VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam
Dàn bài
Mở Bài:
Cách 1:
– Chiếc nón lá rất thân thuộc với dân tộc ta
– Đi cùng tà áo dài, chiếc nón lá làm tăng thêm vẻ dịu dàng, duyên dáng cho
người phụ nữ Việt Nam.
Cách 2:
“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”
(Bài thơ đan nón – Nguyễn Khoa Điềm)
Đã từ lâu chiếc nón lá đã đi vào nhiều bài thơ, bài ca Việt Nam và trở thành
biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ thanh mảnh, nhẹ nhàng của chiếc nón
bài thơ, cùng với tá áo dài bay trong gió đã làm tôn lên vẻ đẹp của người con gái.
Cách 3:
“Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ trong tay
Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”
Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ
xứ Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều
truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ
Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc nón lá nhẹ nhàng và tà áo
dài tha thướt đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ.
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Thân Bài:
1/ Nguồn gốc:
Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã
Với cây mác sắt, người thợ làm nón (thường là đàn ông làm ở khâu này)
chuốt từng nan tre sao cho tròn đều và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ nhỉnh
hơn đường kính que tăm một chút. Sau đó uốn những nan tre này thành những
vòng tròn thật tròn đều và bóng bẩy từ nhỏ đến lớn. Mỗi cái nón sẽ cần 16 nan tre
uốn thành vòng tròn này đặt từ nhỏ đến lớn vào một cái khung bằng gỗ có hình
chóp. Sau đó người thợ sẽ xếp lá lên khung, người xếp lá phải khéo và đều tay
không để các phiến lá chồng lên nhau hay xô lệch.
Kể về quá trình làm nón lá mà không kể đến nón bài thơ xứ Huế là một thiếu
xót. Đặc biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có hai lớp: lớp lá trong gồm
20 lá, lớp lá ngoài cùng gồm 30 lá và lớp bài thơ được đặt nằm ở giữa. Khi xây lá
lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều
lớp hay xô lệch để nón đạt được sự thanh và mỏng. Khi soi lên ánh nắng, ta đọc
được bài thơ, nhìn thấy rõ hình cầu Tràng Tiền hay chùa Thiên Mụ. Chính những
chi tiết này đã tạo nên nét đặc trưng cho nón bài thơ xứ Huế.
c/ Chằm nón:
Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón.
Nón được chằm bằng sợi nilông dẻo, dai, săn chắc và phải có màu trắng trong suốt.
Các lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Khi nón đã
chằm hoàn tất người ta đính thêm vào chớp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ
bóng láng để làm duyên cho chiếc nón. Sau đó mới phủ lên nón lớp dầu nhiều lần,
phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền.
Ở vòng tròn lớn bằng nan tre dưới đáy hình chóp, khoảng nan thứ ba và thứ
tư, người thợ sẽ dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc quai. Quai nón thường được
làm bằng lụa, the, nhung,…với màu sắc tươi tắn như tím, hồng đào, xanh thiên
lí, càng làm tăng thêm nét duyên cho người đội nón.
Chiếc nón đẹp không chỉ ở đường kim, mũi chỉ mà còn ở dáng nón. Chiếc
nón còn đẹp bởi đây là sản phẩm đặc trưng mang nét văn hóa truyền thống được
tạo nên bởi đôi tay khéo léo của những người thợ ở các làng nghề.
3/ Công dụng:
Từ làng Chuông ở Tây Hồ đến Ba Đồn những chiếc nón lá trải đi khắp nẻo
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên
Như vậy mới thấy được rằng nón là là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị,
thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Chiếc nón lá ra đời từ rất lâu, khoảng 2500 - 3000 năm TCN. Lịch sử hình
thành và lưu giữ cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm
này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân việt, đặc biệt
là người phụ nữ; hiện diện trong những lời kể của bà, của mẹ và hiện diện trong
các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.
Nhắc đến nón lá thì chắc chắn mọi người sẽ nghĩ đến ngay đến Huế, mảnh
đất nên thơ, trữ tình có tà áo dài và nụ cười duyên của cô gái Huế. Huế cũng được
biết là nơi sản xuất nón lá với nhiều thương hiệu nổi tiếng. Những làng nghề làm
nón lá ở Huế đã thu hút không ít khách du lịch ghé thăm và chọn sản phẩm này
làm quà.
Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ từ khâu
lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta
vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy.
Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự
khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn
gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không
đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá
cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm
nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá
vừa mềm vừa phẳng.
Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho
sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt
tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau
đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho
nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.
các làng làm nghề chằm nón như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy)
và ở Phủ Cam (Huế) là làng nón đặc biệt nhất,… những làng nghề này đã tạo ra
các sản phẩm công phu và nó cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.
Một chiếc nón lá đẹp phải trãi qua rất nhìu công đoạn. Trước tiên là khâu
chọn lá, phơi lá, chọn chỉ đến mức tinh xảo trong từng mũi kim. Lá làm nón có thể
dùng lá dừa hay lá cọ.
Lá dừa: để có được lá dừa thì phải mua từ trong Nam. Lá được vận chuyển
và được làm trước khi chuyển đến nơi. Sau đó, chọn lọc lá để xử lí với lưu huỳnh
nhằm đảm bảo được độ bền về thời gian và màu sắc của lá. Dẫu việc chọn lá có
công phu nhưng chiếc nón làm ra cũng không sánh bằng nón được làm từ lá cọ.
Lá cọ: để khoác lên cho nón một chiếc áo với chật liệu tốt, người may phải
công phu hơn từ việc chọn lá cho đến việc may và khâu. Những chiếc lá cọ phải có
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
những yếu tố sau: lá non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá cũng trắng xanh. Nếu
gân và thân lá đều trắng thì chiếc nón làm ra sẽ không được đẹp.
Một chiếc nón đạt đầy đủ tiêu chuẩn là phải có màu trắng xanh với những
gân lá màu xanh nhẹ, mặt phải bóng, khi đan lên nón thì màu của gân nổi lên bề
mặt thì mới đẹp mặt. Để đạt được điều dó, phải làm đúng theo các qui trình một
cách tuân thủ.
Sấy khô phải đúng kĩ thuật, sấy trên bếp than (đối với lá cọ thì không phơi
nắng). Sau đó thì phơi sương từ 2 đến 4 giờ cho lá mềm ra. Rồi dùng một búi vải
và một miếng gang đặt trên bếp than có độ nóng vừa phải để ủi sao cho từng chiếc
lá được phẳng. Mỗi chiếc lá phải được chọn lựa kĩ càng và cắt với cùng độ dài là
50cm (lá cọ).
Với cây mắc sắt, những người thợ làm nón (thường là đàn ông) chuốt từng
nan tre sao cho tròn đều và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ lớn hơn que tăm một
chút. Sau đó uốn nan tre này thành những vòng tròn từ lớn đến bé và đều được
bóng bẩy. Mỗi cái nón sẽ có 16 nan tre đã được uốn vòng như thế này. Những
vòng ấy sẽ được đặt vào một khung bằng gỗ hình chóp theo vị trí từ dưới lên từ lớn
đến bé. Sau đó người thợ sẽ xếp lá lên khung, người xếp lá phải khéo và đều tay để
chợ,… nón còn là những chiếc quạt xua đi những mệt mõi, mồ hôi dưới nắng hè
gây gắt mà còn làm tăng nét duyên và tăng thêm nét nữ tính của người phụ nữ. Vào
mỗi buổi tan trường, hình ảnh những cô nữ xinh với tà áo dài trắng tinh khôi,
nghiêng nghiêng dưới vành nón lá là lúm đồng tiền làm duyên đã làm say lòng, là
cảm hứng nghệ thuật của bao văn nhân, nghệ sĩ,… Trong nghệ thuật, tiết mục múa
nón của các cô gái dưới bộ áo dài duyên dàng thể hiện nét dịu dàng, mềm mại kím
dáo của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện và đều nhận được những
tràng pháo tay tán thưởng của khán giả.
Muốn nón lá được bền chỉ nên đội dưới nắng, không nên đi trong mưa. Sau
khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá
nón giòn và ố vàng làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón. Nón lá là một
những bề mặt của đất nước Việt Nam ta, vì thế hãy giữ gìn nó thật kĩ tránh làm
hỏng nón. Hãy yêu quý cái nét truyền thống lấu đời đó, nón lá sẽ là một người bạn
luôn sát cánh cùng chúng ta dẫu có nắng mưa gian khổ.
Bài tham khảo 3:
Nón nầy che nắng che mưa
Nón nầy để đội cho vừa đôi ta
Ca dao
Tôi là chiếc nón lá Việt Nam không xa lạ với con người, ngày nay ở hải
ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá
dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của đàn bà Việt Nam, chắc chắn không ai
chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.
Tôi dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc
Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời
sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời
sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng
nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Họ hàng nhà nón được chia thành nhiều loại khác
nhau qua từng giai đoạn lịch sử:
con công đang xòe cánh.
Người ta chặt những bé lá còn búp, cành bé lá có hình nan quạt nhiều lá đơn
chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê
có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá,
từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại.
Bé lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương
đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng,
dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải
nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy
dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần
ngoài của nón. Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có
6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ
khác nhau lên khung. Cái khung này phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng
cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng. Tôi thường chỉ 16 vành tròn
làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, tôi còn được thêu trên mình những bài
thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền
lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây này giống cây sậy,
khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá
thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41cm, người ta phết
phía ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào
bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi
sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ
Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm)
tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải,
chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy
phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã
hơn. Họ hàng nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt Nam.
Nón em chẳng đáng mấy đồng,
Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng
nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp,
rạo rực vì những bâng khuâng Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say
đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài
những điều đã được ca dao truyền tụng, Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn,
đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá:
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi en dịu ướt
Còn ta mắt anh
Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau
Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước anh nghe chừng sai nhịp.
Thu Nhất Phương
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như:
Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ,
Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu
nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường
Tiền, con đò trên sông Hương và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn
xứ Huế.
Sông Hương lắm chuyến đò ngang
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình
Ca dao
Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà
nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy
nên có câu ca dao:
Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm
nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón
trắng mảnh mai - một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này
phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi
hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.
Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có
một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3 - 4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25 -
30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu
cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50.000 chiếc nón.
Gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung
Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ
vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam.
Nhớ nón Gò Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai
Đời sống văn minh, phát triển nhưng dòng họ nhà nón lá vẫn thuần túy
nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh
mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.