Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ DUY MAI PHƯƠNG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
(Nghiên cứu trường hợp xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế)
Chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng Người hướng dẫn khoa học
GS.TS. Tô Duy Hợp TS. Lê Thị Kim Lan
Hà Nội – 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
cô giáo TS. Lê Thị Kim Lan, người đã hướng dẫn chu đáo và giúp đỡ tận tình trong
suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo khoa Xã hội học, trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ kiến
thức, tạo điều kiện cho tôi được học tập, rèn luyện và trưởng thành.
Xin cảm ơn lãnh đạo và người dân xã Quảng Phú cũng như nhiều cán bộ đang
công tác tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo cơ hội cho tôi được
thâm nhập thực tế, tham khảo tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Mặc dù đã nổ lực hết mình để hoàn thiện luận văn nhưng chắc chắn vẫn không
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được góp ý của quý
thầy giáo, cô giáo cùng những người quan tâm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày 05 tháng 10 năm 2014
Học viên
Lê Duy Mai Phương

được ban hành và thực thi nhiều năm qua. Tăng trưởng kinh tế theo hướng CNH,
HĐH là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự thành công của Đảng, Nhà nước
trong các chiến lược đổi mới, hội nhập quốc tế. Trong 10 năm trở lại đây, cơ cấu
kinh tế ngành đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch
vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Theo đó, từ năm 2003 đến 2013, tỷ trọng GDP
(tổng sản phẩm quốc nội) công nghiệp tuy giảm từ 39,47% xuống còn 38,3% nhưng
nhìn chung vẫn tăng trưởng so với những năm về trước và chiếm tỷ trọng lớn so với
tổng ngành; tỷ trọng dịch vụ tăng từ 37,99% lên 43,3% và tỷ trọng nông nghiệp
giảm từ 22,54% xuống còn 18,4%. Bên cạnh đó, đến 2011, cả nước đã có 13/63
tỉnh, thành phố có tỷ trọng hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch
vụ chiếm trên 40% trong khi con số này vào năm 2006 là 5/63 tỉnh thành. [50]
Ở khu vực nông thôn nói riêng, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn
ra mạnh mẽ theo xu hướng mới. Tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên, góp
phần cải thiện đời sống của người dân. Đi liền với sự thay đổi vể cơ cấu kinh tế là
sự biến đổi của lực lượng lao động ở khu vực này. So với năm 2006, trong tổng số
32 triệu người trong độ tuổi lao động, năm 2011 ở khu vực nông thôn có 59,6% lao
động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (giảm 10,8%); có 18,4% lao động hoạt
7
động trong lĩnh vực công nghiệp (tăng 5,9%) và có 20,5% lao động hoạt động trong
lĩnh vực dịch vụ (tăng 4,6%). Trình độ chuyên môn của lao động nông thôn cũng
từng bước được nâng cao. Số người trong độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật từ sơ cấp trở lên năm 2011 chiếm tỷ lệ 11,2% (cao hơn so với năm 2006 là
8,2%). Trong đó, trình độ trung cấp lần lượt ở các năm 2011, 2006 là 4,3% và 3%;
trình độ đại học là 2,2% và 1,1%. [50]
Có thể thấy cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đặc biệt là cơ cấu lao động nông
thôn đã bắt đầu có sự chuyển dịch đúng hướng, góp phần vào công cuộc CNH,
HĐH đất nước. Tuy nhiên, vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn thời kỳ
CNH, HĐH vẫn còn là một bài toán khó vì tính hai mặt của nó. Theo Lê Xuân Bá:
“CNH, HĐH và đô thị hóa có ảnh hưởng to lớn đến phát triển nông nghiệp, nông
thôn nói chung và đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn nói

vậy, vào năm 2008, đề án “Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” đã được phê duyệt với mục tiêu phấn
đấu đưa tỉnh Thừa Thiên Huế cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước hai năm so
với cả nước và là một trong những trung tâm kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung. Kể từ đó đến nay, Thừa Thiên Huế đã ghi nhận sự chuyển biến đáng kể
về bộ mặt kinh tế-xã hội, trong đó không thể thiếu yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế
cũng như chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn.
Xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một địa bàn có
nhiều lợi thế về vị trí địa lý, là cửa ngõ của huyện Quảng Điền, tiếp giáp với các
khu công nghiệp của thị xã Hương Trà, huyện Phong Điền và gần thành phố Huế,
thuận lợi cho việc buôn bán, kinh doanh, trao đổi hàng hóa. Được lựa chọn là xã
điểm của chương trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2010, chuyển dịch cơ cấu
lao động trở thành một trong những tiêu chí quan trọng được chính quyền địa
phương các cấp quan tâm. Giai đoạn 2004-2013 đã chứng kiến sự thay đổi đáng kể
trong bộ mặt kinh tế-xã hội ở địa phương, trong đó có sự góp phần rất lớn của sự
chuyển dịch cơ cấu lao động thời gian qua. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này vẫn còn
chậm và chưa đạt yêu cầu so với chủ trương đề ra, theo đó tỷ lệ lao động trong nông
nghiệp tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch
vụ chênh lệch quá lớn, chưa phát huy được tiềm năng dịch vụ của địa phương.
9
Để phát triển theo hướng CNH, HĐH tại Việt Nam nói chung và địa bàn nghiên
cứu nói riêng đã có nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn. Nội dung chủ yếu của những chính sách này thường tập trung vào
xây dựng cơ sở hạ tầng, khă năng tiếp cận nguồn vốn của người dân, khuyến khích
phát triển các làng nghề truyền thống, đào tạo nguồn nhân lực, tiếp cận khoa học kỹ
thuật… Nhìn chung, với các con số đáng mừng ở trên thì những chính sách này đã
mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, để có thể tiến xa hơn nữa thì cần có những
chiến lược lâu dài, bền vững hơn để có thể làm đòn bẩy thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động, giải quyết các vấn đề còn tồn đọng. Để làm được điều đó, nhiều
nghiên cứu liên quan đã được các nhà khoa học, hoạch định chính sách tập trung tìm

phù hợp khi nghiên cứu một vất đề vừa mang tính Kinh tế phát triển vừa mang màu
sắc của Xã hội học. Từ đó, giúp tác giả cũng như những người quan tâm đến vấn đề
dịch chuyển cơ cấu lao động nông thôn thời kỳ CNH, HĐH hoàn thiện tri thức từ lý
luận Kinh tế học và Xã hội học. Các lý thuyết Xã hội học được áp dụng là lý thuyết
biến đổi xã hội, lý thuyết HĐH và lý thuyết kinh tế phát triển. Việc áp dụng các lý
thuyết này không những giúp tác giả có cơ sở nghiên cứu, tăng giá trị khoa học của
đề tài mà còn có thể soi xét vấn đề dưới góc độ lý thuyết để xem thử liệu lý thuyết
đã đưa ra có đúng với thực tiễn ở địa bàn nghiên cứu hay không, từ đó giúp công tác
khuyến nghị được đúng hướng, vừa phù hợp với nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao
động lại vừa đảm bảo đến các mặt kinh tế-xã hội của địa phương.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Điểm nổi bật của đề tài là làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn trong bối cảnh CNH, HĐH. Qua đó, chỉ ra những tác động của quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động đến sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Với cách tiếp cận từ góc độ khoa học xã hội, tác giả sẽ đưa ra những nhận định,
đánh giá hoàn toàn khác so với phần lớn những nghiên cứu trước đây chỉ thiên về
kinh tế học, kinh tế phát triển. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích như một báo
cáo tổng kết tình hình lao động, việc làm của xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế từ 2004-2013, giúp chính quyền địa phương có cái nhìn tổng quát
hơn về tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động thời gian qua. Đồng thời, đưa ra
11
khuyến nghị để khắc phục một số vấn đề còn tồn đọng liên quan đến lao động, việc
làm trong thời kỳ mới.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động.
Trong khả năng tiếp cận nguồn tài liệu của tác giả, có thể kể đến một số công trình
của Colin Green và Gareth Leeves về quá trình chuyển từ lao động phổ thông sang
các lao động có công việc ổn định ở Australia; Bhattacharya (2002) về di cư nông
thôn ở thành thị Ấn Độ; Haan Arjan và Ben Rogaly (2002)… Hầu hết các nghiên cứu
này đã nhấn mạnh phân tích nguyên nhân của chuyển dịch cơ cấu lao động hoặc di cư

biến đổi xã hội, đô thị hóa, tác giả đã vận dụng các lý thuyết ấy một cách nhuần
nhuyễn để phân tích những biến đổi xã hội ở nông thôn dưới tác động của chính
sách tích tụ rộng đất và đô thị hóa qua khảo sát tại tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu
được thực hiện thông qua phương pháp luận liên ngành như kinh tế nông nghiệp,
lịch sử, xã hội học và các phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội mà chủ
yếu là Xã hội học. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng quá trình đô thị hóa đã làm
thay đổi cả không gian sinh sống lẫn quan hệ xã hội của người nông dân. Người dân
phải chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp do bị mất đất nông nghiệp, cơ giới hóa, điện
khí hóa trong sản xuất buộc lòng phải phân công lại lực lượng lao động, dẫn đến sự
phân tầng xã hội ở nông thôn. Từ năm 2000-2005, cơ bản có sự tăng trưởng kinh tế
đáng kể, cuộc sống của người dân được cải thiện rất nhiều. Tuy nhiên, nhiều vấn đề
xã hội cũng xuất hiện như: Thất nghiệp gia tăng, khả năng cạnh tranh sản phẩm từ
nông thôn kém, mâu thuẫn đất đai ngày càng trầm trọng, môi trường và không gian
sống bị suy thoái, rủi ro trong sản xuất gia tăng, mâu thuẫn xã hội giữa các nhóm lợi
ích trong nông thôn càng này có nguy cơ làm mất ổn định xã hội. Nghiên cứu cũng
đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những biến đổi có tính tiêu cực
và tạo điều kiện cho những biến đổi tích cực để phát triển bền vững nông thôn. [28]
Nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
nông thôn Việt Nam” do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thực hiện
trong khuôn khổ dự án IAE-MISPA hợp tác đồng nghiên cứu số 2005/IAE/SF/002
được công bố năm 2006 đã đưa ra những kết quả nghiên cứu rõ nét về thực trạng
chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ giữa thập kỷ 1990 đến nay. Điểm nhấn
của nghiên cứu này là chỉ ra các yếu tố thúc đẩy và ngăn cản quá trình chuyển dịch
13
cơ cấu lao động nông thôn, đồng thời đề xuất chính sách nhằm tác động tích cực tới
quá trình chuyển đổi này. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng, hiện nay vẫn còn
một khoảng cách khá lớn về chất lượng lao động ở nông thôn và thành thị, cơ cấu
lao động nông thôn trong tổng thể chung lực lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế
đã giảm xuống nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao là 58% vào năm 2004, chuyển dịch cơ
cấu lao động không hoàn toàn đi cùng với chuyển dich cơ cấu kinh tế. Bên cạnh đó,

phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, từ đó đề xuất một số biện pháp
nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng phát triển bền vững. Theo
đó, nghiên cứu chỉ ra rằng vào thời kỳ 2000-2008, tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành diễn ra nhanh và theo hướng giảm tỷ trọng lao động ngành nông
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là ngành công
nghiệp. Trong vòng 8 năm, tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm từ 69,3%
xuống còn 43,6% (giảm 25,7%), ngành công nghiệp tăng từ 14,2% lên 27,4% (tăng
13,2%), và ngành dịch vụ tăng từ 16,5% lên 29% (tăng 12,5%). Như vậy, bình quân
mỗi năm đã giảm được 3,2% tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, tăng tỷ
trọng lao động ngành công nghiệp 1,7% và tăng tỷ trọng lao động ngành dịch vụ
1,6%. Những con số trên được tác giả đánh giá khá phù hợp với xu hướng chung của
quá trình CNH, HĐH. Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu lao động thì năng suất lao
động tăng, góp phần phát triển kinh tế vùng, GDP bình quân đầu người tăng. Tuy
nhiên, chuyển dịch cơ cấu lao động tại đồng bằng sông Hồng cũng còn gặp nhiều hạn
chế, đó là quá trình chuyển dịch còn mang tính tự phát, chủ yếu do quá trình di dân
mà có; tốc độ chuyển dịch cơ cấu theo ngành còn chậm, chưa tương xứng với tiềm
năng của vùng; hơn nữa nhiều người dân bị mất đất sản xuất trong khi chưa được đào
tào tay nghề để gia nhập các ngành công nghiệp dịch vụ nên chưa thể tìm được một
công việc phù hợp, đảm bảo sinh kế bền vững; môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng đến
sức khỏe của người dân; hệ thống cơ sở vật chất vẫn chưa đảm bảo được nhu cầu. Từ
đó tác giả cũng mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
lao động trong thời gian đến theo các hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoàn thiện
và phát triển thị trường lao động, xuất khẩu lao động, chính sách Nhà nước, vốn đầu
tư, phát triển khoa học công nghệ và đào tạo lực lượng lao động. [4]
15
Cùng chủ đề chuyển dịch cơ cấu lao động, hai tác giả Nguyễn Thị Phương Lan
và Phan Văn Yên của trường Đại học Thủy Lợi-Hà Nội cũng đã trình bày một kết
quả phân tích sâu sắc qua đề tài “Chuyển dịch cơ cấu lao động tại huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội giai đoạn công nghiệp hóa, đô thị hóa” năm 2011. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, sự chuyển dịch cơ cấu lao động tại Hoài Đức là tích cực theo

động. Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu lao động chưa gắn liền với giải quyế các
vấn đề xã hội như việc làm, xóa đói giảm nghèo, đào tạo và bồi dưỡng trình độ
chuyên môn kỹ thuật cho lao động. Với những vấn đề tồn đọng trên, nghiên cứu đã
đưa ra sáu giải pháp nhằm thúc đẩy tiền trình chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp
với cơ cấu kinh tế tại địa bàn. [42]
Ở Thừa Thiên Huế, nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Văn Phát là một
công trình mới nhất từ trước đến nay nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu lao động
nông thôn. Nghiên cứu đã cho thấy, từ 2006-2012 tỷ trọng lao động làm việc trong
các ngành ở nông thôn Thừa Thiên Huế chuyển dịch theo hướng tích cực. Xu
hướng chung là tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng lao động
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên. So với năm 2006, năm 2012 tỷ
trọng lao động ngành nông nghiệp giảm 5,2%, tỷ trọng lao động ngành công nghiệp
tăng 5,2% và tỷ trọng lao động ngành dịch vụ tăng 0,48%. Nghiên cứu cũng đã chỉ
ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn tỉnh
Thừa Thiên Huế thời gian qua bao gồm: Hệ thống chính sách của Nhà nước và
chính quyền địa phương, tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn, quy mô và chất lượng nguồn lao động nông thôn, quá trình đô thị hóa và CNH
khu vực nông thôn. Nghiên cứu cũng đã đề ra các giải pháp đồng bộ để thức đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhanh chóng như: Xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý, phát triển các ngành kinh tế thu hút nhiều lao động nông thôn,
đào tạo nghề và giải quyết việc làm được ưu tiên thực hiện. [25]
Thông qua một vài nghiên cứu kể trên, có thể thấy rằng chủ đề chuyển dịch cơ
cấu lao động nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu. Rõ
ràng đây là một vấn đề nóng bỏng và mang tính thời sự bởi chuyển dịch cơ cấu lao
động đã, đang và sẽ diễn ra khi Việt Nam đang phát triển theo hướng CNH, HĐH.
17
Chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra ở nhiều vùng trong cả nước, từ Bắc đến Nam.
Tuy nhiên, theo nhìn nhận của tác giả thì phần lớn những nghiên cứu đã được công
bố có điểm xuất phát từ kinh tế học, kinh tế phát triển nhiều hơn là nghiên cứu từ

5.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại 4/12 thôn của xã Quảng Phú,
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm: Thôn Hạ Lang, thôn Hạ Cảng,
thôn Phú Lễ, thôn Bao La. Đây là những thôn tập trung lực lượng lao động đông đảo
nhất, hội tụ đầy đủ các ngành nghề có mặt trên địa bàn, địa thế cũng nằm ngay tại
trung tâm xã, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động rõ nét so
với các thôn còn lại.
Thời gian:
Thời gian vấn đề nghiên cứu: Giai đoạn 2004-2013
Thời gian nghiên cứu trên địa bàn: Từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2014.
Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn được thể hiện ở nhiều khía
cạnh. Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
kinh tế và theo vùng địa lý. Cụ thể, phân theo theo ngành kinh tế gồm có nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; phân theo vùng địa lý gồm chuyển dịch lao động tại
chỗ và chuyển dịch lao động ra các địa phương khác. Đề tài cũng chỉ rõ những tác
động lên sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương trên các khía cạnh: Cơ cấu
kinh tế địa phương, thu nhập, mức sống và vấn đề việc làm của người dân. Bên
cạnh đó, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu và mô tả thực trạng chuyển dịch cơ
cấu lao động, phần tác động chỉ là những khám phá ban đầu.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ CNH, HĐH như thế nào?
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động có tác độngra sao đến sự phát triểnkinh
tế-xã hội của địa phương?
Làm thế nào để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng
CNH, HĐH lại vừa đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân về mặt kinh tế-xã hội,
nhất là trong vấn đề việc làm?
19
6.2. Giả thuyết nghiên cứu

chuyển đổi nghề nghiệp, chuyển đổi nơi làm việc (nếu có) và những thay đổi trong
cuộc sống của bản thân trong 10 năm qua.
Đã có 11 câu chuyện lịch sử được tiến hành. Đối tượng được phỏng vấn là
người dân địa phương (28 tuổi trở lên) đang sinh sống tại địa phương, phân bổ đồng
đều về các thôn dựa trên các tiêu chí giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp. Cụ thể, có 06
nam và 05 nữ đã được phỏng vấn. Thời gian cho một cuộc phỏng vấn từ 60-90 phút.
Công cụ thu thập thông tin là bản hướng dẫn phỏng vấn câu chuyện lịch sử đã được
thiết kế sẵn. [Xem phụ lục số 4]
Thông tin sẽ được tư liệu hóa và xử lý theo phương pháp truyền thống.
7.3. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc sẽ thu thập những thông tin chung về các
chủ trương và quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động thời kỳ CNH, HĐH
và chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn trong 10 năm qua. Đánh giá sự
thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội của địa phưong kể từ khi có sự chuyển dịch này. Đồng
thời, tìm hiểu những khó khăn trong việc quản lý và thực thi các chính sách lao động,
việc làm liên quan đến việc phát triển kinh tế-xã hội theo hướng CNH, HĐH.
Có 08 cuộc phỏng vấn bán cấu đã được tiến hành. Đối tượng được phỏng vấn
là các cán bộ xã (01 Bí thư Đảng ủy, 01 Phó chủ tịch phụ trách Văn hóa–Xã hội, 01
Chủ tịch Hội Phụ nữ) và các cán bộ thôn (03 trưởng thôn và 2 phó trưởng thôn).
Thời gian cho một cuộc phỏng vấn từ 60-90 phút. Công cụ thu thập thông tin là bản
hướng dẫn phỏng vấn sâu đã được thiết kế sẵn. [Xem phụ lục số 5]
Thông tin được tư liệu hóa và xử lý theo phương pháp truyền thống.
7.4. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Chủ đề của phương pháp thảo luận nhóm tập trung là tìm hiểu tác động của
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động đối với đời sống của người dân địa phương.
Bên cạnh đó, cuộc thảo luận nhóm cũng thu thập thông tin cơ bản về tình hình
chuyển dịch lao cơ cấu lao động trong thời gian.
Có 02 cuộc thảo luận nhóm được tiến hành tại thôn Phú Lễ và thôn Hạ Cảng.
Các thôn còn lại không thể thực hiện thảo luận nhóm do không mời được người dân
tham gia. Đối tượng được mời đến thảo luận nhóm là nam/nữ trong độ tuổi lao động

n: là dung lượng mẫu điều tra
ε
: sai số chọn mẫu
t: độ tin cậy
Với N = 2095,
ε
= 6% (0.06), t = 95% (1.96), dung lượng mẫu điều tra tính
theo công thức trên là n = 237.Mẫu phụ là 10%, như vậy tổng mẫu điều tra là 262
phiếu. Tuy nhiên, quá trình thu thập và xử lý thông tin dựa trên số mẫu đã tính là
237 và được phân bố theo bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu mẫu
Thôn
Bao La Hạ Cảng Hạ Lang 1 Hạ Lang 2 Phú Lễ Tổng
22
Tổng người 39 36 48 65 49 237
Giới tính Nam 22 18 27 35 25 127
Nhóm tuổi 28-35 8 5 9 10 7 39
Tỷ lệ 36.4 27.8 33.3 28.6 28.0
Nhóm tuổi 36-45 8 5 9 13 8 43
Tỷ lệ 36.4 27.8 33.3 37.1 32.0
46-60 6 7 9 12 9 45
Nhóm tuổi Tỷ lệ 27.3 44.4 33.3 34.3 40.0
Giới tính Nữ 17 17 21 30 25 110
Nhóm tuổi 28-35 6 5 6 9 5 31
Tỷ lệ 35.3 29.4 28.6 30.0 20.0
Nhóm tuổi 36-45 6 8 8 12 11 45
Tỷ lệ 35.3 47.1 38.1 40.0 44.0
Nhóm tuổi 46-60 5 5 7 9 8 34
Tỷ lệ 29.4 29.4 33.3 30.0 32.0
Thông tin xử lý bằng phần mềm SPSS Version 16.

tác giữa sự vật, hiện tượng mà sự nổ lực vật chất- tinh thần của con người (cá nhân,
nhóm, tổ chức) trong quá trình lao động và hoạt động nghề nghiệp tác động và biến
đổi chúng thành hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ.
Phương tiện lao động là tập hợp các dụng cụ, đồ dùng, vật dụng, thiết bị,
máy móc, kỹ năng, tri thức mà chủ thể lao động sử dụng để tác động hay thực
hiện các thao tác.
Điều kiện lao động là tập hợp các đặc điểm và tính chất của môi trường tự
nhiên-xã hội mà trong đó diễn ra quá trình lao động.
Chủ thể lao động là cá nhân, nhóm, tổ chức xã hội với các đặc điểm, phẩm
chất được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa và trong hoạt
động lao động.
Xu hướng lao động là phức hợp những ý nghĩa, giá trị mà cá nhân, xã hội gán
cho lao động của họ.
25

Trích đoạn Chuyển dịch về số lượng lao động theo vùng Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng xét về góc độ giới tính Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng xét về góc độ tuổi tác Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng xét về góc độ học vấn Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng xét về góc độ chuyên môn kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status