Trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
******************
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
®Ò tµi :
THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Khánh Linh
Mã sinh viên : CQ528395
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
Hệ : Chính quy
Thời gian thực tập : Đợt II năm 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thúy Hồng
Hµ néi, Tháng 5 / 2014
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của bản thân, có sự
hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là ThS. Nguyễn Thị Thuý Hồng. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong chuyên đề này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào. Những số liệu trong các bảng biểu
phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được nêu trong chuyên đề thực
tập là trung thực và có trích dẫn nguồn. Ngoài ra, chuyên đề còn sử dụng một số
nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và
cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, em xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả chuyên đề thực tập của mình.
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
DANH MỤC BẢNG
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
DANH MỤC VIẾT TẮT
1. VASEP: Vietnam Associate Seafood Export and Products ( Hiệphộichế
biếnvà xuấtkhẩuthủysảnViệt Nam )
2. EU: European Union ( Liên minh ChâuÂu )
3. FAO: Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc
4. ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
5. EMS: Hội tôm chết sớm
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
1
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính tất yêu của việc chọn đề tài:
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
2
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
Nhận biệt được tầm quan trọng của xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
thời gian tới, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “ Thúc đẩy họat động xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới “.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam
trong thời kì khủng hoảng thế giới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Một số lí luận chung về xuất khẩu thủy sản đối với phát triển kinh
tế Việt Nam
• Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
• Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt
Nam trong và sau bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
3.2 Phạm vi:
• Không gian: Xuất khẩu thị trường Việt Nam sang EU
• Thời gian : 2008 đến 2014
4. Phương pháp nghiên cứu : Lí luận thực tiễn
5. Kết cấu đề tài: Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo,
đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về xuất khẩu thủy sản đối
với phát triển kinh tế Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
là đòn bẩy cho nền kinh tế Việt Nam khởi sắc, đặc biệt là sau khi ra nhập APEC
cuối năm 1998 và nghị định song phương thương mại được kí kết với Mỹ năm
2000. Sau đó, giá trị thương mại của Việt Nam liên tục tang đáng kể kể trên từng
thời điểm . Việt Nam đã trở thành một quốc gia có độ mở lớn đối với nền kinh tế
toàn cầu nhờ sự tang trưởng của thương mại quốc tế. Vì vậy, tổng sản lượng thủy
sản đã tăng gấp 4,1 lần, so với tốc độ bình quân năm 17,61%/ năm, giải quyết lao
động gấp 2.5 lần, đạt tốc dộ trung bình năm 5.26%/năm. Để có được những thành
tựu đó, nuôi trồng thủy sản đóng góp với sản lượng luôn tăng 6.7 lần cùng với
tốc độ tăng trưởng 6.12%/năm
Từ đầu năm 2008, nền kinh tế thế giới bắt đầu có những dấu hiệu khủng
hoảng nghiêm trọng, bắt nguồn từ sự suy thoái bất động sản ở Mỹ dẫn đến cuộc
khủng hoảng tài chính trên toàn nước Mỹ. Cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng
lan khắp toàn cầu, từ Châu Âu, Mỹ La Tinh, Trung Đông, Nga, và Châu Á. Việt
Nam cho dù có trễ hơn các quốc gia khác nhưng cũng không nằm ngoài tầm ảnh
hưởng do độ mở khá lớn của nền kinh tế.
Một tác động dễ thấy nhất của khủng hoảng toàn cầu là sự suy giảm nhanh
chóng về nhu cầu nhập khẩu trên thế giới trong khi nền kinh tế Việt Nam đang
hướng đến xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu thủy sản . Khi kinh tế suy thoái, người
tiêu dùng trên thế giới sẽ thắt chặt chi tiêu và xuất khẩu của chúng ta đến các thị
trường quốc tế sẽ bị suy giảm, qua đó, cũng làm ảnh hưởng ko ít đến tỉ trọng xuất
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
5
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
khẩu thủy sản Việt Nam . Cụ thể hơn , xuất khẩu thủy sản của Việt Nam liên tục
đạt được mức kim ngạch và tốc độ tăng khả quan trừ năm 2009. Cụ thể, khởi
điểm năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt gần 3,4 tỷ USD, có mức tăng trưởng cao
22,6%. Sang năm 2007, con số này đạt 3,76 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm
trước. Đến năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu
Nguồn lợi thủy sản Việt Nam khá đa dạng về giống loài nhưng lại phân bổ theo
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
6
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
mùa, sống phân tán với trữ lượng nhỏ nên khó tổ chức khai thác công nghiệp sao
cho hiệu quả kinh tế cao. Cá là nguồn lợi thủy sản nước lợ và nước ngột chủ yếu,
có hơn khoảng 700 loài và hàng chục loại giáp xác như tôm, trai, nghêu, sò, ốc,
hến …. Và 90 loài rong tảo. Cơ sở tài nguyên thiên nhiên đã cung cấp cho Việt
Nam vùng biển đặc quyền kinh tế với trữ lượng hải sản dao động trong khoảng
3,2-4,2 triệu tấn mỗi năm và khả năng khai thác bền vững 1,4-1,8 triệu tấn; chưa
kể trữ lượng cá hải dương di cư và sinh vật đáy vùng triều. Đa sô chúng tập trung
nhiều trong 15 bãi cá lớn, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven biển và 3 bãi cá
ở ngoài khơi xa.
Ngoài ra , nguồn lợi thủy sản còn có thể được phân chia theo vung nước:
vùng nước mặn xa bờ với các loài hải sản chiếm giá trị kinh tế cao tuy nhiên số
lượng và tỷ lệ thấp và các loại cá tạp chiếm tỉ lệ cao; vùng nước mặn gần bờ là
vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ là vùng sinh thái với tỉ lệ cao nhất, có thể
chiếm tới 67% tổng lượng hải sản khai thác ở Việt Nam, Vịnh Bắc Bộ với hàng
nghìn hòn đảo lớn nhỏ có thể nuôi các loài nhuyễn có giá trị cao như Ngọc Trai,
Vẹm Nâu, Hàu Song,Bào Ngư, Sò Huyết, Sò Nâu,….; vùng nước lợ như các
vùng nước ở cửa song; vùng nước ngọt là các vùng nước thuộc hệ thống sông
ngòi…
Trữ lượng và khả năng khai thác Thủy Sản
Vùng đặc quyền kinh tế biển của Việt Nam trữ lượng hải sản dao động từ
3.2-4.2 triệu tấn mỗi năm với khả năng khai thác bền vững 1.4-1.8 triệu tấn, chưa
kể trữ lượng cá đại dương đi di cư và các sinh vật đáy vùng triều. Trữ lượng
nguồn hải sản ước tính ở vùng biển vịnh Bắc Bộ khoảng 750.000 tấn; vùng biển
Trung Bộ là 712.000 tấn; vùng biển Đông Nam Bộ 1.141.000 tấn, vùng biển Tây
phát triển một cách hoàn diện veed khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế
biến, nghiên cứu khoa học và cuối cùng là mở rộng để cùng hợp tác phát triển.
Song hành vời thời gian đó, nghề đánh bắt cá ở phía Nam được chịu trách nhiệm
bởi Nha Ngư Nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay khi cơ quan quản lí Nhà nước đầu tiên của ngành được thành lập,
cũng chính là thời điểm ra đời của một ngành kinh tế – kĩ thuật mới của nước ta,
đến năm 2000 ngành Thủy sản đã hoàn thành giai đoạn 40 năm xây dựng và phát
triển. Đó là chặng đường dài, trải qua nhiều gian nan vất vả, thăng trầm, biến
động. Đứng trên phương diện tổng quan có thể chia thành 2 thời kì chính.
Thời kì đầu tiên, trước năm 1980, về cơ bản ngành Thủy sản Việt Nam
vẫn là ngành kinh tế tự cung tự cấp, thiên về khai thác tài nguyên sẵn có được
ban tặng theo kiểu“hái lượm“, Cơ chế quản lí hóa tập trung kéo dài, tiêu thụ bằng
cách giao nộp sản phẩm nên chúng ta quen đánh giá thành tích bằng các đơn vị
tấn, tạ, triệt tiêu tính hàng hóa của sản phẩm. Điều này làm giảm năng suât, dẫn
tới sự suy kiệt động lực thúc đẩy sản xuất, dẫn đến sự suy thoái của ngành vào
cuối những năm 70.
Thời kì tiếp theo, từ năm 1980 đến nay, được nhà nước khuyến khích đẩy
mạnh xuất khẩu và thử nghiệm cơ chế“tự cân đối, tự trang trải“ mà thực chất là
nâng cao giá trị sản phẩm bằng cách tạo ra nguồn đầu tư để tái sản xuất mở rộng
đã tạo động lực phát triển cho ngành. Ngành Thủy sản có thể coi là ngành tiên
phong cho quá trình chuyển hướng sang kinh tế thị trường, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa của nước ta. Từ ngành nghề nhỏ bé, ngành đã có vị thế xứng đáng,
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
8
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
đến năm 1993 đã được Đảng và Nhà nước chính thức tuyên bố là ngành kinh tế
mũi nhọn. Năm 1990, tổng sản lượng đã vượt qua con số 1 triệu tấn. Hơn thế
nữa, nước ta đã đứng vào hàng ngũ đất nước có sản lượng khai thác thủy sản trên
giải quyết ổn thỏa vấn đề này. Xuất khẩu sang Nhật Bản với giá trị nhập khẩu đạt
1.048,563 triệu USD, tăng 3,4% so với năm ngoái, thị trường Nhật Bản chiếm
16,8% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Là thị trường tiêu thụ tôm
(645,938 triệu USD, tăng 12,9%), mực, bạch tuộc (110,498 triệu USD, giảm
17,5%) lớn thứ hai và cá ngừ (40,219 triệu USD, giảm 20,1%), mực, bạch tuộc
(110,498 triệu USD, giảm 17,5%), nhuyễn thể hai mảnh vỏ (7,323 triệu USD,
tăng 4,7%) lớn thứ ba của Việt Nam… Tuy nhiên, rào cản Ethoxyquin đối với
mặt hàng tôm khiến cho xuất khẩu tôm sang thị trường này không mấy khởi sắc.
Xuất khẩu sang Mỹ, Với giá trị nhập khẩu thủy sản 11 tháng năm 2013 đạt
1.382,865 triệu USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ 2012. Về xuất khẩu sang Trung
Quốc và Hồng Kông, Giá trị nhập khẩu đạt 518,851 triệu USD, tăng 39,1% so
với cùng kỳ, chiếm 8,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
1.2 Xuất khẩu Thủy sản trong nền kinh tế Việt Nam
1.2.1 Vai trò Thủy sản xuất khẩu với chuyển dịch kinh tế
Từ trước đến nay, thủy sản đã là mặt hàng thiết yếu của nhiều nước trên
thế giới. Với 3260 km đường biển và vùng biển đặc quyền trên 1 triệu km2, nước
ta đã được tự nhiên ưu đãi giúp cho việc thuận lợi khai thác, nuôi trồng thủy hải
sản. Mặc dù chưa có đủ các điều kiện về đánh giá, vật chất, cơ sở hạ tầng, kĩ
thuật, đặc biệt là vật dụng để đánh bắt ngoài khơi xa, nhưng theo số liệu thống kê
cho thấy Việt Nam đã khai thác được khoảng 1,2 – 1,4 triệu tấn thủy sản hàng
năm, ngoài cá còn có khoảng 50-60 nghìn tấn tôm biển, 30-40 nghìn tấn mực và
nhiều loài sinh vật biển có giá trị kinh tế cao.
Xuất phát từ tiềm năng biển to lớn, ta thấy được vai trò quan trọng của
ngành thủy sản trong sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đặc biệt trong thời kì
khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Các kết quả trong quá khứ đã cho thấy nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ công ăn việc làm ở các làng chài,
khu vực nông thôn. Nó cũng là một nguồn ngoại tệ lớn đóng góp cho ngân quĩ
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
trên cả nước. Ngoài ra, ngành Thủy sản cũng góp phần bảo đảm an ninh quốc
phòng trên vùng biển của Tổ Quốc.
Không những vậy, ngành Thủy sản còn đóng góp khá mạnh mẽ vào kim
ngạch xuất khẩu hoàng hóa nói chung của Việt Nam. Năm 2008, kim nghạch
xuất khẩu khoảng 2 tỷ đô la Mỹ, chiếm 10,245 tổng kim nghạch xuất khẩu của
Việt Nam, chi sau xuất khẩu dầu thô 3,501 tỷ đô la Mỹ và dệt may 2,592 USD.
Và cho đến thời điểm gần đây nhất, nhóm hàng nông lâm thủy sản quý I năm
2014 xuất khẩu ước đạt 4,9 tỷ USD, chiếm 14,8% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2013 (tương đương với tăng 318 triệu USD.
So với cùng kỳ, giá bình quân xuất khẩu của các mặt hàng cà phê, cao su, sắn và
sản phẩm từ sắn suy giảm (cao su giảm đến 24,8%), giá những mặt hàng khác
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
11
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
tăng nhẹ (từ 2,0% đến 3,0%). Bên cạnh đó, lượng của các mặt hàng chè các loại,
gạo, sắn và sản phẩm từ sắn, cao su giảm (giảm từ 10,0% đến hơn 19,0%), các
mặt hàng nhân điều tăng 19,1%; cà phê tăng 12,9%; hạt tiêu tăng 28,9%. Tuy
nhiên, mặt hàng thủy sản và rau quả tăng trưởng khá là yếu tố đóng góp chủ yếu
cho sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nhóm.
1.2.2 Ngành Thủy sản xuất khẩu với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nghề thuỷ sản từ tự cung tự cấp đã trở thành một nghề có khả năng phát
triển kinh tế hàng hoá. Từ chỗ nuôi trồng chỉ phục vụ cho nhu cầu cá tươi nội
địa, đến nay ngoài tôm, các thuỷ đặc sản xuất khẩu cũng đã được xác định là đối
tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng và mang lại lợi nhuận cao. Phát triển nuôi
trồng thủy sản sẽ góp phần làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc
làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho nông, ngư dân, góp phần xây dựng
trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùng biển, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Cả
nước hiện có hơn 600.000 hécta nuôi trồng thuỷ sản ngọt, mặn, lợ. Đáng kể là
Sau 3 năm thực hiện Chiến lược phát triển Thủy sản, mặt được nổi bật
nhất là các quan điểm, định hướng Chiến lược được khẳng định thông qua thực tế
sản xuất; trong đó sản phẩm thủy sản tiếp tục duy trì uy tín và khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế; chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất thủy sản
góp phần bảo đảm nhu cầu thực phẩm của người dân và tốc độ tăng trưởng toàn
ngành nông nghiệp.
Nhìn nhận về quá trình triển khai trong 3 năm qua, bên cạnh những kết
quả đạt được, tuy nhiên phát triển thủy sản còn chưa thể hiện tính bền vững, tỷ
trọng sản phẩm giá trị gia tăng còn thấp; hiệu quả khai thác hải sản chưa cao; thu
nhập của lao động nghèo trong ngành thủy sản chưa đạo sự chuyển biến rõ nét
trong xây dựng nông thôn mới. Đáng chú ý, mức độ chuyển dịch cơ cấu của
ngành còn chậm; tỷ trọng gia tăng sản xuất nuôi trồng thủy sản trong giá trị sản
xuất thủy sản giảm và tỷ lệ tàu công suất thấp còn lớn.
1.2.3 Ngành Thủy sản xuất khẩu với vấn đề xã hội
Dưới đây là một số mặt đạt được khi phát triển ngành nuôi trồng, đánh
bắt và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam :
Tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và mức sống của các
cộng đồng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
Tăng sự đóng góp của ngành thuỷ sản vào sự phát triển kinh tế và
xã hội trong nước, bao gồm ổn định xã hội và an ninh quốc gia
Cải thiện tiêu chuẩn dinh dưỡng của nhân dân bằng cách cung cấp
cá và hải sản cho tiêu thụ nội địa.
Tăng xuất khẩu và thu ngoại tệ.
Dân số Việt Nam có khoảng 78 triệu người trong đó có khoảng 62,4 triệu
người, chiếm 80% sống ở vùng nông thôn và 15,6 triệu người chiếm 20% sống ở
đô thị. Tỷ lệ nữ là 55,6% và nam là 44,4%.
Bảng 1.2: Số lao động trong nghề đánh bắt cá ở Việt Nam
Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Số
lao
nhất cũng chỉ hy vọng thế giới sẽ bắt đầu phục hồi vào đầu năm 2010. Tuy nhiên,
những dư âm khủng hoảng vẫn còn vang vọng đến năm 2013. Liệu 2014 có phải
là năm khởi sắc sau cuộc khủng hoảng tài chính đó ?
Mỹ khốn khổ vì khủng hoảng tài chính, Châu Âu cũng điêu đứng không
kém phần do nhiều ngân hàng mua lầm “nợ xấu” của Mỹ. Từ Phố Wall đến
Tokyo, Thượng Hải các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh. Tại châu Âu,
Paris, London, Frankfurt hay Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường
Matxcơva cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ
cho "cơn dông bão" đi qua. Điều khó tránh khỏi là sự sụp đổ của ngành tài chính
trên thế giới đã kéo nhiều nền kinh tế xuống vực thẳm. Ba cột trụ chính của thế
giới, Mỹ, châu Âu và Nhật Bản trong 2 quý cuối năm liên tục đưa ra những chỉ
số bi quan: thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu thụ từ Âu sang Á đều bị chựng lại,
sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đều đi xuống. Điều đó gây ảnh hưởng trầm
trọng đến việc chi tiêu, từ đó tác động ít nhiều đến nhu cầu sử dụng thủy sản trên
toàn thế giới.
Mặc dù phát trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động của
ngành Thủy san vẫn tăng đều về cả qui mô và số lượng. Sản lượng thủy sản thế
giới tăng đều qua từng năm với mức bình quân năm 2006-2011 là 2,3%. Trong
đó, đóng góp lớn vào sản lượng toàn cầu là hoạt động nuôi trồng đang duy trì
mức tăng trưởng khá cao, bình quân 6,1% giai đoạn 2006-2011. Trong khi đó,
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
15
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuý
Hồng
sản lượng từ hoạt động khai thác đánh bắt đang chững lại, gần như không tăng
trưởng trong các năm qua (mức tăng bình quân giai đoạn 2006-2011 chỉ đạt rất
thấp 0,1%). Điều này là do hoạt động nuôi trồng được chính phủ các nước, các tổ
chức khuyến khích nhằm hướng tới sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường,
trong khi hoạt động khai thác đánh bắt đang dần bị hạn chế do trữ lượng thủy sản
Biểu đồ 2.3: Các quốc gia nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới năm
2010
Tuy nhiên, thị trường Thủy sản thế giới vài năm qua đã phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề của dịch bệnh tôm chết hàng loạt, dẫn theo sự sụp đổ
hoàn toàn của các nhà máy, đóng của hàng loạt các xí nghiệp, thậm chí một số
vùng ngư nghiệp phải đóng cửa, ngư dân phải chuyển nghề. Giá cả bấp bênh,
tranh mua tranh bán,… thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh. Vấn đề an toàn
thực phẩm cũng được quan tâm hơn trước, đặc biệt đối với các quốc gia xuất
khẩu Thủy sản đang phát triển.
2.1.3 Tình hình nhu cầu Thủy sản thế giới
Trong thập kỉ vừa qua, dân số thế giới gia tang nhanh chóng mặt, tốc độ
đô thị hóa tang nhanh chưa từng thấy. Điều đó dẫn đến nhu cầu thủy sản thế giới
tăng mạnh mặc dù trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Số liệu từ tổ
chứa FAO cho thấy, thủy sản hiện đang là loại hàng hóa thực phẩm được mua
bán nhiều nhất, đạt 102 tỉ USD năm 2008. Báo cáo nuôi trồng thủy sản thế giới
năm 2010 cho thấy, sản lượng thủy sản nuôi của thế giới đã tăng hơn 60% từ 32,4
- 52,5 triệu tấn trong giai đoạn 2000 – 2008. Năm 2012, thủy sản nuôi đã đáp
ứng hơn 50% lượng tiêu thụ thủy sản của thế giới. Năm 2013, người tiêu dung
không thể chi tiêu rộng rãi như thời hưng thịnh. Tuy vậy, thủy sản vẫn là mặt
hàng tiếp tục được yêu thích do giá cả hợp lý và tốt cho sức khỏe.
SVTH: Nguyễn Khánh Linh Lớp:
KTQT52D
18