Học thuyết Am dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống - Pdf 30

Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
MỤC LỤC
TRANG
A. NGUỒN GỐC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH 2
B. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
NGŨ HÀNH TRONG TƯ TƯỞNG CỔ ĐẠI TRUNG QUỐC 14
C. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH 17
D. ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH 21
1. Ứng dụng vào một số lãnh vực đời sống 21
2. Ứng dụng vào Y học 21
3. Lịch vạn niên 22
4. Học thuyết Âm dương Ngũ hành và võ thuật Việt Nam 22
5. Phong Thủy học 24
2
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
LỜI NÓI ĐẦU
Trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ
và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến
hóa. Thái cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương
ln ln chuyển hóa làm cho vũ trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường nói:
Thái Cực thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát
Qi. Tồn thể cuộc Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lý Thái Cực, và mọi vật
đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lý Thái Cực riêng cho mình. Âm Dương
là khí vơ hình, có hai phần khác nhau là Dương và Âm để bù đắp cho nhau mà sinh
động lực.
Học thuyết ngũ hành cho rằng thế giới là do năm loại vật chất cơ bản nhất:
mộc, thổ, hoả, kim, thuỷ cấu tạo nên .Sự phát triển biến hố của các sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên (bao gồm cả con người) đều là kết quả của năm loại vật chất
này khơng ngừng vận động và tác dụng lẫn nhau. Phát hiện này đã tìm ra quy luật

Số Dương, số Cơ, số Trời: 1, 3, 5, 7, 9 (chấm trắng).

Số Âm, số Ngẫu, số Đất: 2, 4, 6, 8, 10 (chấm đen).
Số Sinh: 1, 2, 3, 4, 5.
Số Thành: 6, 7, 8, 9, 10.
Tuy nhiên, trong Hà Đồ khơng phải chỉ có Âm Dương, bởi vì chỉ riêng cơ chế Âm
Dương thì khơng đủ giải thích mọi biến thiên phức tạp của vũ trụ. Trong đồ hình
còn có cả nội dung tương tác của 10 số đếm, thơng qua sự định vị 5 con số đầu tiên
là 5 con số Sinh, đại diện cho 5 yếu tố vận động trong vũ trụ, đã được ghi rõ trong
bài ca quyết:
Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi.
Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi.
Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi.
Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.
Nghĩa Là:
Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6.
Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7.
Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8.
4
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Số Đất 4 sinh Kim, thành số Trời 9.
Số Trời 5 sinh Thổ, thành số Đất 10.
Như vậy Ngũ Hành đã được định cùng với 5 cặp số Sinh Thành ra chúng, có vị trí
Tiên Thiên theo đúng các hướng của các cặp số:
1-6: Hành Thủy, phương Bắc.
2-7: Hành Hỏa, phương Nam.
3-8: Hành Mộc, phương Đơng.
4-9: Hành Kim, phương Tây.

nơng gia trồng trọt". Qua đó có thể thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết ngũ hành vẫn
là điều chưa sáng tỏ.
Tính Chất Của Ngũ Hành
Hành Mộc gọi là Phu Hòa, vì nó phân bố ra khí ơn hòa làm cho vạn vật được nẩy
sinh tươi tốt
Hành Hỏa gọi là Thăng Minh, có nghĩa là bừng sáng, có khí thịnh trưởng làm cho
vạn vật được phát triển.
5
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Hành Thổ gọi là Bị Hóa, vì nó đầy đủ khí hóa sinh vạn vật, làm cho vạn vật được
đầy đủ hình thể.
Hành Kim gọi là Thẩm Bình, vì nó phát ra khí n tĩnh, hòa bình, làm cho vạn vật
kết quả.
Hành Thủy gọi là Tĩnh Thuận, vì có khí tĩnh mà nhu thuận làm cho vạn vật được bế
tàng, gìn giữ.
Quan hệ tương sinh nghĩa là giúp cho nhau lớn hoặc sinh ra nhau. Quan hệ tương
khắc là ức chế, làm thiệt hại nhau, nhưng phải biểu hiện cái ý qn bình và giữ gìn
lẫn nhau giữa các Hành. Quan hệ tương sinh và tương khắc nếu thái q lại làm cho
sự biến hóa bị trở ngại khác thường thành ra thái q hoặc bất cập.
Hành Mộc bất cập được gọi là Ủy Hòa, nghĩa là thiếu khí ơn hòa sẽ làm cho vạn vật
rũ rượi, khơng phấn chấn.
Hành Hỏa bất cập được gọi là Phục Minh, nghĩa là thiếu khí ấm áp làm cho vạn vật
ảm đạm, khơng sáng.
Hành Thổ bất cập gọi là Ty Giám, nghĩa là khơng có khí hóa sinh, sẽ làm cho vạn
vật yếu ớt, khơng có sức.
Hành Kim bất cập gọi là Tòng Cách, nghĩa là khơng có khí thu liễm, làm cho vạn
vật trở nên mềm giãn, khơng có sức đàn hồi.
Hành Thủy bất cập gọi là Hạc Lưu, nghĩa là khơng có khí phong tàng dấu kín, làm
cho vạn vật bị khơ queo.

11
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
12
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
13
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành xuất hiện như một học thuyết triết học bao trùm mọi
phương diện trong vũ trụ. Âm Dương, Ngũ Hành cùng song song tồn tại để bổ
khuyết, chế hóa, cùng thúc đẩy sự sinh trưởng, biến hóa vơ cùng của vạn vật.
Trải qua nhiều thời đại, các bậc Thánh Nhân đã dày cơng nghiên cứu, sáng tạo,
cùng vận dụng thuyết Ngũ Hành vào những vấn đề rất lớn rộng, có liên quan mật
thiết đến con người như thiên văn, lịch pháp, y học, dược học, võ học, thời sinh học,
định chế xã hội, văn hóa, phong thủy, địa lý, chiêm tinh, bói tốn v.v
B. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ
HÀNH TRONG TƯ TƯỞNG CỔ ĐẠI TRUNG QUỐC
14
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Học thuyết âm dương ngũ hành khơng những được nhiều trường phái
triết học tìm hiểu lý giải, khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học khác
quan tầm vận dụng. Có thể nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào
nhiều lĩnh vực của tri thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự
nhiên, xã hội như học thuyết này.
Việc sử dụng phạm trù âm dương ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu
tiên của tư duy khoa học phương Đơng nhằm đưa con người thốt khỏi sự khống
chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống. Chính vì thế,
sự tìm hiểu học thuyết âm dương ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những

Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong thái cực, thiếu
dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm,
thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương. Cứ
như thế, âm dương biến hố liên tục, tạo thành vòng biến hóa khơng bao giờ ngừng
nghỉ. Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩm của mình là "Kinh Dịch”. Ở "Kinh
Dịch", âm dương được quan nệm là những mặt, những hiện tượng đối lập. Như
trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đơng - tây, trong xã hội: qn tử - tiểu nhân,
15
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
chồng - vợ, vua - tơi Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh
Dịch" đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập tồn tại trong các hiện tượng
đó và khẳng định vật nào cũng ơm chứa âm dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái
cực" (vạn vật, vật nào cũng có một thái cực, thái cực là ầm dương). Nhìn chung,
tồn bộ “Kinh dịch” đều lấy âm dương làm nền tảng cho học thuyết của mình.
Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống con
người được bàn nhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật giữa Hồng đế và
Kỳ Bá qua tác phẩm "Hồng đế Nội kinh". Tác phẩm này lấy âm dương để xem xét
nguồn gốc của các tật bệnh. "Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ cương của
vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sự sinh sát, phủ tạng của thần minh,
trị bệnh phải cần ở gốc, cho nên tích luỹ dương làm trời, tích lũy ầm làm đất, âm
tĩnh đương động, dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng, dương hóa khí, âm
tàng hình".
Tác phẩm này còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm dương. Theo tác
phẩm thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc
âm. Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất. Mọi sự vật, hiện tượng trong vũ
trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu. Thơng qua quy luật biến đổi âm dương
trong tự nhiên mà cố thể suy diễn, phân tích luật âm dương trong cơ thể con người.
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái qt thành quy
luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Trước hết, âm dương là hai

dương. Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu
dương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm
rồi. Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ gọi là dương vì trong
nó phần dương lấn phần âm. Âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau. Sách
Lão Tử viết: "phúc là chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa của phúc”.
Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống nhất còn có quy luật tiêu trưởng
và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động khơng ngừng, sự chuyển
hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối của
sự vật. Nếu mặt này phát triển thái q sẽ làm cho mặt khác suy kém và ngược lại.
Từ đó làm cho hai mặt âm dương của sự vật biến động khơng ngừng. Sự thắng
phục, tiêu trưởng của âm dương theo quy luật "vật cùng tắc biến, vật cực tắc
phản". Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang
nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương". Sự tác động lẫn nhau giữa
âm đương ln nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên kia hơn, bên này tiến, bên kia
lùi. Đó chính là q trình vãn động, biến hóa và phát triển của sự vật, đồng thời
cũng là q trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương.
C. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
Trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ
và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến
hóa. Thái cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương
ln ln chuyển hóa làm cho vũ trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường nói:
Thái Cực thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát
Qi. Chú ý rằng “thị sinh” ở đây khơng có nghĩa là từ cái “khơng” mà sinh ra cái
“có”, mà có nghĩa là đã có sẵn trong đó rồi, và có thể nhận thấy được khi phân hai
(sinh) mà hoạt động. Thái (lớn q, cao xa q) Cực (là chỗ tận cùng, chỗ chấm dứt,
và cũng có nghĩa là rất lắm, q nhiều, q lớn) là ngun lý tạo dựng và chi phối
Vũ Trụ. Lí Thái Cực là lý Nhất Ngun Lượng Cực có nghĩa là một nơi (Nhất
Ngun) khi nói chung (khi bất động) có hai phần Âm Dương (Lượng Cực) khi nói
riêng ra (khi hoạt động). Nói ngược lại thì sự hoạt động của Âm Dương là cái lý của
Thái Cực. Tồn thể cuộc Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lý Thái Cực, và mọi

xuất hiện hào âm dương bát qi trong Kinh dịch . Trong bát qi , hào âm (
) và hào dương ( ) xuất hiện trong sách cổ "Liên sơn" đời Hạ ;
nên trong "kinh sơn hải" có câu " Phục hi được Hà đồ do đó người Hạ gọi "Liên
sơn"; Hồng đế được hà đồ, nên ngươi thượng gọi " Qui tàng"; Liệt sơn được Hà
đồ do đó người Chu gọi là "Chu dịch".Nên học thuyết âm dương ra đời vào đời nhà
Hạ là chắc chắn.
Âm dương đối lập
Âm dương đối lập là nói vạn vật trong tự nhiên bên trong nó tồn tại hai thuộc
tính ngược nhau, tức tồn tại hai mặt âm dương .Ví dụ: bát qi là do hai loại ký
hiệu âm dương hợp thành , cũng tức do bốn loại ký hiệu đối lập tổ hợp thành bát
qi do ba hai loại ký hiệu tổ hợp tạo thành sáu mươi tư quẻ cho nên chu dịch càn
tạc độ nói rằng: " Càn khơn là căn bản của âm dương là tổ tơng của vạn vật quẻ càn
thuần dương quẻ khơn thuần âm cho nên nói âm dương là hai loại mưu thuẩn đối
lập,là mưu thuẩn căn bản của tất cả sự vật .Song tuy mâu thuẫn đối lập nhưng càn
khơn lại thống nhất với nhau .Nhờ có sự thống nhất này nên mới có sự biến hố sinh
thành vạn vật .Cho nên sự đối lập và thống nhất của âm dương là có từ đầu chí cuối
tất cả các sự vật.
Thuộc tính âm dương
Âm dương khơng những thống sối hai mặt đối lập của vạn vật mà còn có
thuộc tính khác ngược nhau . Trong bản chất và hiện tượng đều tồn tại hai mặt đối
lập hàm chứa thuộc tính âm dương , vừa khơng thể tuỳ ý áp đặt , vừa khơng thể đổi
cho nhau mà phải theo qui luật nhất định .Vậy dùng tiêu chuẩn nào để phân chia
thuộc tính âm dương của sự vật hiện tượng ? "Hệ từ" nói :" càn đạo thành nam,
khơn đạo thành nữ" .Càn là cha khơn là mẹ sinh ra chấn, cấn, khảm, tốn, ly, đồi
sáu con lại chia thành trai gái , tức trời đất sinh vạn vật, khơng có vật nào mà khơng
mang hai thuộc tính.
"Hệ từ" nói: " Thiên tơn địa bỉ " (trời sang đất hèn) "càn là vật dương, khơn là vật
âm" và quẻ dương lẻ quẻ âm chẵn. Phàm là giống nam, cao và lẻ đều thuộc phạm
trù dương, phàm là giống nữ, thấp và mềm đều thuộc phạm trù âm.
Âm dương là gốc của nhau

nên căn cứ âm biến thành dương, dương biến thành âm mà dương trong cửu sơ của
càn ở dưới, âm trong lục sơ của khơn bát đầu thay đổi. Điều đó nói lên hai quẻ càn
khơn đại diện cho sự mâu thuẫn âm dương lại thống nhất làm một. Hào sơ của hai
quẻ âm dương kết hợp, âm dương bắt đầu chuyển hố. Âm dương chuyển hố lẫn
nhau là quy luật phát triển tất yếu của sự vật. Chỉ cần sự vật phát triển thuận theo
qui luật âm dương biến hố thì cuối cùng sẽ đạt được mục đích sự vật chuyển hố
lẫn nhau.
Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận
động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây nên
mọi sự biến hóa của vũ trụ. Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm dương.
Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau. Âm dương
giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện
tượng. Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động và
phát triển khơng ngừng của mọi sự vật khách quan.
Học thuyết ngũ hành
Học thuyết ngũ hành cho rằng thế giới là do năm loại vật chất cơ bản nhất:
mộc, thổ, hoả, kim, thuỷ, Cấu tạo nên .Sự phát triển biến hố của các sự vật , hiện
tượng trong tự nhiên (bao gồm cả con người) đều là kết quả của năm loại vật chất
này khơng ngừng vận động và tác dụng lẫn nhau .Phát hiện này đã tìm ra quy luật
19
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
và ngun nhân sinh diệt của vạn vật trong vũ trụ .Cho nên học thuyết ngũ hành
cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng pháp thơ sơ. Học thuyết ngũ hành có cơng
dụng rất rộng trên mọi lĩnh vực khoa học.
Đặc tính của ngũ hành
" Mộc" có sinh sơi,dài thẳng ;"hoả" rất nóng, hướng lên ;"thổ" ni lớn hố
dục ;"kim" có tính thanh tĩnh, thu sát ;"thuỷ" hàn lạnh hướng xuống.
Học thuyết ngũ hành dùng hình tượng để so sánh, lấy sự việc hoặc hiện tượng muốn
nói chia làm năm loại, đưa sự vật hiện tượng qui về một trong năm ngũ hành và

suy mạnh khắc yếu mà có lúc cũng xuất hiện sự xung khắc ngược lại : Suy khắc
vượng , yếu khắc mạnh . Như thổ vượng thì mộc suy , mộc bị thổ khắc, mộc vượng
kim suy kim bị mộc khắc, thuỷ suy hoả vượng , thuỷ bị hảo khắc , kim vượng hoả
suy , hoả bị kim khắc. Sự khắc ngược này gọi là phản ngược.
Ngú hành trường sinh đế vượng
Mộc trường sinh ở Hợi đế vượng ở Mão tử ở Ngọ mộ ở Mùi
Hoả trường sinh ở Dần đế vượng ở Ngọ tử ở Dậu mộ ở Tuất
Kim trường sinh ở Tị đế vượng ở Dậu tử ở Tý mộ ở Sửu
20
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Thuỷ- Thổ: trường sinh ở Thân đế vượng ở Tý tử ở Mão mộ ở Thìn
Vượng tướng hưu tù của ngũ hành
Mùa xn Mộc vượng Hoả tưởng Thổ tử Kim tù Thuỷ hưu
Mùa hạ Hoả vượng Thổ tướng Kim tử Thuỷ tù Mộc hưu
Mùa thu Kim vượng Thuỷ tướng Mộc tử Hoả tù Thổ hưu
Mùa đơng Thuỷ vượng Mộc tướng Hoả tử Thổ tù Kim hưu.
D. ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
1. Ứng dụng vào một số lãnh vực đời sống
a. Ứng dụng vào việc ăn uống:
- “Trời ni người bằng Ngũ khí, Đất ni người bằng Ngũ vị”.
- Người ta phân loại thức ăn theo Ngũ hành dựa vào màu sắc, mùi vị mà suy
ra tác dụng của món ăn đối với cơ thể. Thí dụ: món ăn chua đi vào Can, ngọt đi vào
Tỳ…. Và sau đó áp dụng ngun tắc ăn uống theo qui luật của Ngũ hành: dùng thức
ăn phù hợp với tình hình sức khỏe của mình sao cho duy trì được thế qn bình (đối
với người khỏe) hoặc tái lập mối quan hệ qn bình của Ngũ hành trong cơ thể (đối
với người đau ốm). Món ăn đầy đủ Ngũ hành thường tồn tại rất lâu phong tục ẩm
thực (tơ phở, nước mắm…). Tránh tình trạng dùng thái q một món ăn nào đó vì
có thể hại sức khỏe. Thí dụ: ăn q chua hại Can, q mặn hại Thận; hoặc khi đang
có bệnh về Tỳ (Thổ) nên tránh dùng thức ăn uống chua (Mộc) để tránh làm hại

để xem xét mối quan hệ của các triệu chứng ấy theo qui luật của Ngũ hành. Thí dụ:
can có quan hệ với Đởm, chịu trách nhiệm hoạt động của gân cơ (chủ cân), tình
trạng cơng năng của Can thể hiện ra mắt (khai khiếu ra mắt), móng tay móng chân
(vinh nhuận ra móng), có liên quan đến tính khí giận dữ… Do đó, co giật, mắt đỏ,
móng khơ, nóng tính bất thường,… là triệu chứng của Can, vì Đởm, gân cơ, mắt,
móng, tính khí giận dữ… tất cả đều cùng thuộc Hành Mộc (xem lại bảng 1).
b. Ứng dụng vào việc phân tích bệnh và chẩn đốn:
- Tạng Phủ được qui vào Ngũ hành (bảng 1). Mối tương quan của Tạng Phủ
trong trường hợp bệnh lý được phân tích theo qui luật Tương thừa – Tương Vũ. Thí
dụ: bình thường Phế Kim khắc Can Mộc để duy trì sự cân bằng, khi thở q mức
(Phế Thịnh) sẽ gây tê rần và co rút chân tay (Mộc).
- Học thuyết Ngũ hành giúp truy tìm ngun nhân hay gốc phát sinh bệnh
ban đầu. Thí dụ: mất ngủ là chứng của Tâm (Hỏa) có thể do: (1) chính Tâm gây ra,
hay (2) do Tạng Sinh nó gây ra: Can (Mộc), hay (3) do Tạng nó Sinh gây ra; Tỳ
(Thổ), hay (4) do tạng nó Khắc gây ra; Phế (Kim), hay (5) do Tạng Khắc nó gây ra:
Thận (Thủy).
c. Ứng dụng vào việc điều trị bệnh:
Điều trị bệnh chủ yếu dựa vào ngun tắc: “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con”.
Thí dụ: Phế yếu (Phế Hư) phải làm mạnh Tỳ Vị lên (Kiện Tỳ) gọi là ngun tắc Bồi
Thổ sinh Kim.
Ngun tắc này được ứng dụng nhiều nhất trong lãnh vực Châm cứu.
d. Ứng dụng vào việc phân loại, bào chế và sử dụng thuốc:
Người xưa dựa vào màu sắc và mùi vị của thuốc mà phân loại thuốc theo
Ngũ hành và từ đó suy ra tác dụng của thuốc đi vào Tạng Phủ tương ứng. Thí dụ:
thuốc vị chua, màu xanh đi vào Can, vị ngọt, màu vàng đi vào Tỳ. Người xưa cũng
dựa vào Ngũ hành để tìm thuốc mới và bào chế thích hợp để biến đổi tính năng của
thuốc. Thí dụ: sao thuốc với giấm để thuốc đi vào Can; sao với đường, mật để vào
Tỳ; tẩm muối để đi vào Thận; sao với gừng để vào Phế, sao cho vàng để vào Tỳ, chế
cho đen để vào Thận…
3. Lịch vạn niên

Nhân-Cách Võ Đạo.
Là một phương pháp giáo dục hồn chỉnh cả về tinh thần lẫn thể chất,
tốt nhất cho con người về cả hai mặt trí và dũng, là hành trang cần và đủ cho
thanh thiếu niên thời đại trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, Võ
Thuật mãi mãi và xứng đáng là một kho tàng văn hóa vĩ đại của Tiền Nhân
và Vịnh Xn Quyền là một di sản q giá của dân tộc và nhân loại cần được
bảo tồn, bảo tàng
Nước Việt nam ta trải qua 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã
trãi qua rất nhiều cuộc chiến bão vệ tổ quốc . Qua đó cha ơng ta đã xây dựng
một nền võ học tinh túy thể hiện tinh thần thượng võ long u nước và phản
ảnh thâm thúy tư tưởng của mình. Khơng ít triết lý của các hệ phái võ học đó
mang hơi thở thuyết âm dương ngũ hành.
Vịnh xn quyền là một ví dụ điển hình . Việt Nam Vịnh Xn Chính
Thống Phái với hệ thống đào tạo cổ truyền hồn chỉnh cả 3 tầng Võ Thuật - Võ
Học - Võ Đạo, tn thủ nghiêm ngặt giáo trình Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi trên
nền tảng Tinh - Khí - Thần hợp nhất nhằm đào tạo một thế hệ trẻ đầy trí tuệ và
trong sáng, trong một thân thể khỏe mạnh, càng ngày càng được thế giới quan tâm
và ủng hộ.
Trong buổi phát hình nhân ngày đầu xn Ất Dậu trên đài truyền hình
VTC, để trả lời câu hỏi về tính chất ưu việt của mơn võ Vịnh Xn luật sư Nam
Anh đã trả lời: “Cho đến giờ phút này thì người Việt Nam có thể tự hào Việt Nam
Vịnh Xn là một trong những mơn võ hiếm hoi còn lưu giữ được tất cả những
quyền thuật, bí quyết luyện tập cũng như tập tục nghi thức cổ truyền của bản
mơn.”
Thực vậy, là một quyền thuật ra đời giữa thế kỷ 18 với mục đích “tranh bá đồ
vương”, trong bối cảnh chinh chiến mà võ thuật là nhân tố quyết chiến quyết
thắng, để có một chỗ đứng trong giới võ lâm và để tồn tại đến ngày nay hẳn nhiên
23
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________

đạo sinh thành.
Thuyết Phong thủy cho rằng muốn đưa sinh khí trở về với hài cốt, muốn sinh
hóa được bảo lưu, được tích tụ và duy trì dài lâu, thì phải biết chọn đất mai táng
(chọn âm trạch) ở nơi có nhiều sinh khí.
Dưới đây là mấy phương pháp chủ yếu:
Phương pháp “Mịch Long”: Tức là tìm “Long mạch”. Thuyết Phong Thủy
cho rằng sinh khí vận hành trong lòng đất, nhưng dựa theo hình thể, phương hướng
của các dãy núi để vận hành. Cần xem xét chúng vận hành từ đâu và dừng ở đâu?
Nơi dừng lại có địa thế bằng phẳng rộng rãi, có dòng nước chảy kề gần và uốn
quanh, ắt hẳn là nơi tích tụ nhiều sinh khí, là đất có Long mạch. Núi bắt nguồn từ
xa chạy đến gọi là thế, nơi núi dừng lại gần nơi đất gọi là hình. Thế đát là bao qt,
hình thù thì cụ thể. Thế càng cao xa thì càng có chỗ dựa vững chắc và đất đó sẽ
mang lại nhiều phúc lộc. Muốn tìm chỗ Q địa thì cần phải tiến hành “Sát Sa”;
Nghĩa là xem xét những núi nhỏ ở xung quanh huyệt mộ (tức âm trạch). Ngơi đất
chọn làm âm trạch gọi là có nhiều sinh khí nếu phía sau nó dựa lưng vào ngọn núi
cao gọi là Chủ Phong, bên tả có núi là Thanh Long, bên hữu có núi gọi là Bạch Hổ,
24
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
hai núi này đứng hộ vệ chầu về núi chính tạo thành vòng tay ngai cha chắn những
luồng “Ác Phong” (gió độc) bảo vệ sinh khí khơng bị gió xua tán. Phía trước mặt mộ
huyệt cũng được một ngọn núi nhỏ án ngữ, được gọi là “Án Sơn” như khoanh tay
vái chào đón rước, trước huyệt cũng gọi là “Chu Tước”. Ngồi cùng có núi Triều
Sơn (núi chầu) quay về núi chính. Ngọn núi đứng chắn phía sau gọi là Huyền Vũ: -
có đủ hình thế “Tứ sa” hay “Tứ linh” (bốn con thú theo thần thoại) nói trên. Đó là
đất có điều kiện “Tàng Phong” hay “Tị Phong” và tích tụ sinh khí.
Phương pháp “Quan Thủy”: Phương pháp này cũng được coi là một phương
pháp đặc biệt quan trọng, vì theo thuyết Phong Thủy thì “Đắc Thủy” mới là yếu tồ
hàng đầu. Thuyết Phong Thủy cho rằng khí là Cha, Mẹ của nước, là bản thể của
nước. Nơi nào có sinh khí tất nhiên có nước. Nước là cái khí hữu hình, trong khi khí

Thanh Qua cầu vờn nhành liễu". Thơn xóm nằm gọn trong vòng ơm của hàng liễu,
có dòng nước uốn lượn, phía Bắc xa xa có núi xanh như bình phong chắn ngữ. Động
và tĩnh hài hòa làm cho con người sinh sống ở trong mơi trường thật là dễ chịu.
Phong thủy có cả một kho lí thuyết dài dòng để chỉ dẫn cách tìm đất làm nhà.
Nhà làm trên vùng núi thì xem thế núi, luận long mạch để xác định đúng vị thế nhà.
25
Học thuyết m dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong đời sống
____________________________________________________________________________________
Vùng gò đồi ở nơi rộng thống thì bốn phía phải như quy chầu. Khơng được q
trống trải, khơng có vực hoặc thế đất trụt, trượt. Vùng đồng bằng phải có long
mạch, có đường quanh bên phải, có ngòi nước bên trái, trước nhà có sân và vườn
rộng, xa nữa là hồ, là ao. Sau nhà đất tạo thế như mây đùn, khói tỏa.
Một cách khái qt thì luận về nhà cửa cũng cần dựa vào lí thuyết cơ bản
của phong thủy là Khí và lí khí (Tạp chí Xây dựng số 4/1999). Thuyết khí về nhà ở
chủ yếu là thuyết nạp khí và thuyết sắc khí. Nạp khí gồm địa khí và mơn khí. Địa
khí là khí trong đất tại nơi làm nhà. Mơn khí là khí từ cổng đưa vào, từ cửa vào nhà.
Sắc khí là màu sắc cảm nhận được qua ngơi nhà. Cần nói rõ cho khách quan là
chúng ta chưa phân tích đúng sai mà chỉ mới đưa ra những luận điểm cơ bản của
phong thủy sử dụng khi làm nhà.
Để luận ra địa khí trong thơn ấp hay phố xá là điều mơ hồ. Khi làm nhà
khơng thể bỏ qua phương vị. Địa khí luận được từ phương vị dẫn khí. Chẳng hạn
như Mộc tinh, Kim tinh, Thổ tinh, làm nhà ở đây thì con cháu làm nên, ăn ra. Hỏa
tinh là long thần cần bác hốn (di dịch, hốn cải), nếu khơng, ở chẳng ra gì. Thủy
tinh cần tụ hội thì của cải đến nhà. Minh đường (trước nhà) cần rộng và bằng
phẳng.
Từ phương vị (vị trí theo hướng), từ luận về thanh long (mạch nước), bạch
hổ (đường cái cạnh nhà), minh đường, chu tước (đất đai, hồ nước trước nhà), huyền
vũ (đất sau nhà), phong thủy có những điều lưu ý quan trọng như: Lối ra vào của
sườn núi hoặc thung lũng, tránh làm nhà. Điều này dễ hiểu vì những lối này thường
bị hạn chế về kích thước chiều rộng. Gió thổi qua những lối này có vận tốc lớn hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status