Tổng kết các dạng câu
hỏi và kỹ năng làm bài
thi môn Ngữ Văn
LOVEBOOK.VN
Đây là trích đoạn trong cuốn TỔNG KẾT CÁC DẠNG CÂU HỎI VÀ KỸ NĂNG LÀM BÀI THI MÔN NGỮ
VĂN do Nhà sách LOVEBOOK phát hành. Để sở hữu cuốn sách, mời quý độc giả và các em học sinh liên hệ
với nhà sách:
Địa chỉ: 101, Nguyễn Ngọc Nại, Thanh Xuân, Hà Nội
SĐT: 0466.860.849. Hotline: 0963 140 260
Web: lovebook.vn.
Facebook: facebook.com/lovebook.vn
Email:
Trong trường hợp website không truy cập được, các bạn có thể truy cập: để đặt hàng.
Mời quý độc giả tham khảo thêm 1 cuốn nữa trong chuỗi sách luyện thi môn NGỮ VĂN do LOVEBOOK phát
hành:
TUYỂN TẬP 90 ĐỀ THI THỬ MÔN NGỮ VĂN
Tổng kết các dạng câu hỏi và kỹ năng làm bài thi môn Ngữ Văn
Đời phải trải qua giông tố nhưng không
được cúi đầu trước giông tố!
Đặng Thùy Trâm
LOVEBOOK tin tưởng chắc chắn rằng
em sẽ đỗ đại học một cách tự hào nhất!
Kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học đã rất gần trước mắt các em. Để có một phương pháp
ôn tập tốt, một tài liệu ôn tập hiệu quả là điều vô cùng cần thiết với các em. Trước vô vàn tài liệu phong phú
trên thị trường sách ôn luyện thi môn Văn hiện nay, chúng tôi – những sinh viên đại học từng là thủ khoa, á
khoa các trường đại học lớn trong nước như Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội… và những sinh
viên từng đạt giải nhất, nhì, ba trong kì thi học sinh giỏi Văn toàn quốc năm 2012 – đã trăn trở và viết nên
cuốn sách luyện thi này cho các em: Cuốn sách mang tên “Các dạng câu hỏi và kĩ năng làm bài thi môn Văn
trong các kì thi quốc gia”.
Cuốn sách được viết dựa trên cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ GD&ĐT. Phần thứ nhất của sách là
phần hướng dẫn chi tiết các kĩ năng, phương pháp để viết được một bài văn hay, đạt điểm cao trong các kì thi
tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học - cao đẳng.
Phần thứ nhất của cuốn sách là phần kĩ năng được viết bởi tác giả là á khoa Nguyễn Thế Hưng,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2012 với điểm thi là 25,5 điểm (trong đó điểm Văn của Thế Hưng là 9,0
điểm). Nguyễn Thế Hưng đã chia sẻ một cách chân thành những kinh nghiệm của mình khi viết Văn một cách
chi tiết sẽ giúp các em hiểu cần phải triển khai ôn tập như thế nào, tiến hành viết bài (cụ thể là cách triển khai
ý, cách trình bày bài, cách diễn đạt…) để các em có thể đạt điểm cao trong các bài thi tốt nghiệp THPT và
tuyển sinh đại học - cao đẳng của mình. Những kinh nghiệm đó là kết quả quý báu đã được kiểm nghiệm qua
chính quá trình ôn luyện của tác giả sẽ giúp các em có thể đọc tham khảo để áp dụng trong quá trình ôn thi tốt
nghiệp THPT và tuyển sinh đại học - cao đẳng của mình một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.
Phần thứ hai là điểm nhấn của cuốn sách, phần này triển khai nội dung chi tiết thành các dạng đề
cụ thể. Các dạng đề được triển khai công phu và chi tiết, được kiểm duyệt qua nhiều lần sửa chữa, hứa hẹn sẽ
đem đến cho các em những kiến thức cần thiết và vô cùng chắt lọc để các em yên tâm làm bài thi tốt nghiệp
THPT và tuyển sinh đại học - cao đẳng của mình. Mỗi dạng đề đều được viết theo cấu trúc chính gồm các
phần như sau: Giới thiệu dạng đề (hướng dẫn về xu hướng tiếp cận đề bài đối với những dạng đề mới, hoặc
những dạng đề mà các em còn băn khoăn về xu hướng ra đề); phần kĩ năng chính khi làm bài (gồm các nội
dung như: cách làm bài thi đối với dạng đề; các lưu ý học sinh cần biết về cách trình bày, cách triển khai ý…;
những sai lầm học sinh thường mắc phải); phần những đề bài và hướng dẫn cụ thể (ở phần này chúng tôi sẽ
triển khai thực hiện những đề bài mẫu cho học sinh, một số đề bài được triển khai thành dàn ý chi tiết, một số
Chúng tôi hi vọng sẽ cung cấp cho các em một cuốn sách thực sự hiệu quả và bổ ích cho kì thi tốt nghiệp
THPT và tuyển sinh đại học - cao đẳng sắp tới.
Chúc các em thành công!
Thay mặt nhóm tác giả
NGUYỄN THẾ HƯNG Mục lục
PHẦN THỨ NHẤT: KINH NGHIỆM ĐỂ VIẾT ĐƯỢC BÀI VĂN HAY – CÁC DẠNG ĐỀ, KIỂU ĐỀ THI THƯỜNG GẶP VÀ
PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI THI MÔN NGỮ VĂN…………………………………………………………………………….……………………8
PHẦN 2: CÁC DẠNG ĐỀ BÀI CỤ THỂ…………………………………………………………………………….…………………………………24
CHƯƠNG 1: DẠNG ĐỀ BÀI ĐỌC – HIỂU (5 ĐIỂM) THEO ĐỊNH HƯỚNG MỚI CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2014………………………………… ………………………………………………………………………………………………….……………………24
CHƯƠNG 2: DẠNG BÀI PHÂN TÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ, LỜI ĐỀ TỪ CỦA TÁC PHẨM……………………………………… 57
CHƯƠNG 3: DẠNG ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI………………………………………………………….…………….……………………72
CHƯƠNG 4: DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRỮ TÌNH……………………………………………………………………………….93
CHƯƠNG 5: DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI…………………………………………………125
CHƯƠNG 6: DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT KỊCH…………………………………………………………………………………… 159
CHƯƠNG 7: DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG TÁC PHẨM…………… …180
CHƯƠNG 8: DẠNG ĐỀ SO SÁNH THƠ……………………………………………………………………………………………………………213
CHƯƠNG 9: DẠNG ĐỀ SO SÁNH CHI TIẾT TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC………………………………………………… 244
CHƯƠNG 10: DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN XUÔI…………………………………………………………………………………………………271
PHẦN 3: TUYỂN TẬP ĐỀ THI CỦA BỘ GIÁO DỤC QUA CÁC NĂM……………………………………………………………………304
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2014 KHỐI D…………………………………………………………………………………………304
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2014 KHỐI C…………………………………………………………………………………………308
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013 KHỐI C…………………………………………………………………………………………312
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013 KHỐI D…………………………………………………………………………………………316
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012 KHỐI C…………………………………………………………………………………………320
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012 KHỐI D…………………………………………………………………………………………324
Thứ hai là cách diễn đạt. Đây là vấn đề gây cho học sinh nhiều lo lắng nhất. Kể từ khi học phổ thông
cho đến ngày đi thi này, các em vẫn được các thầy cô nhắc nhở rất nhiều về cách diễn đạt văn phong sao cho
mạch lạc và sáng rõ nhất. Văn phong không trong sáng là thứ văn dây cà ra dây muống, viết một đoạn dài dằng
dặc tràng giang đại hải nhưng khi kết luận lại thì không hiểu mình đang viết cái gì. Đó là lỗi thường gặp của
các em học sinh luôn có quan niệm “văn viết dài thì mới được điểm cao “nhưng lại không hề trau dồi một cách
kĩ lưỡng ngôn từ, câu chữ, hình ảnh, giọng điệu viết như thế nào mới là phù hợp. Ở cấp độ nhỏ hơn là diễn đạt
trong một đoạn văn, có những em viết những câu không liên quan đến việc phục vụ chủ đề cho đoạn, đoạn văn
của các em chen thêm những câu phân tích, bình giảng mà không phục vụ cho nội dung mà các em đang muốn
hướng đến. Điều này khiến cho bài viết của các em bị lạc giọng, là nguyên nhân dẫn đến việc mất điểm rất
đáng tiếc.
Để khắc phục lỗi diễn đạt, các em cần chú trọng đến tính mạch lạc trong bài viết. Trong một đoạn văn,
các em cần có một câu chủ đề (thường đặt ở đầu đoạn để người chấm dễ theo dõi và dễ cho điểm các em, các
em sẽ ghi điểm và gây thiện cảm đối với người chấm bằng cách viết rất thông minh này). Bài viết mạch lạc là
bài viết có những đoạn văn mạch lạc, đoạn văn đó cần được thể hiện bằng cách nêu rõ được ý chính cần viết
là gì, triển khai cho luận điểm gì, được phân tích cụ thể vào đoạn văn như thế nào. Cách diễn đạt hay sẽ khiến
kiến thức mà các em phô ra trong bài viết của mình có trọng lượng hơn. Nếu có kiến thức mà không biết trình
bày một cách khoa học, không biết diễn đạt một cách trơn tru thì kiến thức đó dẫu được đưa vào bài viết cũng
không khiến vấn đề được sáng tỏ, hơn nữa nó chỉ làm cho bài văn trở nên tủn mủn, người chấm khó theo dõi
được quá trình viết của học sinh. Một học sinh thông minh là học sinh cho người chấm biết mình có được
lượng kiến thức như thế nào, được trình bày một cách sáng rõ ra sao.
Để luyện tập được về cách diễn đạt, học sinh cần được luyện viết những đoạn văn ngắn. Trước khi thi,
học sinh cũng cần có những khoảng thời gian nhất định tự luyện viết, trước hết là một vài đoạn văn, sau đó là
viết nhiều đoạn văn để phục vụ một luận điểm nào đó của bài nghị luận. Việc luyện tập viết từng đoạn (được
phát triển dần dần để đến khi viết một bài văn hoàn chỉnh, học sinh giữ được một thói quen viết đoạn văn có
câu chủ đề, hoặc không xuất hiện câu chủ đề thì học sinh cũng cần hướng đến đoạn văn đó phải phục vụ một
nội dung cụ thể nào) là một thao tác vô cùng quan trọng đối với học sinh. Các em nên luyện tập càng nhiều
càng tốt, làm sao để bài văn của mình có sự mạch lạc, trơn tru nhất. Nên có một chiếc đồng hồ bấm giờ để
luyện viết vừa nhanh, vừa đúng yêu cầu về sự mạch lạc.
Thứ ba là về cách trình bày bài viết của các em. Những bài văn được điểm cao là những bài văn được
việc bài thi của họ được điểm cao. Bài văn từ đầu đến cuối không có một dẫn chứng nào, hoặc chỉ lẻ tẻ một
vài dẫn chứng mà chỉ thuần là phân tích, bình giảng thì kết quả sẽ không cao. Chẳng hạn khi phân tích vẻ đẹp
sử thi của nhân vật Tnú mà học sinh chỉ chia ra các ý (dẫu là như trong đáp án) mà không hề có một dòng trích
dẫn nào trong tác phẩm thì bài văn sẽ rơi vào hiện tượng “ăn ốc nói mò”, làm việc thiếu căn cứ… Dẫn chứng
không chỉ là những hình ảnh, những chi tiết mà học sinh “nhớ mang máng” mà phải là những câu văn, những
câu thơ cụ thể của tác giả mà học sinh trích ra được. Tuy vậy không phải cứ trích nhiều dẫn chứng là học sinh
được điểm cao. Dẫn chứng được chọn trích ra cần phải là những dẫn chứng thiết yếu nhất, cần thiết cho việc
dẫn ra để phân tích tác phẩm. Trích dẫn cần kèm với phân tích và diễn giải. Học sinh trích quá nhiều dẫn chứng
không tinh sắc hoặc trích dẫn được mà không phân tích được cũng sẽ làm hỏng bài viết của các em. Do đó
việc lựa chọn dẫn chứng để trích vào bài làm cũng là điều các em cần phải cân nhắc thật kĩ. Học sinh cần chọn
lọc một cách tinh tế nhất những câu văn làm sáng rõ vấn đề được đặt ra trong tác phẩm. Trong quá trình ôn
luyện, ngoài việc đọc các bài văn tham khảo, luyện viết những bài văn hoàn chỉnh, những đoạn văn cụ thể để
phục vụ mục đích diễn đạt thì học sinh cần ôn luyện việc thuộc dẫn chứng trong các tác phẩm. Đây là công
đoạn ôn tập cực kì quan trọng sẽ được đề cập thêm ở phần sau của cuốn sách.
Như vậy, trên đây chúng tôi đã thống kê được những nhân tố quan trọng nhất để viết được một bài văn
hay. Tựu trung lại, học sinh cần nắm được những nội dung sau đây và luyện tập thật nhuần nhuyễn chúng
trước kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trường ĐH – CĐ:
- Một là, kiến thức cơ bản. Điều này phục vụ cho việc viết một bài văn đúng. Để viết hay trước
hết cần phải đúng.
- Hai là, cách thức diễn đạt. Điều này tạo nên tính logic cho bài văn. Một bài văn logic là bài văn
thể hiện được hết kiến thức trong quá trình ôn tập của học sinh vào bài làm. Dù quá trình ôn tập học
sinh làm việc một cách hăng say mà không thể hiện được điều đó vào bài làm thì cũng không thể đạt
được kết quả cao.
- Ba là, cách thức trình bày. Điều này tạo nên tính đẹp cho bài văn.
- Bốn là, hệ thống dẫn chứng phong phú và tinh sắc. Điều này khiến cho bài văn có cơ sở, không
phải là do cách học sinh suy diễn mà thành bài văn. Nhân tố này là nhân tố phân biệt những bài thi
điểm cao và những bài thi ở mức trung bình khá.
Bài làm được điểm cao là bài làm biết kết hợp được tất cả các nhân tố trên một cách nhuần nhuyễn. Học
sinh không chỉ viết để biểu đạt suy nghĩ của mình mà hơn hết là trình bày nó một cách sáng rõ, có cơ sở từ
ám ảnh trong sáng tác của ông là miếng ăn, cái đói, cái chết và nước mắt, vấn đề về nhân tính được trở đi trở
lại trong ngòi bút Nam Cao. Nhắc đến Nguyễn Tuân là phải kể đến phong cách của một nhà văn uyên bác, tài
hoa trong vốn kiến thức sâu rộng, vốn sống phong phú và độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ Việt. Nắm
vững được phong cách nghệ thuật của nhà văn là cơ sở vững chắc để học sinh tiến hành so sánh giữa các nhà
văn một cách có định hướng, xây dựng luận điểm khi phân tích một tác phẩm bất kì của nhà văn đó.
1.2. Về tác phẩm
Trước hết học sinh cần ý thức được việc nắm vững kiến thức về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm văn học.
Hoàn cảnh ra đời bao gồm cả hoàn cảnh rộng và hoàn cảnh hẹp, đây là nội dung quan trọng có thể được hỏi
trong câu hỏi 2 điểm. Ví dụ: “Bài thơ Tây Tiến đã mấy lần đổi tên? Ý nghĩa của những lần đổi tên đó?” là một
cách hỏi về hoàn cảnh ra đời hẹp của tác phẩm. Học sinh chú ý học sâu những tác phẩm có hoàn cảnh ra đời
đặc biệt có thể dng làm đề thi (ví dụ một số tác phẩm sau: Việt Bắc – Tố Hữu, Chí Phèo – Nam Cao, Đất
Nước – Nguyễn Khoa Điềm, Vợ nhặt – Kim Lân…) Bên cạnh đó, việc nắm vững hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm sẽ giúp học sinh viết Mở bài một cách trơn tru, rất được khuyến khích trong các bài thi tốt nghiệp THPT
và tuyển sinh ĐH – CĐ vì mang tính khoa học cao.
Thứ hai, học sinh cần nắm được nội dung chính của tác phẩm. Cụ thể như sau:
Đối với tác phẩm thơ, học sinh cần nắm được nội dung của từng đoạn thơ cũng như của cả bài thơ. Điều
này là vô cùng cần thiết vì đề thi thường trích một đoạn thơ trong chương trình và yêu cầu so sánh với một
đoạn thơ khác. Nếu học sinh nắm vững được nội dung cơ bản của tất cả khổ thơ của các bài thơ thì khi so sánh,
học sinh sẽ dễ dàng trong việc xây dựng luận điểm. Khi ôn tập phần thơ, các học sinh thường học một cách
tổng thể bài thơ theo hướng dẫn của các sách tham khảo. Do đó học sinh có thể có kĩ năng phân tích cả bài thơ
một cách trơn tru, tuy nhiên khi đặt đoạn thơ ở thế độc lập thì học sinh lại lúng túng không biết phân tích luận
điểm cũng như so sánh với đoạn thơ khác như thế nào. Để khắc phục được khó khăn trên, thay vì ôn tập tràn
lan phần thơ theo từng bài, học sinh cần tư duy theo từng đoạn, phải nắm được rằng đoạn thơ này nói về điều
gì, đoạn thơ sau nói về điều gì. Cách ôn tập có định hướng như trên là vô cng cần thiết nhưng thường bị các
em bỏ qua và chính điều đó khiến các em lúng túng trong việc ôn tập và đến khi thi gặp một dạng đề mới thì
không biết xử trí ra sao.
Ví dụ trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng có bốn khổ thơ. Khổ thơ thứ nhất là “Sông Mã xa
rồi Tây Tiến ơi! … Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” có nội dung chính là cuộc hành quân của binh đoàn Tây
Tiến giữa núi rừng miền Tây nhiều chông gai trắc trở. Khổ thơ thứ hai là “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa…
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” có nội dung chính là tái hiện tình cảm quân dân thắm thiết như cá với nước.
Hai bài văn có hàm lượng kiến thức và nội dung khoa học như nhau, bài được đánh giá cao hơn là bài có trích
dẫn chứng làm cơ sở cho lập luận của mình. Có những bài viết dài, diễn đạt tốt, luận điểm tương đối sáng rõ
nhưng điểm vẫn không cao do không trích dẫn dẫn chứng minh họa cho những luận điểm của mình. Ví dụ
trong đề bài: “Phân tích vẻ đẹp hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân”
được chia thành ba luận điểm: Huấn Cao là một anh hng đầy khí phách, Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa và
Huấn Cao là một con người giàu thiên lương. Tuy nhiên học sinh chỉ phân tích dựa trên nhưng chi tiết chung
chung mà học sinh nhớ được mà không hề trích dẫn những đoạn văn cụ thể mà tác giả miêu tả vẻ đẹp của
Huấn Cao là một con người khí phách, tài hoa và thiên lương trong sáng như thế nào thì bài viết sẽ không có
tính thuyết phục. Do đó, việc học dẫn chứng và trích dẫn dẫn chứng là điều vô cùng quan trọng nếu muốn đạt
điểm cao. Một số học sinh có hỏi chúng tôi về việc chỉ nhớ dẫn chứng “một cách mang máng, đại khái” thì sẽ
xử lí như thế nào. Đối với vấn đề trên, học sinh không cần lo lắng bởi các em có nhiều cách để trích dẫn chứng,
không dẫn được trực tiếp bằng dấu ngoặc kép (“”) thì học sinh có thể trích dẫn gián tiếp. Việc trích dẫn gián
tiếp không làm giảm giá trị của các dẫn chứng được trích ra, nhưng là một cách hiệu quả để xử lí những trường
hợp các em học sinh không nhớ chính xác dẫn chứng.
Việc chọn lọc dẫn chứng để học cũng là điều các em học sinh nên lưu ý. Các em không nên dành quá
nhiều thời gian để học dẫn chứng một cách tràn lan, chỉ nên học các dẫn chứng tiêu biểu nhất, những chi tiết
nghệ thuật đắt giá nhất, là nguồn kiến thức sẽ trợ giúp đắc lực cho các em phân tích tác phẩm.
1.3. Về kiến thức xã hội
Dạng đề nghị luận xã hội là dạng đề quen thuộc và thường xuyên xuất hiện trong tất cả các đề thi tốt
nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH - CĐ nên học sinh cần chú ý ôn tập một cách thích hợp. Dạng đề này có
phạm vi ôn tập vô cùng rộng rãi và phong phú, điều mà học sinh cần làm là tự trau dồi những tri thức xã hội
cho bản thân. Những kiến thức xã hội cần được học bên cạnh những sự kiện được cập nhật, học sinh cần trau
dồi thêm kiến thức về những tấm gương trong lịch sử ở nhiều lĩnh vực như: thể thao, nghệ thuật, chính trị,
kinh tế, văn hóa… để làm phong phú cho hệ thống dẫn chứng của các em. Nên lưu ý và thận trọng khi tiếp
nhận các thông tin thời sự diễn ra trong thời điểm gần đây, bởi tuy nó cập nhật với thời điểm hiện tại nhưng
lại chưa được kiểm chứng qua độ lắng của thời gian. Những thông tin các em thu thập được có thể sẽ không
được đồng tình một cách hoàn toàn bởi người cán bộ chấm thi. Do đó nên lấy những dẫn chứng đã được kiểm
chứng và công nhận bởi thời gian như tấm gương của các nguyên thủ quốc gia, những vận động viên nổi tiếng,
những nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử… được ghi nhớ tới bởi mọi người. Tuy nhiên tránh lặp lại những
Để viết được một bài văn hay, học sinh không chỉ ôn tập thường xuyên về kiến thức mà còn phải rèn
luyện hằng ngày bằng cách luyện viết ở nhà. Việc luyện viết thường xuyên không chỉ giúp học sinh tăng được
khả năng diễn đạt mà còn tăng được khả năng viết nhanh. Việc luyện tập cần được triển khai một cách khoa
học với đồng hồ bấm giờ để học sinh kiểm soát được thời gian viết. Việc luyện viết được tiến hành cụ thể trên
hai phương diện sau.
2.1. Viết đoạn văn
Trước khi viết thành bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần có những lần viết đoạn văn để tăng khả năng viết
đoạn văn của mình. Viết đoạn văn cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Thứ nhất, đoạn văn cần phải thực hiện nhiệm vụ làm sáng tỏ một chủ đề nào đó. Trong đoạn cần có câu
chủ đề đặt ở đầu đoạn hoặc cuối đoạn (thường là đầu đoạn, khi đó học sinh thực hiện lối viết diễn dịch). Việc
viết văn có câu chủ đề tạo cho học sinh cách viết văn sáng rõ, không viết lan man tràng giang đại hải mà lại
không phục vụ một nội dung cụ thể nào. Đối với những đoạn văn không có câu chủ đề (học sinh triển khai
theo cách viết song hành, các câu văn có vai trò như nhau) thì các câu văn cần phải hướng tới một chủ đề ngầm
ẩn nào đó. Trong các kiểu viết đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng – phân – hợp thì cách
viết diễn dịch là cách viết được khuyến khích viết vì nó khá dễ viết, ý của bài làm vì thế cũng được sáng rõ,
bên cạnh đó người cán bộ chấm thi cũng dễ dàng nhận ra người viết có những ý cụ thể nào. Học sinh cần dành
thời gian để luyện viết đoạn văn theo hướng diễn dịch với chủ đề là những luận điểm của các bài văn nghị
luận. Ví dụ: Trong đề bài “Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu trong
đoạn thơ sau của bài thơ Sóng – Xuân Quỳnh: “Dữ dội và dịu êm… Khi nào ta yêu nhau” ” sẽ triển khai thành
bốn ý chính như sau: Bốn câu đầu là những cung bậc của sóng và cũng là những cung bậc cảm xúc của người
phụ nữ trong tình yêu; Khổ thơ thứ hai là sự khẳng định tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi
hồi, xao xuyến, rung động trái tim của đôi lứa; Khổ thứ ba là băn khoăn về nơi tình yêu bắt đầu; Khổ thứ tư là
cách lí giải nguồn gốc của sóng và qua đó là sự trăn trở về khởi đầu tình yêu. Triển khai bốn ý này, học sinh
có thể viết thành bốn đoạn văn một cách mạch lạc. Có những đoạn văn phải xuống dòng để so sánh với những
câu thơ khác thì học sinh cần lưu ý không làm đứt mạch tư duy của luận điểm chính, không làm luận điểm
chính lạc hướng sang một vấn đề khác. Có luận điểm phải phân tích thành nhiều ý nhỏ hơn buộc học sinh cần
triển khai thành nhiều đoạn văn khác nhau.
Như vậy, học sinh có thể tự tạo chủ đề để tự luyện viết. Luyện viết càng nhiều sẽ càng khiến tư duy của
các em sáng rõ, khi viết thành bài văn sẽ hiệu quả hơn.
nhận ra phần nào là tương đồng, năm nào cũng có, phần nào là những đổi mới của Bộ GD&ĐT. Thông qua
thang điểm có sẵn, học sinh lưu ý không để mất điểm một cách đáng tiếc với một số phần nhỏ có trong thang
điểm. Ví dụ trong câu hỏi 5 điểm (Câu 3a hoặc 3b trong các đề thi tuyển sinh ĐH – CĐ) luôn có một phần là
“vài nét về tác giả và tác phẩm” (0,5 điểm) và phần “giải thích ý kiến (vấn đề, khái niệm) được đặt ra ở đề bài”
(0,5 điểm). Trong một số bài làm của học sinh, chúng tôi nhận thấy thiếu hẳn hai phần cơ bản này. Theo thang
điểm, học sinh sẽ bị mất 1,0 điểm (chỉ được tối đa là 4,0/5,0 điểm). Trong các kì thi lớn như thi tốt nghiệp
THPT và thi tuyển sinh ĐH – CĐ thì chỉ 0,25 điểm cũng có thể là ranh giới giữa đỗ và trượt chứ không kể đến
việc các em bị mất tới 1,0 điểm. Các em học sinh cần tham khảo kĩ đề thi của Bộ GD&ĐT những năm gần đây
để rút kinh nghiệm và tránh bị mất điểm một cách đáng tiếc.
Tham khảo đề thi các năm của Bộ GD&ĐT cần đi kèm với theo dõi các thông tin trên báo chí, các
phương tiện thông tin đại chúng khác để nhận thấy sự biến đổi về cách thức ra đề mới của Bộ GD&ĐT. Đối
với các đề bài ra theo hướng mới, học sinh cần khẩn trương ôn tập theo phương pháp mới, không được trì trệ
bởi những kiến thức cũ mà phải cập nhật những luồng kiến thức mới. Về đề bài cụ thể theo hướng ra đề mới
của Bộ GD&ĐT, chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau của cuốn sách.
III. PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI THI MÔN NGỮ VĂN
Môn Ngữ văn là một môn học khó đối với nhiều em, tuy nhiên nắm được phương pháp làm bài sẽ khiến
các em dễ dàng đạt điểm cao. Chúng tôi xin chia sẻ những phương pháp làm bài đã được áp dụng của những
thí sinh đạt điểm thủ khoa, á khoa các trường Đại học hàng đầu cả nước những năm gần đây (chính là một số
tác giả của cuốn sách này). Đó là những phương pháp vô cng quý báu, các em học sinh có thể tham khảo và
áp dụng nếu thấy phương pháp đó ph hợp với bản thân bởi lẽ không có phương pháp nào là tối ưu cho tất cả
mọi người. Điểm chung nhất của các phương pháp làm bài thi là sao để bài làm được sáng rõ nhất, ý của người
viết được triển khai một cách khoa học nhất. Một bài văn được điểm cao là bài văn biết cách trình bày bài làm.
Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về phương pháp để làm bài thi một cách hiệu quả nhất để các em học
sinh chuẩn bị bước vào kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH – CĐ có thể tham khảo.
1. Phân bố thời gian hợp lí
Muốn làm bài thi một cách hiệu quả, học sinh cần phân bố thời gian một cách hợp lí để làm bài. Tùy
theo dạng đề mà học sinh triển khai việc phân bố thời gian khác nhau. Việc phân bố thời gian được tính theo
thang điểm như sau:
Đối với dạng đề 180 phút: 180 phút được chia đều cho 10 điểm. Như vậy, đối với các câu hỏi 2 điểm,
Đây là dạng đề mới được đề ra trong năm 2014, là một điểm nhấn khá quan trọng của nền giáo dục và
thi cử đã nhiều năm nay. Tuy nhiên, bất kì sự đổi mới nào cũng có thể là cản trở và có những khó khăn, vướng
mắc ban đầu nhất định của nó. Học sinh có thể bất ngờ và nhiều lúng túng trước sự thay đổi đề này của Bộ
GD&ĐT. Trong cuốn sách này, chúng tôi xin đưa ra dạng đề này một cách sơ lược nhất để học sinh nhận diện
và biết cách trình bày vào bài thi.
Dưới đây là một dạng câu hỏi Đọc – hiểu (Câu 5 điểm):
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Câu 1. Đoạn thơ trên trích từ bài thơ nào, tác giả là ai? Cho biết vị trí đoạn thơ?
Câu 2. Nêu chủ đề của đoạn thơ?
Câu 3. Anh (chị) hiểu hai từ Tây Tiến (có bản viết là Tây tiến) trong đoạn thơ trên có nghĩa là gì? Chữ Tiến có
nên viết hoa không? Tại sao?
Câu 4. Anh (chị) hiểu Sầm Nứa trong câu thơ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi là gì?
Câu 5. Ở khổ thơ đầu có những tính từ mang tính tạo hình như khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút nghĩa là khổ
thơ đang vẽ ra cái thế hiểm trở của đèo dốc, của đường rừng. Theo anh (chị), từ láy thăm thẳm trong câu thơ
Đường lên thăm thẳm một chia phôi có cng ý nghĩa như vậy không? Tại sao?
Câu 6. Trong câu thơ cuối Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi có chữ về rất đáng chú ý. Hãy cho biết những câu
thơ có chữ về trong bài thơ trên của Quang Dũng. Ý nghĩa chung của những từ về đó là gì?
Câu 7. Đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ trên?
Câu 8. Chọn lựa và phân tích một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên?
Câu 9. Chỉ bằng 5 câu đơn, hãy ghi lại cảm xúc của anh (chị) khi đọc đoạn thơ trên.
Câu 10. Trong thơ ca 1945 – 1975, có nhiều tác phẩm viết về đề tài người lính. Hãy kể tên một số tác phẩm
viết về đề tài này mà anh (chị) đã học hoặc đã đọc. Viết hai câu thơ trong số những bài thơ đó gây ấn tượng
cho em nhất.
[Đề thi thử nghiệm được sưu tầm và chỉnh sửa trên Internet – NTH]
nhiều khó khăn trong việc tìm ý, việc viết bài sẽ trở nên có định hướng và thông thường đáp án cũng được
triển khai theo hướng như vậy (các em có thể theo dõi đáp án của các đề thi hai năm gần nhất mà chúng tôi
trích dẫn ở phần sau của sách để nhận biết rõ hơn cách làm đối với dạng câu hỏi này).
Để làm được dạng đề này và có định hướng ôn tập, học sinh cần nắm được tác phẩm ở dạng chỉnh thể
và chi tiết. Khi nhắc đến chi tiết bất kì trong tác phẩm, học sinh cũng cần nhắc đến vai trò của nó trong toàn
bộ tác phẩm (thông thường những chi tiết được lựa chọn ra đề để phân tích là những chi tiết đắt giá, kết tinh
giá trị của toàn bộ tác phẩm đó). Chúng tôi sẽ chỉ đi sâu vào dạng “Phân tích ý nghĩa nhan đề và lời đề từ của
tác phẩm” là một kiểu nhỏ thuộc dạng này ở phần sau của cuốn sách, những kiểu ra đề khác học sinh tham
khảo trong đáp án của Bộ GD&ĐT.
2.3. Dạng đề viết bài nghị luận xã hội
Theo cấu trúc đề thi những năm trước, dạng bài nghị luận xã hội thường là Câu 2, điểm ch câu này
thường là 3 điểm. Tuy nhiên, với xu hướng ra đề mới như hiện nay, câu nghị luận xã hội có thể được đưa vào
thành một ý nhỏ trong phần Đọc – hiểu với lượng điểm cho câu này là 2 điểm, hoặc đưa vào phần Viết với
lượng điểm là 5 điểm. Ty theo lượng điểm mà câu hỏi cho, học sinh phải tự tiết chế kiến thức, hệ thống lập
luận và dẫn chứng vừa đủ, không làm quá chú tâm hoặc quá sơ sài, không khớp với yêu cầu đặt ra đối với câu
hỏi.
Nghị luận xã hội không phải là dạng đề hoàn toàn mới đối với học sinh như những năm học trước, nó đã
được đưa vào đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH – CĐ đã nhiều năm nay và không còn gây khó
khăn đối với học sinh. Có hai dạng đề bài được đưa vào kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH - CĐ đó
là: nghị luận về một hiện tượng đời sống và một tư tưởng, đạo lí (hoặc so sánh các hiện tượng đời sống, tư
tưởng, đạo lí trái chiều nhau để nhận ra bài học hành động). Dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra
trong các tác phẩm văn học không nằm trong phạm vi ôn tập của các kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh
ĐH - CĐ nên học sinh cần lưu ý khoanh vng ôn tập chính xác.
Một số đề bài nghị luận xã hội cụ thể được đưa ra trong những năm gần đây như sau:
- Nhìn lại vốn văn hoá dân tộc, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu có nêu một nhận xét về lối sống của
người Việt Nam truyền thống là:
Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế,
giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn.
(Theo Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.160-161)
2.4. Dạng đề viết bài nghị luận văn học
Đây là dạng bài tập truyền thống có từ nhiều năm nay và chưa bao giờ không xuất hiện trong đề thi tốt
nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH - CĐ và lượng điểm của câu hỏi bao giờ cũng lớn nhất (5 điểm) nên học
sinh cần có tâm thế ôn tập tốt nhất đối với dạng đề này. Dạng đề nghị luận văn học bao gồm nhiều cách hỏi,
chúng tôi tổng hợp thành các dạng như sau:
2.4.1. Dạng đề phân tích, bình giảng thơ
Trong đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH - CĐ bao giờ cũng giới hạn phạm vi phân tích, bình
giảng thơ trong một vài khổ thơ nhất định hoặc cả một bài thơ ngắn. Tuy nhiên xu hướng phân tích một vài
khổ sẽ được chú trọng hơn bởi sẽ không đủ về mặt thời gian để học sinh triển khai phân tích một bài thơ dài
và cũng không đánh giá được sự tinh nhạy của học sinh khi triển khai thành phân tích những chi tiết nhỏ trong
tổng thể bài thơ. Dạng đề này thường thấy trong những năm học trước năm 2012 như:
- Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
(Đất Nước – trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12 nâng cao, tập 1,
NXB Giáo dục, 2009, tr. 117 – 118)
Phân tích đoạn thơ trên để làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.
[Đề thi tuyển sinh ĐH – CĐ năm 2011, khối C]
- Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 2014
A. Nhận dạng đề thi theo định hướng mới của Bộ GD&ĐT
Trong kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2014, Bộ GD&ĐT chủ trương thay đổi cấu
trúc đề thi, yêu cầu cần đổi mới cách ra đề theo hướng đánh giá năng lực Ngữ văn của người học và yêu cầu
được thiết kế cao dần qua các năm. Việc học sinh cần nắm vững các dạng đề, cách ôn tập và cách làm bài đối
với từng dạng đề là những nội dung rất quan trọng. Về xu hướng cụ thể, Bộ GD&ĐT sẽ triển khai theo hướng
sau:
Đề thi gồm 2 phần: Phần 1 (5 điểm): Kiểm tra đánh giá kĩ năng đọc của học sinh (theo hình thức của
PISA) – Phần Đọc – hiểu; phần 2 (5 điểm): kiểm tra đánh giá kĩ năng viết (làm văn) của học sinh (theo hướng
mở, tích hợp) – Phần Viết. Các em học sinh lớp 12 cần nắm được sự thay đổi này để không gặp bỡ ngỡ trước
những sự đổi thay bất thường của đề bài năm nay so với hệ thống hàng loạt đề bài theo mô típ của những năm
học trước. Sự chuẩn bị tâm thế không hề bất ngờ trước sự thay đổi của đề bài là một yếu tố cực kì quan trọng
đem đến một kết quả tốt cho các em.
Phần I: Đọc – hiểu (5 điểm). Dạng bài được đưa ra ở phần này như sau:
Đưa ra một số văn bản ngắn hoặc thơ (gồm cả văn bản hoàn chỉnh và đoạn văn, đoạn thơ), lấy từ những
nguồn khác nhau, ngoài chương trình sách giáo khoa (như sách báo, Internet ); nội dung bàn về một vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, y học, khoa học ; thuộc hai dạng: văn bản văn học và văn bản
thông tin; được viết theo các phong cách ngôn ngữ mà học sinh THPT đã học, tập trung vào các phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật/văn học, khoa học, báo chí, hành chính để từ đó có thể khai thác được những giá trị nội
dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Các văn bản được lựa chọn để học sinh tìm hiểu cần phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh;
khuyến khích các văn bản có hình thức trình bày đa dạng (gồm cả chữ viết, hình ảnh ).
Xây dựng bộ câu hỏi gồm 5 loại câu hỏi của PISA (như đã nêu ở trên). Hạn chế các câu hỏi nhận biết,
tăng cường các câu hỏi thông hiểu và vận dụng. Yêu cầu học sinh tìm kiếm thông tin từ văn bản; tích hợp và
suy luận thông tin đã đọc; phản ánh và đánh giá, tìm hiểu văn bản và liên hệ với kinh nghiệm bản thân.
Mục đích của phương án này là kiểm tra kĩ năng đọc các loại văn bản khác nhau. Với việc tiếp xúc văn
bản mà học sinh chưa tiếp xúc, học sinh hoàn toàn có thể thể hiện khả năng đọc – hiểu của mình nhằm đánh
giá một cách tương đối khả năng này của học sinh. Kĩ năng này được đánh giá là quan trọng và cần thiết đối
với mỗi học sinh, do đó được Bộ GD&ĐT chú trọng đưa vào đề thi năm nay.
đề thi văn bản văn học mới, có cùng chủ đề hoặc thể loại với các văn bản đã học trong chương trình sách giáo
khoa. Câu này khuyến khích những học sinh thi tuyển sinh ĐH, CĐ vào các trường/ngành khoa học xã hội lựa
chọn vì nó phù hợp với trình độ khuynh hướng nghề nghiệp của các em.
Phương án này có thể sử dụng trong cả kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ. Học sinh cần lưu
ý ôn tập kĩ đối với hai dạng đề này.
Cách 3: Gồm 2 câu, học sinh chỉ lựa chọn 1 câu để làm bài:
Câu 1: Yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận văn học về tác phẩm thơ.
Câu 2: Yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận văn học về tác phẩm văn xuôi hoặc kịch.
Dạng đề: tương tự như Câu 2 của cách 2. Cách này có thể ít được lưu tâm vì không tích hợp được đề bài
viết bài văn nghị luận xã hội vào đề thi tuy nhiên cũng là một trong những hướng ra đề của Bộ GD&ĐT năm
2014.
Như vậy, về cơ bản đề thi của Bộ GD&ĐT năm 2014 không có nhiều thay đổi so với các năm trước. Các
em học sinh vẫn cần nắm những dạng đề cơ bản mà trước đó các em vẫn phải ôn tập. Duy chỉ có dạng đề Đọc
– hiểu là tương đối mới mẻ so với các em, chúng tôi sẽ trình bày những dạng đề và cách làm bài cụ thể của
chúng để các em học sinh tham khảo. Các chương tiếp sau của sách sẽ trình bày các dạng bài mà học sinh cần
lưu ý khi ôn tập kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH – CĐ.
B. Những lưu ý về phương pháp làm bài và các sai lầm cần tránh mắc phải đối với dạng đề Đọc –
hiểu (câu 5 điểm)
1. Phương pháp làm bài
Đây là dạng đề mới đối với học sinh vì không đi vào kiến thức trên diện rộng mà điểm vào những vùng
kiến thức rất nhỏ trong thao tác đọc – hiểu tác phẩm. Hơn nữa, tác phẩm được đặt ra không nhất thiết phải nằm
trong chương trình sách giáo khoa nên phần nhiều gây bỡ ngỡ với các em. Để khắc phục được điều này, trước
hết các em phải có một tâm thế bình tĩnh trước bất kì đề bài nào và có phương pháp thích hợp để làm bài.
Về hình thức trình bày dạng đề này, học sinh cần tuân thủ theo những yêu cầu đặt ra của đề bài. Chúng
tôi đưa ra cụ thể hai đề bài như sau để hướng dẫn cho học sinh cách làm bài:
- Đề 1:
Câu 1: Chỉ ra chỗ sai trong văn bản sau và sửa lại cho đúng. Nội dung của văn bản này nói về điều gì ?
Hãy đặt tên cho văn bản.
Những chùm phượng đỏ rực đã nở trên những chùm cây.Thế là mùa hè đã đến! Những tiếng ve kêu râm
Câu 3. Tìm và phân tích ý nghĩa biểu đạt của hình tượng “siêu bão” và “hoa súng”?
Câu 4. Chủ đề bài thơ được tạo dựng từ những suy nghĩ và cảm xúc về “siêu bão” và “hoa súng”, đó là
hai hình tượng có quan hệ như thế nào trong bài thơ?
Câu 5. Chỉ ra và phân tích giá trị của thủ pháp nghệ thuật chính được nhà thơ sử dụng để khắc họa hai
hình tượng “siêu bão” và “hoa súng” ?
Câu 6. Chủ đề bài thơ là gì?
Câu 7. Hai câu thơ bông súng tím mọc lên từ nước/ bão Haiyan mọc lên từ biển được viết theo thủ pháp
nghệ thuật gì? Ý thơ thơ gợi những suy nghĩ gì?
Câu 8. Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ bão Haiyan cho tôi kinh hoàng/ bông súng tím cho tôi bình
yên là gì?
1. Sử dụng từ trái nghĩa
2. Sử dụng hình ảnh nhân hóa
3. Sử dụng cấu trúc câu cảm thán
4. Sử dụng phép tương phản, đối lập
Câu 9. Hai câu thơ rồi có thể người ta quên/ mà nhớ gợi đến điều gì?
Câu 10. Cảm nhận ý nghĩa câu thơ trong siêu bão một bông súng nở. Ý thơ thể hiện một cảm hứng nhân
sinh như thế nào?
Câu 11. Câu thơ này có gợi cho em liên tưởng đến một tứ thơ, một câu chuyện, hay một câu tục ngữ…
cùng một ý nghĩa?
Câu 12. Hai câu kết bông súng ấy màu tím/ bão Haiyan màu gì? đã gợi cho em những xúc cảm hay suy
nghĩ gì đặc biệt?
[Người ra đề thi thử: Trịnh Thu Tuyết (THPT Chu Văn An, Hà Nội)]
Trong hai đề bài trên có nhiều câu hỏi khác nhau khiến học sinh lúng túng trong việc trình bày đâu sẽ
trình bày thành đoạn văn, đâu sẽ trình bày thành bài văn, đâu sẽ trình bày thành ý (không gạch đầu dòng mà
xuống dòng viết thành ý). Để biết được cách trình bày phù hợp, học sinh cần nhận dạng được câu hỏi. Đối với
hai đề bài trên, học sinh phải viết thành bài văn hoàn chỉnh có Mở bài, Thân bài, Kết bài đối với câu 2 (đề
1); viết thành dạng đoạn văn (một đoạn văn hoặc một số đoạn văn ty theo dung lượng cần đáp ứng) đối với
câu 1 (đề 1) và các Câu 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 10, 11, 12 (đề 2); viết thành dạng ý (lưu ý không gạch đầu dòng) đối
với các câu còn lại.
cần thiết, hoặc ngược lại, có những đề bài yêu cầu viết thành bài (là một ý lớn, thang điểm là 2 – 3 điểm) thì
lại được viết sơ sài bằng một, hai đoạn văn. Điều này sẽ gây cản trở cho các em trong việc đạt điểm cao, bởi
trong giới hạn cho điểm thấp các em mất quá nhiều thời gian để thực hiện (điểm của phần đó cũng chỉ có vậy)
mà phần cần viết, phần được điểm cao thì các em chưa đầu tư công sức (người chấm sẽ giới hạn điểm bởi các
em viết được ít về hàm lượng kiến thức). Muốn được điểm cao, các em cần biết những câu nào cần viết dài để
ăn điểm, những câu nào chỉ điểm qua những ý chính căn cốt nhất để dành thời gian còn lại cho những câu
khác. Chúng tôi cũng lưu ý rằng cách làm bài gạch đầu dòng từ trước đến nay không được khuyến khích trong
các bài thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH - CĐ, vì thế học sinh nên có những định hướng rõ ràng trong
việc trình bày bài thi. Đối với những em đã quen gạch đầu dòng khi trả lời những câu hỏi về ý cần lưu ý không
để mất điểm bằng việc viết những ý gạch đầu dòng quá sơ lược và vắn tắt, kết quả bài thi tốt nghiệp THPT và
thi tuyển sinh ĐH - CĐ sẽ không cao. Điều quan trọng không chỉ ở các em viết những nội dung gì mà còn ở
các em trình bày như thế nào.
Thứ ba, dạng đề Đọc – hiểu yêu cầu kĩ năng viết đoạn văn rất cao của học sinh. Một bài làm thực sự có
hiệu quả và gây thiện cảm với cán bộ chấm thi là bài làm trước hết đúng quy củ về cách viết đoạn văn (cụ thể
yêu cầu về viết đoạn văn đã được nhắc ở phần trước). Học sinh tránh viết những đoạn văn không rõ chủ đề,
những đoạn văn lan man, nhiều ý thừa, không cần thiết. Học sinh giỏi là những học sinh biết chắt lọc ý tưởng
để đưa vào đoạn văn những ý tinh sắc nhất. Bên cạnh việc trình bày đoạn văn là cách chọn lọc ý để đưa vào
đoạn, bởi không phải ý nào liên quan đến vấn đề mà câu hỏi đưa ra cũng là những ý cần thiết, những ý được
đề cập trong đáp án. Học sinh cần “chạm” được vào những ý đó thì bài làm sẽ được đánh giá cao. Những bài
làm vừa đầy đủ ý, vừa trình bày đoạn văn tốt là những bài làm điểm cao.
C. Các đề bài cụ thể và hướng dẫn chi tiết cách làm về dạng đề Đọc – hiểu (5 điểm)
Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra những đề bài cụ thể và đáp án chi tiết cho từng đề bài. Những đề bài dưới
đây đều được tuyển chọn từ những giáo viên có uy tín trong việc ra đề thi ở các trường phổ thông. Các đề bài
được chỉnh sửa theo cấu trúc thay đổi xu hướng ra đề mới của Bộ GD&ĐT (nguồn: Internet). Phần đáp án có
ghi rõ cách trình bày của từng câu nên viết thành đoạn văn, một số đoạn văn, bài văn hay chia thành các ý.
Lưu ý: Đáp án được đưa ra ở phần “hướng dẫn chi tiết” được người viết sách xây dựng chỉ mang tính
chất tham khảo. Đáp án được xây dựng có thể chưa được toàn vẹn và thực sự chính xác với những yêu cầu của
Bộ GD&ĐT khi thiết kế dạng đề bài này (do người viết sách không được tham khảo một barem điểm nào của
5. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người mẹ.
Câu 2: Nêu chủ đề của bài thơ?
Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang
ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng?
Câu 4: Nghĩa của “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì?
Câu 5: Trong hai dòng thơ Những mùa quả lặn rồi lại mọc - Như mặt trời, khi như mặt trăng,
tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Hãy nêu tác dụng của biện pháp so sánh đó.
Câu 6: Ở khổ thơ thứ nhất, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ
dành cho mẹ là gì?
Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ:
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn những bí và bầu thì lớn xuống là gì?
A. Sử dụng từ trái nghĩa.
B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa.
C. Sử dụng thủ pháp miêu tả.
D. Sử dụng phép tương phản, đối lập.
Câu 8: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ ? Chúng mang dáng giọt
mồ hôi mặn - Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi? Ghi lại cảm xúc của em khi đọc hai dòng thơ này.
Câu 9: Ở khổ thơ thứ hai, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Hãy ghi lại cảm xúc của
nhà thơ mà em cảm nhận được?
Câu 10: Phần in đậm trong dòng thơ: Và chúng tôi, một thứ quả trên đời được gọi là:
A. Phụ chú. B. Khởi ngữ. C. Tình thái. D. Gọi đáp.
Câu 11: Chữ “hái” trong dòng thơ Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái có nghĩa là gì?
Câu 12: Chữ “mỏi” trong dòng thơ Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi có nghĩa là gì?
Câu 13: Những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong hai dòng thơ cuối bài? Tác dụng của
những biện pháp đó là gì?