ĐỀ SỐ 1
ĐỀ THI HSG CẤP TỈNH - NGỮ VĂN 12
Năm học: 2014 – 2015
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Sở GD&ĐT Thanh Hóa
22 ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI VĂN LỚP 12 CẤP TỈNH
Câu 1 (6.0 điểm )
Hạnh phúc trong tầm tay.
Câu 2 (6.0 điểm)
Tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong cảm nhận về sự sống
trần gian qua hai đoạn thơ sau:
“ Của ong bướm này đây tuần tháng
mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng
mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; ”
(Trích Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, 2008)
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
điểm)
II.Yêu cầu cụ thể
Câu 1 (6.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống: hệ
thống luận
điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc,
hình ảnh.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận, bố cục hợp lí, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi
chính
tả.
2. Yêu cầu về kiến thức
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giải thích 1.0
- Mỗi người có một quan niệm và cảm nhận khác nhau về hạnh 0.5
4
phúc. Tuy nhiên có thể nhận thấy hạnh phúc thường gắn liền với
trạng thái vui sướng khi con người cảm thấy thỏa mãn ý nguyện nào
đó của mình.
- Hạnh phúc trong tầm tay: hạnh phúc không phải điều gì quá xa
vời. Ai cũng có khả năng tạo lập hạnh phúc cho bản thân mình.
0.5
2. Bàn luận 4.0
- Hạnh phúc là khát vọng, là mong muốn, là đích đến của con 1.0
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận 0.5
2. Tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử
trong
những cảm nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn
thơ
5.0
2.1. Giải thích 0.5
- Tiếng nói riêng là nét độc đáo trong cách nhìn, cách cảm nhận
và
cách thể hiện của nhà thơ, là biểu hiện cá tính sáng tạo của người
nghệ sĩ.
- Tiếng nói riêng góp phần bộc lộ tư tưởng, khẳng định bản lĩnh,
tài
năng của mỗi nhà văn, nhà thơ.
2.2. Biểu hiện tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử
trong cảm nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn thơ
4.5
2.2.1. Cảm hứng sáng tạo 0.5
-Với Xuân Diệu là cảm xúc rạo rực, háo hức của một trái tim
nồng
nhiệt, cuồng si đang tận hưởng trọn vẹn thanh sắc của cuộc đời.
-Còn với Hàn Mạc Tử là nỗi khắc khoải trong nỗ lực tìm kiếm
sức liên tưởng, ngôn ngữ tinh tế, độc đáo (đại từ phiếm chỉ ai,
phụ
từ chỉ mức độ quá)
3. Đánh giá khái quát 0.5
- Hai đoạn thơ ngắn nhưng phần nào đã biểu hiện được những nét
độc
đáo trong phong cách thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử.
- Tiếng nói riêng đó được tạo nên từ tài năng vượt trội, tâm hồn
nhạy
cảm trước thiên nhiên, cuộc sống và trái tim thấm đẫm tình đời,
tình
người của hai thi sĩ, góp phần tạo nên sự hấp dẫn và sức sống lâu
bền
của tác phẩm.
Câu 3 (8.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học: hệ thống luận điểm rõ ràng, lập
luận
chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận, bố cục hợp lí, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi
chính
7
tả.
+ Sông Hương được miêu tả bằng một hệ thống từ ngữ gợi nét
đẹp đặc trưng của người phụ nữ: sắc đẹp dịu dàng, đường cong thật
mềm, hình cung thật tròn, dòng sông mềm như tấm lụa, uốn một cánh
9
cung rất nhẹ, điệu slow tình cảm, ngập ngừng như muốn đi muốn ở,
1.0
10
những vấn vương của một nỗi lòng, chút lẳng lơ kín đáo của tình
yêu Đó là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, kín đáo nhưng cũng đầy gợi
cảm.
- Sông Hương được miêu tả trong chiều sâu của những giá trị
văn hóa:
+ Hình ảnh so sánh mới lạ: là bản trường ca của rừng già, vẻ
đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi, điệu slow tình cảm, là không
gian sinh thành và nuôi dưỡng nền âm nhạc cổ điển Huế, là hành
động rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây
+ Trong quan hệ với thi ca, sông Hương luôn gợi những cảm
0.5
hứng mới mẻ, không bao giờ tự lặp lại mình Mỗi nhà thơ đều có
một khám phá riêng về nó
- Giọng điệu tha thiết, yêu thương: 0.5
+ Dõi theo hành trình của sông Hương từ thượng nguồn cho đến
khi về với biển.
+ Phát hiện những biến đổi tinh tế của sông Hương trong không
gian và thời gian.
+ Phát hiện mối liên hệ khăng khít giữa vẻ đẹp của sông Hương
với mảnh đất cố đô và những nét đặc trưng trong văn hóa của con
người xứ Huế.
- Giọng điệu dịu dàng, mê đắm: hành trình của sông Hương
được miêu tả trong sự liên tưởng đến câu chuyện tình yêu mãnh liệt,
một cái tôi say đắm với tình yêu quê hương đất nước. Cái tôi của
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm nên sự đa dạng cho thể loại kí nói
riêng và nền văn học dân tộc nói chung.
ĐỀ SỐ 2
ĐỀ THI HSG CẤP TỈNH - NGỮ VĂN 12
Năm học: 2014 – 2015
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Sở GD&ĐT Thanh Hóa
Câu 1 (6.0 điểm)
THƯỢNG ĐẾ CŨNG KHÔNG BIẾT
Thượng đế lấy đất sét nặn ra con người. Khi Ngài nặn xong vẫn còn thừa ra
một mẩu đất.
- Còn nặn thêm cho mày gì nữa, con người ? – Ngài hỏi
Con người suy nghĩ một lúc: có vẻ như đã đủ đầy tay, chân, đầu rồi nói:
- Xin Ngài nặn cho con hạnh phúc.
Thượng đế, dù thấy hết, biết hết nhưng cũng không hiểu được hạnh phúc là gì.
Ngài trao cục đất cho con người và nói:
- Này, tự đi mà nặn lấy cho mình hạnh phúc.
(Trích Những giai thoại hay nhất về tình yêu và cuộc sống, Tập 2, NXB Công
an Nhân Dân)
Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa câu chuyện trên.
Câu 2 (4.0 điểm)
Hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Câu 3 (10.0 điểm)
Về sự thật đằng sau bức ảnh đẹp trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu.
===== Hết =====
2. Yêu cầu về kiến thức
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giải thích 1.0
- Thượng đế là đấng toàn năng có khả năng biết hết mọi chuyện 0.5
và tạo nên con người nhưng không thể “nặn” được hạnh phúc để ban
tặng cho loài người.
- Câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc: Hạnh phúc không
0.5
bao giờ sẵn có hay là món quà được ban tặng, hạnh phúc của con
người do chính con người tạo nên.
2. Bàn luận 4.0
- Hạnh phúc là khát vọng, là mong muốn, là đích đến của con 1.0
người trong cuộc sống. Mỗi người có một quan niệm và cảm nhận
khác nhau về hạnh phúc. Có thể nhận thấy hạnh phúc gắn liền với
trạng thái vui sướng khi con người cảm thấy thỏa mãn ý nguyện nào
đó của mình.
- Hạnh phúc không phải thứ có sẵn hay là món quà được ban
phát. Hạnh phúc phải do chính con người tạo nên từ những hành
1.0
động cụ thể.
- Khi tự mình tạo nên hạnh phúc, con người sẽ cảm nhận sâu sắc
giá trị của bản thân và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Đó cũng
1.0
chính là thứ hạnh phúc có giá trị bền vững nhất.
- Phê phán lối sống dựa dẫm, ỷ lại trông chờ hoặc theo đuổi
những hạnh phúc viển vông, mơ hồ.
1.0
3. Bài học nhận thức và hành động 1.0
- Hình ảnh thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ đã góp phần khắc họa vẻ
đẹp hào hùng của người lính Tây tiến.
1.0
0.5
2.2. Thiên nhiên thơ mộng, trữ tình 1.5
- Bên cạnh nét hùng vĩ, dữ dội, hình ảnh thiên nhiên còn hiện 1.0
lên với vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình: hương hoa rừng thoang thoảng
trong đêm, nếp nhà sàn thấp thoáng giữa biển mưa, chiều sương trên
sông nước, con thuyền độc mộc giữa hai bờ lau hoang vu, hoa trôi
đong đưa trên dòng nước
- Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình góp phần khắc họa vẻ
đẹp hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn người lính Tây tiến.
0.5
3. Nghệ thuật khắc họa thiên nhiên 0.5
- Vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ hiện lên sinh động, gợi cảm
thông qua hệ thống từ ngữ giàu chất tạo hình, những hình ảnh mới
lạ, độc đáo, thủ pháp tương phản, đối lập và sự phối thanh ngắt nhịp
giàu nhạc tính.
- Với sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa,
Quang
Dũng đã khắc họa thành công hình tượng thiên nhiên vừa
hùng
vĩ dữ dội vừa thơ mộng, mĩ lệ.
Câu 3 (10.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học: hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận
chặt
hành trong gia đình hàng chài là cuộc sống lam lũ, khó nhọc và bế
1.5
tắc.
- Đó còn là hình ảnh người đàn bà vùng biển cao lớn với những
đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân
dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ
bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn,
hòa lẫn trong đám đông Bên cạnh sự thô ráp, trần trụi là vẻ đẹp
giản dị, chân thực của con người lao động. Một vẻ đẹp không dễ
nhận ra dưới cái nhìn chủ chủ quan và định kiến.
1.5
3. Ý nghĩa của sự thật đằng sau bức ảnh đẹp 2.0
Sự thật đằng sau bức ảnh đẹp đem đến một cái nhìn đa chiều,
sâu sắc:
- Dưới góc nhìn của người nghệ sĩ: Phùng nhận ra mối quan hệ
giữa
nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật đích thực phải bắt nguồn từ
đời
sống và phục vụ đời sống. Muốn vậy, quá trình sáng tạo của
người nghệ sĩ phải là kết quả của những trải nghiệm sâu sắc về hiện
thực.
-Dưới góc nhìn của người thực thi pháp luật: Đẩu nhận ra
khoảng
cách giữa lí thuyết hành pháp và thực tiễn. Vận dụng pháp luật
một cách máy móc sẽ không bao giờ giải quyết một cách thấu đáo
những vấn đề của cuộc sống.
-Dưới góc nhìn tiếp nhận: người đọc sẽ có những tình cảm và
Không một ý định tốt đẹp nào có thể biện minh được cho nhà văn, nếu vì lí do
muốn làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên, anh ta đã xuyên tạc nó: anh ta đã viết ra
không phải là những cái nhìn thấy mà là những cái muốn thấy.
(Baklanôp – nhà văn Nga)
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên và từ đó liên hệ đến
trào lưu văn học hiện thực 1930-1945.
Hết
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN
CHUNG
- Các mức điểm của đáp án đã được cân nhắc theo hướng có lợi cho học sinh.
Giám
khảo căn cứ vào nội dung triển khai và mức độ đáp ứng các yêu cầu về kĩ năng để
cho từng ý điểm tối đa hoặc thấp hơn.
- Có những chỗ không buộc học sinh phải trình bày tương tự; giám khảo cần
linh
động khi vận dụng đáp án.
- Khi cho điểm toàn bài: không làm tròn số (có thể cho: 0; 0,25; 0,5; 0,75; ).
B. HƯỚNG DẪN CỤ
THỂ
Câu
1
Nội dung yêu cầu Điểm
1. Yêu cầu về kĩ năng
phụ thuộc vào tài năng thiên bẩm và nhiều yếu tố khách quan
khác
nữa (dẫn chứng, phân tích).
- Sống có ý nghĩa là sống có ích cho bản thân, cho gia đình và
xã hội. Do đó, không phải chỉ những ai có tài năng xuất chúng, có
cống hiến lớn lao mới tìm thấy giá trị của cuộc sống mà ngay cả
những người bình thường nhất cũng có thể tìm thấy hạnh phúc, niềm
vui, niềm tự hào, tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của chính mình
(dẫn chứng, phân tích).
c. Phần mở rộng, nâng cao vấn đề
(Học sinh có thể mở rộng, nâng cao theo cách khác; giám khảo
cần linh động khi chấm. Có thể cho tối đa 0,5 điểm khi trình bày tốt
01 trong 03 ý dưới đây)
- Nếu không có ý thức làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa thì
con
người rất dễ tự hủy hoại chính mình và trở thành gánh nặng cho
gia
đình và xã hội.
- Làm cho cuộc sống bình thường của mình trở nên có ý nghĩa
cũng
là một sự thành công. Do đó, mỗi cá nhân nên thấy tự hào,
hạnh
phúc và tin tưởng vào cuộc sống bình dị nhưng có ích của
mình.
- Để có thể sống cuộc sống có ý nghĩa, ngoài kiến thức cần phải
trước
hiện tượng nhà văn lạm dụng việc “tô hồng” hiện thực.
b. Khẳng định vấn đề
Học sinh khẳng định tính đúng đắn của vấn đề trên cơ sở triển
khai các nội dung sau:
- Phản ánh chân thực, chính xác thực tế đời sống luôn là đòi hỏi
hàng đầu đối với người cầm bút.
[Học sinh xuất phát từ một vài cơ sở lí luận văn học sau đây để
0,25
0,25
0,5
1,0
triển khai luận điểm: yêu cầu về tính chân thực trong phản ánh; yêu
cầu về sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống;
chức năng văn học (đặc biệt là chức năng giáo dục và nhận thức);
vai trò của nhà văn khi mô tả hiện thực ]
- Nếu nhà văn “tô hồng” hiện thực sẽ dẫn đến việc làm người
đọc ngộ nhận và ảo tưởng về thực tế xã hội mà mình đang sống,
khiến họ không còn ý thức đấu tranh để cải tạo nó, làm cho nó ngày
càng tốt hơn lên
[Học sinh có thể diễn đạt bằng cách khác, miễn là chỉ ra được
việc “viết ra không phải là những cái nhìn thấy mà là những
cái
muốn thấy” là một hình thức phản ánh không chân thực, thiếu
chính xác nên sẽ gây ra những tác dụng tiêu cực đối với người đọc.
Trong
0,5
0,5
2.
Liên
hệ
văn
học
hiện
thực
1930
-
1945
- Vă
n học hiện
thực 1930 -
1
9
4
5
đ
ã
p
h
ả
n
á
n
h
th
ực tế đời sống