Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hoá, đã bao trùm nên tất cả các hoạt động
sản xuất kinh doanh thì sự gia tăng hợp tác quốc tế nhằm phát huy có hiệu quả những
lợi thế so sánh của mình đã làm cho quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng phát
triển mạnh mẽ. Việt Nam với tư cách là một thành viên chính thức thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới WTO kể từ ngay 7/11/2006 đã tạo điều kiện mở rộng giao
lưu hợp tác kinh tế quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu với tư cách là cầu nối
giữa các quốc gia là cầu nối giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Đối với
nước ta xuất khẩu là trung tâm của hoạt động ngoại thương và trở thành yếu tố “ bản
lề “ là “đòn bảy” chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động
xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ lớn có ý nghĩa đạc biệt quan trọng trong việc tạo
tiền đề cho sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Việt Nam đã và đang khẳng định quyết tâm hội nhập của mình với phương
châm Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới,
trên cơ sở bình đẳng, hợp tác hai bên cùng có lợi… Lấy nhu cầu thị trường quốc tế
làm mục tiêu cho sản xuất trong nước… “ trong đó ngành thủy sản được coi là ngành
xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam, sau dầu thô và dệt may. Ngành thủy sản , trên cơ sở
phát huy tối đa lợi thế so sánh của đất nước trong quan hệ kinh tế quốc tế đã khẳng
định được vị thế của mình trên thị trường khu vực và quốc tế. Đặc biệt đã tạo được
chỗ đứng khá vững chắc trên một số thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU…
Mặc dù ngành thủy sản Việt Nam có được những bước tiến khá nhanh, đã có
một số thị trường lớn song một thực tế hàng thủy sản có sức cạnh tranh chưa cao so
với các đối thủ trên trường quốc tế. Điều này biểu hiện bởi chất lượng chưa cao, đơn
điệu về chủng loại, hạn chế về mẫu mã, chưa đáp ứng nhu cầu chuẩn mực, cạnh tranh
khắt khe trên thị trường thế giới đặc biệt là các thị trường truyền thống như Mỹ,
Nhật, EU… Do đó vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là làm thế nào để nâng cao sức
cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam để đáp ứng được những yêu cầu chuẩn mực
cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhằm giữ vững thị phần cao của Việt Nam trên thị
trường thế giới. Đây đang là mối quan tâm đặc biệt có ý nghĩa chiến lược lâu dài của
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
mà hoạt động xuất khẩu được ra đời và ngày càng phát triển cho đến nay. Vậy hoạt
động xuất khẩu là một bộ phận cấu thành quan trọng của hoạt động ngoại thương,
trong đó hàng hoá và dịch vụ được đem bán ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ.
Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là
hình thức cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp khi bước vào kinh doanh quốc tế. Mỗi
công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình ra nước
ngoài. Xuất khẩu tồn tại ngay cả khi công ty đã tiến hành những hình thức cao hơn
trong kinh doanh quốc tế, các lý do công ty thực hiện xuất khẩu là :
Thứ nhất : Sử dụng lợi thế của mình.
Thứ hai : Giảm chi phí giảm giá thành sản phẩm
Khi thị trường chưa bị hạn chế bởi thuế quan, các quy định khắt khe về tiêu chuẩn
kỹ thuật, trên thị trường có ít đối thủ cạnh tranh hay năng lực của doanh nghiệp kinh doanh
quốc tế chưa có đủ khả năng thực hiện các hình thức cao hơn thì xuất khẩu được lựa chọn
So với đầu tư, rõ ràng xuất khẩu đòi hỏi lượng vốn đầu tư ít hơn, rủi ro thấp hơn,
thu được lợi nhuận trong thời gian ngắn. Chính vì thế hoạt động xuất khẩu không thể thiếu
trong một nến kinh tế thị trường phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực
như ngày nay. Hoạt động xuất khẩu càng phải được chú trọng hơn nữa khi mà Việt Nam
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
1.2 Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại,
là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại
tệ chi tiêu dùng trong nước và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như đặt cơ sở cho sự phát
triển hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hoạt động đã áp dụng từ lâu đời nhưng cho
tới nay thì nó luôn được khuyến khích phát triển và ngày càng đa dạng và phong phú,
mở ra nhiều thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu. Sở dĩ như vậy
là do có sự chuyển đổi căn bản về kinh tế thị trường trên toàn thế giới và ảnh hưởng
-Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội cùng phát triển
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất
phát triển
- Xuất khẩu tạo điều kiện tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và hoàn
thành công việc quản trị sản xuất kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hóa trên thị trường thế giới
Ba là xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống thể hiện trên nhiều phương diện, trước
hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với mức
thu nhập khá. Thực tế đã cho thấy mức lương của cán bộ công nhân viên tại các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã dần được nâng lên, đến nay là tương
đối cao. Bên cạnh đó xuất khẩu còn là nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp
ứng nhu cầu của nhân dân.
Bốn là xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại và phụ thuộc
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
lẫn nhau. Xuất khẩu là bộ phận quan trọng của hệ thống kinh tế đối ngoại. Thực hiện
hoạt động xuất khẩu có liên quan đến nhiều lĩnh vực như hoạt động ngân hàng quốc
tế , vận tải quốc tế… Vì vậy, khi xuất khẩu phát triển các hoạt động này cũng phát
triển theo. Mặt khác các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo điều kiện mở rộng cho
xuất khẩu.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản
2.1 Nhân tố thuận lợi
2.1.1 Điểu kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm
mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường thế giới và khu vực.
Đến nay đã có 61 doanh nghiệp nằm trong danh sách xuất khẩu đi EU, gần
100 đơn vị áp dụng tiêu chuẩn HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Mỹ, Nhật Bản.
Những cơ sở nâng cấp, mở rộng sản xuất, trên 40 cơ sở sản xuất mới có công nghệ
hiện đại sẽ xây dựng ở địa phương gần nguồn nguyên liệu. Hơn nữa hiện nay hải sản
tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn của người dân trên thế giới, đặc
biệt là người Nhật và Mỹ. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thủy sản
Việt Nam chế biến các loại sản phẩm đa dạng phong phú để xuất khẩu.
2.1.3 Các yếu tố khác
Do đường lối của Đảng và nhà nước tạo điều kiện cơ hội tốt nhất cho các
doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh đẩy mạnh
xuất khẩu thủy sản ra thị trường thế giới. Nhà nước đã cung cấp vốn tín dụng ưu đãi
và chính sách ưu đãi cho các chủ đầu tư tham gia vào chương trình phát triển xuất
khẩu thủy sản cụ thể: trong 5 năm đầu nuôi trồng thuỷ sản được miễn các loại thuế
đất, thuế thu nhập, giảm 50% cho 5 năm tiếp theo kể từ khi dự án đi vào sản xuất
kinh doanh. Đối với chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, ngư dân được vay vốn với
lãi xuất ưu đãi 0,81%/ tháng, thời hạn hoàn vốn là 7 năm, vốn đối ứng của dân là
15%.
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Bên cạnh đó, nhà nước còn có sự hỗ trợ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư khoa
học kỹ thuật . Bộ thủy sản đã tập trung ban hành các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực
phẩm tương đương với các nước nhập khẩu, nâng cao năng lực cơ quan kiểm soát an
toàn vệ sinh thực phẩm và tập trung trung tâm cơ sở sử chữa, nâng cấp nhà xưởng.
Với sự hỗ trợ tích cực của dự án cải thiện chất lượng và xuất khẩu thủy sản
(SEAQIP) doanh nghiệp Đan Mạc tài trợ. Bộ thủy sản đã tiến hành nhiều hoạt động
xúc tiến thương mại, tổ chức các kênh thông tin về thị trường.
2.2 Nhân tố khó khăn và thách thức
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
nhanh, làm giảm khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam.
Tỷ lệ thủy sản xuất khẩu đã qua chế biến chưa cao, hơn nữa hình thức xuất
khẩu trực tiếp vào các thị trường thế giới chưa cao, chủ yếu là xuất khẩu qua một số
thị trường trung gian như ( Hông Kông, Đài Loan, Singapor ) nên lợi nhuận thấp.
Tình trạng thiếu vốn ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, doanh nghiệp
phải tự lo vay vốn ngân hàng làm ảnh hưởng đến giá thành xuất khẩu. Trình độ học
vấn và tay nghề của công nhân ngành thủy sản chưa cao làm ảnh hưởng đến sự phát
triển xây dựng uy tín của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng tiêu chuẩn. Mặt
khác, trình độ quản lý ở một số cán bộ còn chưa khoa học. Điều này thể hiện rõ ở
nhiều mặt từ quy hoạch xây dựng dự án, kế hoạch đến phương thức thực hiện, biện
pháp quản lý, cần được điều chỉnh cho phù hợp.
2.2.3 Các yếu tố khác
Ngoài những yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động xấu đến hoạt
động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn một số yếu tố khác cũng gây khó khăn
trong việc thúc đẩy quá trình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam như: vấn đề vệ sinh
an toàn thực phẩm, dư lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản phải đảm bảo đúng
tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu, vấn đề về thuế quan, hạn ngạch, các hàng rào kỹ
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
thuật của các nước đặt ra đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam rất khắt khe,
gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
3.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả xuất khẩu thủy sản
3.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Kể từ năm 2000 đến nay,ngành thủy sản vẫn duy trì sự tăng trưởng với tốc dộ
đáng kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2004 đạt 2,4 tỷ USD tăng gần 1 tỷ
so với năm 2000 chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm 2005 tổng
kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 2,74 tỷ USD, tăng 0,34 tỷ so với năm
2004 và đạt 114% so với năm 2004. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2006
đạt 3.1tỷ USD đạt 113% so với năm 2005, tăng 13% . Như vậy kim ngạch xuất khẩu
chỉ chiếm từ 8-10 %. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong
những năm gần đây đã có sự biến đổi tích cực, đang có xu hướng đa dạng các thị
trường tiêu thụ và dần có sự cân bằng giữa các thị trường xuất khẩu tăng cường khai
thác các thủy sản tiềm năng như Trung Quốc, Mỹ, EU.
4. Những kinh nghiệm phát triển xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
4.1. Tôm Việt Nam bị kiện bán phá tại thị trường Hoa Kỳ
4.1.1. Thông tin chung :
Việc một mặt hàng bị kiện bán phá giá là việc phổ biến trong hoạt động thương
mại giữa các nước hiện nay. Bà Đinh Thị Mỹ Loan cho biết trong vòng 10 năm từ
năm 1995 đến nay các doanh nghiệp thuộc thành viên của WTO đã đương đầu với
2840 vụ kiện bán phá giá trong đó 1804 trường hợp được kết luận bán phá giá, chiếm
63.25% trong đó năm 2002 và 2003 được coi là những năm có số vụ bán phá giá
được kết luận nhiều nhất trong vòng 5 năm qua. Nhưng doanh nghiệp làm ăn tại thị
trường Mỹ là dễ bị kiện nhất.
Còn đối với Việt Nam: Theo cục cạnh tranh,tính đến tháng 8/ 2006 , Việt Nam
đã đương đầu với 28 vụ kiện bán phá giá .Trong đó đã có 23 vụ trường hợp được kết
luận là có bán phá giá và đã bị áp thuế chống bán phá giá, có 3 vụ kiện tính từ 1994 –
1998 rơi vào các mặt hàng như gạo, mỳ chính, giầy dép hai vụ tỏi và bật lửa (trong
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
năm 2000 – 2001) . Năm 2004 – 2005 kỷ lục về số vụ bán phá giá được các thị
trường EU, Achentina, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pêru khởi kiện doanh nghiệp Việt
Nam.
Phải chăng xuất khẩu tôm của Việt Nam càng tăng mạnh, hoạt động thương mại
diễn ra càng nhiều thì các vụ kiện bán phá giá cũng vì thế mà nhiều hơn ?
Cục cạnh tranh cho biết các vụ kiện của Việt Nam chủ yếu các mặt hàng xuất
khẩu lớn như cá, tôm, giầy dép, dệt may… Và các trường hợp của Việt Nam đều
chung thời điểm các nước bị kiện như Trung Quốc , Thái Lan, Ấn Độ. Và tựu chung
hầu hết các vụ kiện bán phá giá Việt Nam đều thua (23/28 vụ) . Phải chăng có mặt
Ngày 3/4/2006 Bộ Thương Mại Mỹ DOC ra thông báo bắt đầu triển khai quá
trình xem xét lại mức thuế đối với tôm nhập khẩu từ 6 nước gồm Thái Lan, Ấn Độ,
Trung Quốc, Braxin, Ecuador và Việt Nam. DOC cũng cho biết đã nhận được đơn
yêu cầu xem xét lại mức thuế áp lên tôm nước ấm , tôm đông lạnh nhập khẩu từ công
ty chế biến thủy sản các nước. Trong số này , số lượng các công ty Ấn Độ nộp đơn
xin xem xét lại mức thuế yêu cầu của bên nguyên đông nhất lên đến 348 công ty, tiếp
sau là Trung Quốc với 163 doanh nghiệp , Ecuador 72 doanh nghiệp , Thái Lan 145
doanh nghiệp và Braxin 54 doanh nghiệp .
Theo danh sách bên nguyên đưa ra , có tới 84 công ty của Việt Nam nằm trong
diện bị xem xét lại mức thuế . Song thực tế tổng số doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu vào thị trường Mỹ chỉ trên dưới 50 doanh nghiệp . Phó tổng thư ký hiệp hội chế
biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam(VASEP) Trương Đình Hòa cho biết danh sách
mà CFA đưa ra lấy từ Hải Quan Mỹ, có rất nhiều tên trùng, hoặc có cả tên các doanh
nghiệp , cá nhân không xuất khẩu tôm qua Mỹ .
Một động thái khác cũng liên quan và tác động mạnh mẽ đến diễn biến vụ kiện ,
đó là Bộ Thương Mại Thái Lan đã chính thức gửi đơn kiện nên tổ chức thưong mại
thế giới WTO lý do , Vụ việc này thực hiện chính sách thương mại bất bình đẳng đối
với tôm xuất khẩu của Thái Lan . Theo thông lệ WTO sẽ ra phán quyết cuối cùng sau
12-14 tháng . Tuy nhiên nếu Mỹ chấp nhận huỷ bỏ bond ( Ký quỹ - đặt cọc 100% giá
trị hàng hoá ) trong vòng 60 ngày kể từ ngày Thái Lan gửi đơn thì vụ kiện sẽ được
huỷ bỏ. Trước đó, hiệp hội thuỷ sản Hoa Kỳ NFI và hiệp hội xuất khẩu thuỷ sản Ấn
Độ cũng nộp đơn kiện tính bất hợp pháp của quy định này lên WTO .
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Nhận xét về vụ việc này, ông Trương Đình Hoà nói : đây là diễn biến tích cực
đối với vụ kiện, nhất là trong thời điểm giao dịch , nhập khẩu tôm hiện nay đang
chậm lại do các nhà nhập khẩu lo ngại rủi ro khi xem xét lại mức thuế .
Đối với một bạn hàng lớn như Hoa Kỳ thì vụ kiện trên ảnh hưởng không nhỏ
đến tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam. Ghi nhận từ các doanh nghiệp bị áp thuế :
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
tình trạnh sử dụng nguồn nước ô nhiễm và không khí bị ô nhiễm nặng. Bà con cho
biết bệnh đường ruột và đường hô hấp đã trở thành kinh niên .
Mấy năm rồi bà con phường Bình Đức sống chung với chất thải của nhà máy ở
đây. Bà con cũng phản ánh nước bốc mùi thối quá không chịu được nhiều lần gửi
đơn . Nhưng nhà máy với chiêu “công nhân trong nhà máy là con em tại địa phương
nên lại thôi “ và chuyện lại đâu vào đấy” .
Hiện nay trên địa bàn tỉnh An Giang có hơn 13 nhà máy chế biến tôm, cá xuất
khẩu, hầu hết các nhà máy đều làm không tốt khâu xử lý chất thải. Ông Lâm Minh
Chiếu - trưởng ban điều hành sản xuất và tiêu thụ xuất khẩu thuỷ sản - chủ tịch
UBND tỉnh An Giang cho biết : Trong thời gian qua UBND tỉnh đã xử rất nhiều đoàn
làm việc với nhà máy, kiểm tra hệ thống xử lý nước thải. Qua kiểm tra tỉnh đã thống
nhất phải kiên quyết xử lý những nhà máy không thực hiên cam kết với các cơ quan
chức năng về vấn đề ô nhiễm môi trường, thậm chí tỉnh chấp nhận đóng cửa những
nhà máy cố tình vi phạm .
Hầu hết các nhà máy chế biến thuỷ sản An Giang đều năm trong khu dân cư.
Riêng khu tiểu thủ công nghiệp Mỹ Quí thành phố Long Xuyên có 4 nhà máy chế
biến thuỷ sản Nam Việt, Cửu Long, Tuấn Anh và An Xuyên xây dựng đã không đúng
mục đích ban đầu khi thành lập tiểu khu công nghiệp. Cả 4 nhà máy đều không xử lý
hết lượng nước thải của nhà máy, còn nước thải đã qua xử lý lại không đảm bảo yêu
cầu .
Không chỉ những nhà máy tại An Giang mà hầu hết các nhà máy xuất khẩu
tôm Việt Nam vào thị trường Mỹ đều xảy ra tình trạng này . Đây cũng là cớ mà
Hoa Kỳ bắt bí ta khi kiện bán phá giá . Vì những điều này bên phía Hoa Kỳ thực hiện
rất tốt .
Thứ hai : Từ vấn đề các nhà máy chế biến nằm trong khu dân cư kéo theo các
vấn đề xã hội. Điều này chúng ta ít để ý khi xuất sang thị trường Hoa Kỳ, nhưng phía
đối tác lại có. Ở Việt Nam tình trạng ô nhiễm nguồn nước kéo theo người dân sống
xung quanh nhà máy bị các bệnh về đường hô hấp, đường ruột, trong khi người dân
vô cùng bức xúc thì các nhà máy lại làm ngơ coi như không biết và cũng không phải
chế các mặt hàng mang tính nhậy cảm như tôm để bảo vệ các doanh nghiệp trong
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
nước đồng thời cũng bảo vệ người tiêu dùng của nước họ. Vì thế nó đã và đang đe
doạ rất lớn đến các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
4.2.1. Các doanh nghịêp tự giết mình
Nhật Bản là bạn hàng truyền thống và lớn nhất của tôm xuất khẩu Việt Nam
( giá trị xuất khẩu hàng năm khoảng 500 – 600 tr USD trong tổng số hơn 1 tỷ USD
của tôm xuất khẩu )
Thế nhưng đã qua rồi “tuần trăng mật”, tôm Việt Nam hiện đang “mắc cạn“ tại
các thị trường truyền thống bởi các doanh nghiệp tự …giết mình hết mực đến tôm
Kể từ lúc Nhật Bản áp dụng lệch kiểm tra 100% đối với mặt hàng mực của Việt
Nam từ cuối tháng 7/2006, chỉ trong 8 tháng Bộ Y Tế và Lao Động Nhật Bản lại liên
tiếp phát hiện thêm 10 trường hợp khác của 7 doanh nghiệp có lô hàng có dư lượng
kháng sinh và vi trùng đường ruột, những chất không được phép có trong thực phẩm
theo luật vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật.
Điều này đồng nghĩa buộc các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải thu hồi
hay tiêu huỷ tại chỗ các lô hàng này. Tổng số là 20 tấn mực đông lạnh . Các cơ quan
chức năng Việt Nam chưa kịp cảnh báo và chấn chỉnh thì cuối tuần qua, phía Nhật
Bản bất ngờ công bố tăng cường kiểm tra tôm nhập khẩu từ Việt Nam với mức độ
kiểm tra là 50 % thay vì trước đó chỉ là 5 % . Nguyên nhân do phía Nhật Bản phát
hiện 4 lô tôm có nguồn gốc từ Việt Nam nhập khẩu vào Nhật có dư lượng kháng sinh
cấm sử dụng .
Ông Trương Đình Hòa cho biết: Việc kiểm tra chất lượng các lô hàng thuỷ sản
nhập khẩu vào thị trường có 3 cấp độ ( 5 %, 50%, và 100% ). Sau đó, nếu tình hình
không được cải thiện, các cơ quan chức năng Nhật Bản ban hành lệnh cấm nhập khẩu
đối với mặt hàng vi phạm. Như vậy hiện nay mặt hàng mực đông lạnh của Việt Nam
đang ở tình trạng “báo động đỏ” và mặt hàng xuất khẩu tôm chủ lực đang ở cấp độ
2 . Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của toàn ngành .
hướng đi (tìm đầu ra ) do vậy bài học kinh nghiệm trên thị trường quốc tế là không
nhiều đồng thời lại không có sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng nên có tình
trạng có doanh nghiệp chưa ý thức được hoạt động kinh doanh sai phạm của mình mà
điều đó có thể ảnh hưởng toàn bộ hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.Vì thế
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
họ không chuẩn bị kỹ cũng như tìm hiểu những yêu cầu cần thiết cho hoạt động sản
xuất của mình.
Thứ hai : Từ phía ngư dân, chủ trang trại, đại lý thu mua, các cơ sở chế biến hải
sản
Đó là tình trạng sử dụng hoá chất không rõ nguồn gốc, thành phần để nuôi và
bảo quản. Nguyên nhân sâu xa hơn xuất phát từ phía doanh nghiệp đã lây sang những
người nông dân chỉ biết nuôi trồng khai thác theo hợp đồng với các doanh nghiệp chế
biến, đại lý thu mua. Họ mặc sức nuôi trồng đánh bắt bảo quản theo ý mình sao cho
chi phí thấp nhất mà không thấy tác hại lâu dài bởi hành động của mình. Cùng với đó
là sự hiện hữu của nhà nước trong các hoạt động này và cũng như phong trào nuôi
tôm hàng loạt ( nuôi theo phong trào sẽ dẫn đến tình trạng đổ xô vào nuôi không tinh
đến đầu ra cho sản phẩm và rồi đến khi thất bại hay gặp rủi ro những hộ nông dân lại
rủ nhau theo phong trào phá hàng loạt ) đã và đang làm cho vấn đề ngày càng nghiêm
trọng hơn .
Thư ba : Nhà nước và các cơ quan chủ quản có liên quan trực tiếp là Bộ Thuỷ
Sản chưa thực sự vào cuộc có thể coi là nhân tố không nhỏ cho những khó khăn trên.
Chỉ khi tôm xuất khẩu Việt Nam gặp phải vướng mắc thì các cơ quan chức năng mới
“giật mình” cảnh báo cho các doanh nghiệp có liên quan và cũng để cảnh báo cho
mình, chứ không có chuẩn bị từ trước về những rào cản kỹ thuật này. Đó là biểu hiện
của việc quản lý điều hành, phối hợp không hiệu quả các hoạt động nuôi trồng, khai
thác, chế biến xuất khẩu của nhà nước. Tạo tình trạng chạy theo sau để giải quyết khó
khăn trước mắt chứ không phải là dự báo ngăn chặn trước khi diếu đó xảy ra .
4.3. Con tôm ôm sổ đỏ
Tương tự: Anh Dương Chí Linh ở xã Vĩnh Hậu trước đây cũng là một đại gia
trong giới nuôi tôm. Những chỉ sau năm mùa tôm thất thu anh buộc phải bán toàn bộ
đất đai, nhà cửa để lấy tiền trả nợ.
Xã Vĩnh Hậu A thật sự là “điểm nóng“ của ”mô hình” con tôm ôm sổ đỏ vì
phần lớn hộ nông dân đều thế chấp sổ đỏ để vay tiền. Anh Ba Hưng ”điển hình“ của
phong trào chuyển dịch sản xuất từ cây lúa sang con tôm, từng cầm trong tay bạc tỷ
lảm chủ cả chục chiếc xe cuốc, xe ủi…Nhưng sau ba vụ tôm thất bại anh bán tất cả
tài sản qúy giá của mình để đổ vào mấy ao tôm còn lại với hy vọng gỡ được ít vốn.
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Tuy nhiên vụ tôm vùa rồi anh tiếp tục thua lỗ, không chỉ trắng tay anh Hưng con
thiếu nợ ngân hàng và nợ bên ngoài với tổng số tiền lên đến gần 300 tr .
Mất bò mới lo làm chuồng : Khi nông dân vỡ nợ nhiều ngân hàng cũng “nóng
ruột” vì có đến 25% nợ vay thuộc diện khó đòi ( gấp 4 lần theo quy định của nhà
nước ). Tổng dư nợ nuôi trồng thuỷ sản ở 5 xã trong huyện Hoà Bình tại ngân hàng
công thương chi nhánh Bạc Liêu là 24,2 tỷ đồng nhưng kỳ thu nợ gần đây chỉ thu
được 1 hộ với số tiền 60 triệu đồng.
Ngoài ngân hàng công thương, hiện nay nơi “được” nông dân nợ nhiều nhất là
ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn. Ông Trần Văn Cường giám đốc ngân
hàng cho biết :
Hiện nay toàn huyện có đến 10247 hộ vay vốn, tổng dư nợ lên đến 225,5 tỷ
đồng, trong đó 4257 hộ thế chấp “sổ đỏ” vay 132,5 tỷ đồng để nuôi tôm. Đến nay
tổng số nợ quá hạn tại ngân hàng này liên quan đến con tôm là 88,2 tỷ đồng (3270
hộ). Theo quy định nếu nông dân không trả nợ thì ngân hàng sẽ nhờ đến cơ quan
pháp luật kê biên tài sản thế chấp để phát mãi thu nợ. Tuy nhiên, đất nuôi tôm hiện
nay bán chẳng ai mua làm sao ngân hàng thu được nợ .
Đó là tỉnh Bạc Liêu, còn rất nhiều tỉnh khác tình hình cũng không khả quan hơn
là mấy. Ở các tỉnh như Sóc Trăng, An Giang và các tỉnh miền trung, nuôi tôm giờ
đây không còn là giấc mơ vàng nữa mà nó đã trở thành “đánh bạc“ với số phận của
trồng lúa cũng không thể vì tất cả đất đai đều bị nạo vét nuôi tôm rồi, hơn trồng lúa
hiệu quả thấp thì nông dân bao giờ mới có thể trả hết nợ. Đang từ những ông chủ
nuôi tôm giờ đây họ trở thành người làm thuê ngay trên chính mảnh đất của mình .
Hậu quả để lại ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều người, nhiều ngành liên quan và
còn nguy hiểm hơn là người dân không có việc làm và bị đẩy đến đường cùng là điều
kiện lý tưởng để các tệ nạn xã hội nảy sinh. Hậu quả của nó có ảnh hưởng lâu dài và
cần nhiều năm với sự nỗ lực của các cơ quan liên quan và nỗ lực của người dân mới
có thể giải quyết được .
4.4. Mối quan hệ giữa người nuôi và nhà chế biến
Một hiên tượng khá phổ biến trong những năm gần đây đó là thường xảy ra
tranh chấp giữa người nuôi tôm và nhà máy chế biến bất kể là lúc giá tôm lên hay
xuống. Bởi vì quan hệ giữa người nuôi và nhà chế biến mang sẵn trong nó 2 mặt vừa
hợp tác vừa cạnh tranh . Đó là hai mắt xích trong “chuỗi giá trị “ của thuỷ sản Việt
Nam. Nếu chúng ta không sớm giải quyết tình trạng này thì việc tôm Việt Nam bị
mất lợi thế trong cạnh tranh với nước ngoài là khó tránh khỏi. Bởi vì khi không có
sự thông nhất trong giá xuất khẩu tôm cũng sẽ dẫn đến mất lòng tin với các bạn
hàng .
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Mặt khác hai bên cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm để bán ra
thị trường (trong và ngoài nước) mối quan hệ này càng mang tính cộng sinh. Cả hai
bên đều cần sự tồn tại của nhau và hiển nhiên nó chỉ bền vững khi cả hai bên cùng có
lợi. Thêm vào đó là cả hai cùng chia nhau miếng bánh lợi nhuận mà không bên nào
muốn mình bị thiệt. Tuy nhiên không có một tỷ lệ phân chia lợi nhuận nào được coi
là hợp lý hơn cả trong tất cả các trường hợp. Tỷ lệ này hoàn toàn phụ thuộc vào lợi
thế của mỗi bên trong quá trình mặc cả. Lợi thế thuộc về ai tuỳ thuôc vào từng thời
điểm để xét xem bên nào có lợi thế hơn. Trong giai đoạn tôm sắp đạt tới kích thước
thương phẩm tốt nhất (loại 1) thì người nông dân có lợi thế khi doanh nghiệp cần
nguyên liệu để thực hiện đơn đặt hàng, trong khi người nuôi có thể giữ lại tiếp tục
mãn của ngưòi dân là họ đã so sánh mặt bằng giá cũ. Do các hộ nuôi tôm thu được
siêu lợi nhuận với tỉ lệ lãi rất cao, một lượng lớn người đã tập trung vào nuôi dẫn đến
lượng cung tăng vọt. Hơn nữa thời điểm diễn ra cuộc tranh cãi là thời điểm vào vụ
thu hoạch, khối lượng cung tăng vọt so với các tháng trước. Thiếu vắng thông tin dự
báo, người nuôi có xu hướng so sánh với lợi nhuận thu được tại các thời điểm trước
đó của mình và của các hộ nuôi khác. Điều này cũng làn nặng thêm tâm lý “thua
thiệt” từ phía người nông dân .
Cũng như nhiều mặt hàng xuất khẩu thủy sản khác của Việt Nam, tôm xuất
khẩu cũng luôn lâm vào cảnh khi giao dịch với quốc tế luôn bị hớ. Lúc thì giá cao
nhưng không gom đủ nguyên liệu để bán, còn khi thu mua đủ nguyên liệu thì giá đã
rớt xuống rồi. Còn đối với người nông dân còn bi đát hơn, cứ mỗi khi được mùa
chúng ta lại nhận được thông tin “các hộ nông dân năm nay được mùa nhưng mất
giá“ hoặc “doanh nghiệp chèn ép giá nông dân“. Còn khi mất mùa sẽ là “ giá tôm lên
cao nhưng người dân không có để bán “ … Đó là một thực trạng đau buồn đã tồn tại
nhiều năm nay. Rốt cuộc nhà doanh nghiệp hay hộ nuôi tôm đều không được lợi như
mong muốn khi giao dịch với bạn hàng quốc tế điều đáng ra chúng ta xứng đáng
được hưởng .
Chương II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM.
1. Khái quát về ngành thuỷ sản Việt Nam.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của ngành thuỷ sản Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển của ngành thuỷ sản Việt Nam
Hoàng Khánh Dư Lớp: KTNN&PTNT 45
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa: KTNN & PTNT
Thuỷ sản là một trong những ngành hoạt động kinh tế nằm trong tổng thể kinh
tế xã hội của con người. Thuỷ sản đóng góp vai trò quan trọng trong việc cung cấp
thực phẩm cho nhân loại, không thế nó còn là ngành kinh tế tạo ra công ăn việc làm
cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt nông dân vùng ven biển. Thuỷ sản là ngành
đem lại nguồn thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho một bộ phận nhân dân làm nghề