng các loại bao khác nhau 52
2. Thí nghiệm về tỷ lệ nảy mầm của hạt giống trong bao yếm khí
lớn
52
3. Thí nghiệm so sánh hiệu quả tồn trữ yếm khí lúa giống bằng bao
PE và các loại cal nhựa khác nhau
53
4. Thí nghiệm tồn trữ yếm khí trong điều kiện tại nhà nông dân 54
5. Hội thảo kỹ thuật về phương pháp tồn trữ yếm khí tại Vị Thanh 55
6. Túi yếm khí Việt Nam do đề tài làm ra được bán trên thị trường 56
8
Mật số mọt đục thân nhỏ chịu ảnh hưởng bởi các loại bao,
thùng chứa lúa khác nhau
25
9
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bởi các loại
bao, thùng chứa khác nhau
26
10 Ẩm độ hạt giống chứa trong các túi yếm khí khác nhau. 29
11
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bởi các
nghiệm thức
30
12
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống ở các loại dụng cụ chứa khác
nhau lúc 9 tháng sau tồn trữ
32
1
MỞ ĐẦU
Mục tiêu đề tài:
Mục tiêu chính:
“Xây dựng qui trình kỹ thuật tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí trong điều
kiện nhiệt độ và ẩm độ môi trường tự nhiên”.
Mục tiêu chuyên biệt:
- Xác định loại túi yếm khí Việt Nam có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm trên
85% sau 9 tháng tồn trữ.
- Xác định các phương thức tồn trữ hạt lúa giống khả thi trong điều kiện Hậu
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGÒAI NƯỚC
Vào thời cổ đại tại vùng Trung cận đông, người dân đã biết cách chôn hạt
ngũ cốc dưới đất. Họ đã đi đến kết luận rằng chôn dưới đất khô ráo, ít tiếp xúc
với không khí thì hạt ít bị hư hỏng và tồn trữ được lâu hơn, đảm bảo nguồn
lương thực dự trữ cho cuộc sống của họ. Vào thời kỳ thế chiến thứ hai, tại
Argentina những bồn chứa hạt được thiết kế đóng kín, phân nửa nổi lên mặt
đất và phân nửa chôn sâu dưới lòng đất. Với hệ thống này thời gian tồn trữ hạt
được kéo dài hơn. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, một đề án tồn trữ yếm
khí hạt lương thực dự trữ đã thành công tại đảo Cyprus và hạt được giữ trong
vòng vài ba năm với chất lượng tốt. Sau đó mô hình được tổ chức thực hiện
thành công trên diện rộng đối với nguồn lương thực dự trữ quốc gia tại Kenya
vào những năm 90.
Haogen Plast Project Ltd. (1970) và nhà quản lý xuất khẩu là ông Tom De
Bruin đã có một dự án nghiên cứu phát triển để kinh doanh các sản phẩm
dụng cụ chứa có tính chất yếm khí. Grain Pro Inc. là một tổ chức của Mỹ đã
tổ chức chuyển giao công nghệ này đến các nước đang phát triển châu Á và
châu Phi và tiến bộ kỹ thuật này đã tích cực tham gia chương trình an ninh
lương thực của nhiều nước. Hiện nay Grain Pro. Inc. đã hợp tác chặt chẽ với
Viện lúa quốc tế IRRI để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật này đến các nước trồng
lúa châu Á. Tuy nhiên giá bán của lọai bao này rất đắt với hiện nay (2010)
khỏang 1,6 đến 2 USD một túi và thuế nhập khẩu là 45% cộng thêm tiền
chuyên chở từ Israel về. Do đó vấn đề nghiên cứu tìm ra lọai bao phù hợp, rẽ
tiền trong điều kiện Việt Nam là cần thiết.
Có một cán bộ của VLĐBSCL trong thời gian tham gia hội nghị tại IRRI từ
ngày 29/11/2004 đến 3/12/2004 đã nhận thấy rằng đây là tiến bộ kỹ thuật quí
báu có thể giúp nông dân Việt Nam tồn trữ hạt giống lúa dài hạn, tồn trữ lúa
hàng hóa để chờ thời điểm lúa tăng giá cao để bán thu lợi nhuận cao. Ngoài
biến động đến 3%. Mật số côn trùng giảm và hạt duy trì sự sống với tỷ lệ nảy
mầm cao từ 5 đến 12 tháng (Richman, 2004). Kích thước của hệ thống có thể
từ 3 lít đến 300 tấn. Hệ thống có thể được sử dụng cho lúa, bắp, cà phê, ca
cao, đậu và các lọai hạt khác. Hệ thống tồn trữ yếm khí giúp cải thiện độ sống
của hạt (tăng tỷ lệ nảy mầm, tăng chất lượng nông sản bởi vì nó duy trì ẩm độ
ban đầu, giảm tác hại của côn trùng trong kho mà không cần dùng đến thuốc
sát trùng. Hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao và lúa thương phẩm duy trì chất
lượng gạo tốt.
Kỹ thuật tồn trữ bằng túi yếm khí với những vật liệu ít bị ảnh hưởng hoặc
phân hủy dưới ánh sáng mặt trời đã được thí nghiệm tại Sri Lanka vào cuối
những năm 80 của thế kỷ trước (Donahaye và ctv, 1991). Kỹ thuật tồn trữ
bằng túi yếm khí đã được đánh giá đầy đủ tại Philippines và được áp dụng
thành công ở vùng sâu, vùng xa thuộc quốc gia này và một số nơi khác trên
thế giới như là một phương tiện ít tốn kém thay thế các cơ sở tập trung hiện
đại đắt tiền (Alvindia và ctv, 1994). Trong quá trình tồn trữ bằng kỹ thuật này
5
làm cho lượng oxygen giảm nhanh chóng và côn trùng không còn đủ oxygen
để hô hấp nên bị tổn thương nghiêm trọng hoặc chết (Navarro và Donahaye,
1998).
Tại Việt Nam, một thí nghiệm đã được tiến hành tại Trung tâm giống
Bạc Liêu, sử dụng hai giống lúa địa phương và hai giống lúa cao sản. Hai
giống lúa mùa được sử dụng để nghiên cứu là giống Tài Nguyên và giống
Một Bụi Đỏ. Hai giống lúa cao sản tham gia nghiên cứu là Jasmine 85 và OM
2717. Hạt giống của 4 giống lúa này được trữ trong bao yếm khí và đặt tại
kho chứa lúa của Trung tâm giống Bạc Liêu. Ẩm độ trước khi bắt đầu thí
nghiệm biến thiên từ 11,3 đến 13,6%. Có hai kiểu tồn trữ là tồn trữ hảo khí và
tồn trữ trong bao yếm khí Super Bag từ Viện lúa quốc tế IRRI. Các bao thí
nghiệm được đặt trên kệ gỗ và được bảo vệ bằng lưới kim lọai để chống chim,
chuột. Mẫu hạt ban đầu được lấy mẫu vào tháng 2 năm 2005 và cũng lấy mẫu
Viện lúa đồng bằng sông Cửu long đã nổ lực thực hiện nghiên cứu để tìm
ra loại bao polyethylene giá rẽ nhưng có hiệu quả tương đương bao IRRI.
Viện lúa ĐBSCL đã hợp tác với Sở Nông nghiệp &PTNT TP Cần Thơ trong
giai đoạn 2005-2006 để nghiên cứu vấn đề này. Qua một năm thí nghiệm về
tồn trữ lúa giống yếm khí bằng túi nhựa dẽo polyethylene đặc biệt nhập khẩu
từ Israel có bề dày 0,078 mm, trên 90 nông dân tại 8 quận huyện thuộc TP
Cần Thơ đã đạt được kết quả khả quan. Trong 90 nông dân tham gia thí
nghiệm, chỉ có 80 nông dân tổ chức thí nghiệm thành công, đạt tỷ lệ 88,9%.
Mười nông dân thất bại chủ yếu là do không bảo quản tốt các mẫu thí nghiệm,
để chuột cắn phá các túi yếm khí làm cho túi không còn phát huy tác dụng
yếm khí và trở thành túi chứa như bao tải thông thường. Trữ lúa giống bằng
bao tải thông thường, hảo khí theo tập quán của nông dân chỉ duy trì được tỷ
lệ nảy mầm 53,77% sau 6 tháng tồn trữ, không đạt yêu cầu của các cấp giống
phục vụ việc nhân giống là tối thiểu phải đạt 80%. Đến tháng thứ 12, phần lớn
các hạt đều chết và tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 1,98%. Trữ hạt lúa giống bằng túi
yếm khí cho kết quả rất khả quan. Sau 6 tháng tồn trữ, tỷ lệ nẩy mầm đạt
95,55% và sau 12 tháng tồn trữ tỷ lệ nảy mầm vẫn còn đạt 86,43 % và hạt
7
giống sau một năm tồn trữ yếm khí vẫn có thể phục vụ sản xuất bình thường
(> 80) (Chín, 2006) Tại phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Cơ cấu cây trồng,
một bao IRRI Super Bag chuẩn chứa 20 kg lúa giống OMCS 2000 tồn trữ
yếm khí và không sử dụng hóa chất vẫn còn giữ được tỷ lệ nảy mầm 85,75%
sau 1 năm 2 tháng 3 ngày (Chín và Kiều, 2009).
Phương thức tồn trữ yếm khí cũng đã được nghiên cứu ứng dụng thành
công trên các lọai hạt khác. Các lọai hạt như ca cao, cà phê khi tồn trữ yếm
khí thì duy trì được chất lượng thương phẩm như ban đầu. Tại vùng Makassar
thuộc Indonesia, tồn trữ yếm khí hạt ca cao có trọng lượng 6,7 tấn với ẩm độ
ban đầu là 7,3% và ẩm độ tương đối của không khí là 70%. Kết quả đo đếm
sau tồn trữ yếm khí cho thấy chỉ sau 5,5 ngày tồn trữ, lượng dưỡng khí
2.1.2. Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống được trữ yếm khí trong bao
lớn chứa 40 kg.
2.1.3. Nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yếm khí lúa giống bằng bao PE và
các loại cal nhựa khác nhau.
2.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của bao polyethylene VN2 với phương thức tồn
trữ yếm khí đến tỷ lệ nảy mầm hạt lúa giống tồn trữ tại nhà nông dân (Thí
nghiệm diện rộng trực tiếp trên hộ nông dân tại tỉnh Hậu Giang).
2.1.5. Nghiên cứu hiệu quả tồn trữ yếm khí của các loại bao polyethylene có
độ dày khác nhau đến chất lượng hạt giống lúa (Thí nghiệm vượt kế hoạch)
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yếm khí, phương thức tồn
trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa giống và quần thể côn trùng kho vựa gây
hại.
Vật liệu:
Ba loại bao nghiên cứu có kích thước 18 cm x 38 cm bao gồm: Bao VN1
có bề dày 0,1 mm, bao VN 2 có bề dày 0,12mm và bao Israel có bề dày 0,078
mm. Mỗi bao chứa 1 kg lúa giống. Bao VN1 và VN2 do các xí nghiệp tại Việt
Nam sản xuất theo công nghệ của Viện Lúa ĐBSCL.
Hạt của giống lúa OM 2395 được sử dụng. Nguồn giống được mua từ nông
dân Bùi Thị Nga sản xuất trong lô 10 B thuộc Viện lúa ĐBSCL. Lô lúa giống
được kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn giống xác nhận vào ngày 28/2/2006. Ẩm
độ của mẻ hạt giống ngay trước khi bắt đầu thí nghiệm là 12,4% và tỷ lệ nảy
mầm là 89,8%. Các vật liệu khác bao gồm: máy đo ẩm độ hạt hiệu Brix, dĩa
petry thủy tinh có đường kính 12 cm và giấy lọc vàng đường kính 12 cm dùng
10
để thử tỷ lệ nảy mầm. Thử tỷ lệ nảy mầm 100 hạt trên 1 dĩa perty cho mỗi bao
nghiệm thức 1 kg lúa giống. Liều lượng thuốc sát trùng Basudin (10%
diazinon) là 1 gram cho 1 kg lúa giống và Silicagel là 5 gram cho 1 kg lúa
giống.
và bề dày 0,078 mm. Bao VN 1 rộng 60 cm, dài 110 cm và dày 0,1 mm. Bao
VN 2 có kích thước rộng 60 cm, dài 110 cm và dày 0,12 mm.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Cơ cấu cây
trồng VLĐBSCL. Ngày bắt đầu tồn trữ yếm khí là 16 tháng 3 năm 2006 và
kết thúc thí nghiệm vào ngày 16 tháng 3 năm 2007.
Phương pháp:
Hạt lúa giống OM 2395 với ẩm độ ban đầu là 12,8 % và tỷ lệ nảy mầm ban
đầu là 91,6% được sử dụng. Tổng cộng số lượng hạt giống sử dụng là 280 kg,
được đựng trong 7 bao, mỗi bao 40 kg. Ngoại trừ bao PP hảo khí, tất cả các
bao polyethylene(PE) yếm khí đều được lồng vào một bao PP có kích thước
60 cm x 110 cm để làm giá đỡ trong quá trình tồn trữ. Tất cả các bao PE được
cột thật chặt bằng dây cao su đàn hồi sau khi đổ đầy 40 kg lúa giống. Một bao
tải PP (hảo khí đối chứng) chứa 40 kg đựơc dùng để lấy mẫu trong cả hai giai
đoạn là 9 tháng và 12 tháng sau khi tồn trữ. Hai bao Israel được trữ yếm khí
mỗi bao 40 kg nhằm đo đếm các chỉ tiêu ở hai giai đoạn là 9 tháng và 12
tháng sau tồn trữ. Tuơng tự như vậy có 2 bao VN1, mỗi bao chứa 40 kg lúa
trong điều kiện yếm khí và hai bao VN 2 cũng chứa lúa tương tự. Các phương
tiện nghiên cứu khác như máy đo ẩm độ hạt, dĩa petry và giấy thấm để thử tỷ
lệ nảy mầm thì tương tự như thí nghiệm 2.2.1
Các chỉ tiêu theo dõi:
Tất cả các chỉ tiêu khi đến thời điểm quan sát đều được đo đếm 20 lần lập
lại để đủ số mẫu cho phân tích “t” test. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỷ lệ
nảy mầm (%), ẩm độ hạt (%), mật số côn trùng (số con/1 kg lúa) 1 ngày trước
khi tồn trữ; tỷ lệ nảy mầm (%), ẩm độ hạt (%), mật số côn trùng (số con/1 kg