Bước đầu tìm hiểu chính quyền ở Thái Nguyên thời kì Pháp thuộc
(1884- 1945)
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử dân tộc mỗi quốc gia, thì
yêu cầu cần có một chính quyền vững mạnh ổn định để duy trì trật tự xã hội,
phát triển kinh tế văn hoá đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Chính quyền có
vững mạnh, thống nhất mới tạo điều kiện cho việc phát triển mọi mặt của đất
nước. Và ngược lại, nếu nền kinh tế, chính trị, văn hoá mà phát triển tốt nó sẽ
tác động trở lại, củng cố thêm hệ thống chính quyền nhà nước trung ương.
Tháng 8-1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm
lược Việt Nam. Sau sự đầu hàng từng bước của triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt
sau khi kí hiệp ước Harmand, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc thiết lập nên
một hệ thống chính quyền khá chặt chẽ từ trung ương tới địa phương. Chúng
chia nước ta thành ba xứ: Nam kì thuộc địa, Trung kì bảo hộ và Bắc kì nửa bảo
hộ. Mỗi xứ có hình thức tổ chức chính quyền riêng, với những mức độ không
giống nhau để phục vụ cho công cuộc bình định và khai thác thuộc địa của
chúng.
Thái Nguyên với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh được hình
thành từ cải cách Minh Mệnh 1831
1
. Giống như nhiều địa phương khác Pháp đã
thiết lập ở Thái Nguyên nói riêng một bộ máy chính quyền thực dân bên cạnh
việc tiếp tục duy trì bộ máy quan lại địa phương làm công cụ, tay sai cho chúng.
Tuy nhiên, Thái Nguyên với đặc điểm là một tỉnh miền núi, có nhiều dân tộc cư
trú, lại là tỉnh vùng đệm giữa trung du và thượng du, có nguồn tài nguyên phong
phú, đã trở thành một địa bàn quan trọng về các mặt, đặc biệt là về mặt quân sự,
là một vị trí chiến lược mà thực dân Pháp cần nắm giữ. Qua nghiên cứu, chúng
tôi nhận thấy rằng tổ chức chính quyền ở Thái Nguyên thời Pháp thuộc đó cũng
có những nét riêng khác so với một số những địa phương trên những khía cạnh
nhất định. Đồng thời nó cũng thực hiện những chức năng không nhỏ trong việc
duy trì và ổn định trật tự xã hội với tư cách là một hệ thống chính quyền.
Phần III: Một vài nhận xét về tổ chức chính quyền Thái Nguyên thời Pháp
thuộc.
Trong quá trình thực hiện niên luận này, chúng tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của thầy cô giáo, bạn bè, người đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong
Tài liệu được tải từ website
2
quá trình học tập. Nhân đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới sự
giúp đỡ quý báu đó. Báo cáo cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của một số tổ
chức, cơ quan địa phương, ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Thái Nguyên, Sở
Văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên, Bảo tàng và thư viện tỉnh Thái Nguyên. Là
sinh viên tập sự nghiên cứu, chúng tôi còn hạn chế về mặt nhận thức và phương
pháp, hơn nữa đây lại là vấn đề lớn đòi hỏi sự dày công nghiên cứu và hệ thống
hoá tư liệu từ nhiều phía. Do vậy báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót,
chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ dẫn của thầy cô và bạn bè để
niên luận được hoàn thiện và chúng tôi cũng có thêm những kinh nghiệm trong
nghiên cứu và học tập.
Tài liệu được tải từ website
3
PHẦN I: CHÍNH QUYỀN THÁI NGUYÊN TRƯỚC 1884
1. Đôi nét về quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Thái Nguyên
đến trước 1884
Thái Nguyên được nhắc đến trong sử sách là mảnh đất có vị trí quan trọng
về mặt địa lý: Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã nhận xét “Đấy là nơi phên dậu
thứ 2 về phương bắc vậy”
2
. Năm 981, khi nhà Tống xâm lược nước ta. Vua Lê
Đại Hành đã tổ chức các đạo quân đánh tan quan xâm lược do Hầu Nhân Bảo
cầm đầu, trực tiếp cầm quân truy quét, tiêu diệt tàn quân Tống, bắt sống tướng
giặc Quách Quân Biện trên đất Vạn Nhai (Võ Nhai ngày nay). Kể từ khi nhà Lý
định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên trở thành bức tường thành trực tiếp che chở
Vì vậy, Thái Nguyên là một tỉnh có quá khứ lịch sử phong phú về sự kiện
và biên niên, không những về chiến tranh với kẻ địch bên ngoài mà về những
biến cố lịch sử trong nước.
Trong quá trình xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng đã nhận thấy vị trí
chiến lược của Thái Nguyên, chiếm được Thái Nguyên là có thể khống chế được
các tỉnh Bắc Kì. Do vậy, sau khi giành thắng lợi về mặt quân sự, Pháp đã thiết
lập ở đây một bộ máy cai trị từ trên xuống dưới, đặc biệt là số lượng đồn bốt mà
Pháp đặt ở Thái Nguyên đã chứng tỏ tầm quan trọng về vị trí của tỉnh này.
Thái Nguyên cũng có thể coi là một vùng giàu có tài nguyên. Qua các thời
đại trước, tỉnh này vẫn được người Trung Hoa cũng như người Việt coi đây là
nơi giàu khoáng sản các loại. Những người Trung Hoa trước đây đã khai thác
nhiều mỏ ở nơi này. Bước vào những năm đầu thế kỉ XX khi thực dân Pháp tiến
hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, nơi đây đã trở thành trung tâm thăm
dò, khai thác của Pháp, đặc biệt là các mỏ than, sắt để cung cấp cho nền công
nghiệp của chính quốc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp. Cánh đồng lớn nằm ở phía nam tỉnh thuộc hai phủ Phú Bình và Phổ
Yên, chủ yếu là ruộng bậc thang bị cắt xẻ ngắt quãng nằm trong từng vùng của
huyện miền núi cho nên mang lại sản lượng không đáng kể.
Về thành phần dân tộc thì đây là tỉnh gồm nhiều dân tộc khác nhau. Ở
đồng bằng có người Kinh và người Nùng, người Thổ ở những vùng cao trung
bình, người Mán chiếm các vùng cao. Trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc khởi
nghĩa của các dân tộc thiểu số chống lại triều đình. Chính từ yếu tố đa tộc ngưòi
này, Pháp cũng đã có những chính sách cai trị riêng, thể hiện sự khôn ngoan của
mình trong việc bình định các tỉnh miền núi, nhất là ở những nơi vùng sâu vùng
xa, những địa bàn trọng yếu mà Pháp không thể không quan tâm.
Về cơ sở vật chất của tỉnh thời kì này phải kể đến hệ thống giao thông
Tài liệu được tải từ website
5
đường thuỷ với hai hệ thống sông- sông Cầu và sông Công. Hệ thống đường bộ
thuộc quyền, phải giải chức đợi xét. Hoặc như trường hợp Tham trấn Thái
Nguyên là Tô Danh Hoảng, trước ở Thái Nguyên, xét hình tra tấn chết người
4
Nguyễn Minh Tường, Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh, sđd tr 31
5
Đại Nam hội điển sự lệ Chính biên, tập III, NXB Thuận Hoá 2004, sđd tr 38
Tài liệu được tải từ website
6
đến khi vụ việc bị phát giác, Minh Mệnh giao cho Bắc Thành tra nghị, đều phải
cách chức
6
.
Địa bàn Thái Nguyên được chính thức gọi là tỉnh Thái Nguyên kể từ năm
1831 dưới triều vua Minh Mạng. Từ tháng 10.1831, trên toàn quốc, trừ Thừa
Thiên phủ ra, cả nước có 30 tỉnh. Bỏ các chức Tổng trấn, Trấn thủ, Tham trấn,
thay bằng các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh. Thái
Nguyên nằm trong liên tỉnh Ninh- Thái (Bắc Ninh- Thái Nguyên), Tổng đốc
Ninh- Thái là Thống chế Nguyễn Đình Phổ đặt tại Từ Sơn- Bắc Ninh. Thự lí
Tuần phủ Thái Nguyên là Hiệp trấn Trần Thiên Tải, Án sát là Tham hiệp
Nguyễn Dư và Lãnh binh Thái Nguyên là Vệ uý Nguyễn Văn Các
7
.
Chức nhiệm cuả quan đầu tỉnh Thái Nguyên được quy định cụ thể:
Bố chính sứ giữ việc thuế khoá, tài chính toàn hạt. Triều đình có ân trạch,
chính lệnh gì ban xuống thì truyền đạt lại cho các người phần việc.
Án sát giữ việc kiện tụng hình án trong toàn hạt, chấn hưng phong hoá, kỉ
cương, trừng thanh các quan lại, kiêm coi công việc chạy trạm trong hạt, khi có
những việc trọng đại, hai ty (Bố chánh và Án sát) hội đồng bàn bạc rồi trình với
Tổng đốc hoặc Tuần phủ mà làm
8
Giáo thụ ở phủ Thông Hoá để cho học trò theo học ở đó.
PHẦN II: CHÍNH QUYỀN THÁI NGUYÊN THỜI PHÁP THUỘC (1984 –
1945)
Tháng 8-1858 liên quân Pháp- Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng,
mở đầu cho cuộc xâm lược Việt Nam. Ngày 25-8-1883 Triều đình Huế và cao
Tài liệu được tải từ website
8
uỷ Pháp kí hiệp ước Hardmand chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp.
Đạt được thắng lợi quan trọng này, Pháp bắt tay vào việc bình định các tỉnh Bắc
Kì, trong đó ưu tiên hàng đầu là xây dựng hệ thống chính quyền thực dân trên cả
3 vùng, bao gồm cả Thái Nguyên.
2.1. Sự thay đổi về cương vực hành chính của Thái Nguyên dưới thời
Pháp thuộc
Từ năm 1835 tỉnh Thái Nguyên gồm 3 phủ, 2 châu 9 huyện, được phân bố
như sau:
+ Phủ Phú Bình có 5 huyện: Tư Nông, Phổ Yên, Đồng Hỉ, Vũ Nhai, Bình
Xuyên
+ Phủ Tòng Hoá có 3 huyện và 1 châu: huyện Đại Từ, Văn Lãng, Phú
Lương và châu Định (sau đổi là Định Hoá)
+ Phủ Thông Hoá có 1 huyện và 1 châu: huyện Cảm Hoá và châu Bạch
Thông.
Ở Thái Nguyên, thời kì Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã có những
điều chỉnh về mặt hành chính cùng với một số những tỉnh khác ở Bắc Kì để
phục vụ cho chính sách vừa bình định, vừa thống trị và khai thác của chúng.
20-10-1890, huyện Bình Xuyên thuộc phủ Phú Bình bị tách khỏi Thái
Nguyên để nhập vào đạo Vĩnh Yên
9-9-1981 toàn bộ phủ Tòng Hoá và 4 huyện còn lại của phủ Phú Bình tách
khỏi tỉnh Thái Nguyên để sát nhập vào Tiểu khu Thái Nguyên là một trong 3
tiểu quân khu thuộc Đạo Quan binh I Phả Lại.
Cùng ngày, châu Bạch Thông (thuộc phủ Thông Hoá) bị tách khỏi tỉnh
quyền thực dân còn đặt thêm 3 trung tâm hành chính là Chợ Chu, Phương Độ và
Hùng Sơn để dễ bề thống trị
10
.
Cho tới đầu năm 20 của thế kỉ trước, tỉnh Thái Nguyên được chia thành 2
phủ, 3 huyện, 3 châu, với 51 tổng, gồm 227 làng như sau:
Phủ, Huyện, Châu Số tổng Số làng bản
1. phủ Phú Bình 7 44
2. phủ Phổ Yên 8 36
3. huyện Đồng Hỷ 6 34
4. huyện Đại Từ 5 23
5. huyện Phú Lương 7 21
10
Sở văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên, Khởi nghĩa Thái Nguyên 80 năm nhìn lại, sđd tr 37
Tài liệu được tải từ website
10
6. châu Vũ Nhai 6 29
7. châu Văn Lãng 4 13
8. châu Định Hoá 8 27
Trong những năm 20, châu Văn Lãng bị sát nhập vào huyện Đại Từ
11
. Cho
tới trước cách mạng tháng Tám, Thái Nguyên gồm 2 phủ, 3 huyện và 2 châu
12
Phủ, Huyện, Châu Số tổng Số làng bản
1. phủ Phú Bình 8 48
2. phủ Phổ Yên 7 38
3. huyện Đồng Hỷ 6 34
4. huyện Đại Từ 9 38
5. huyện Phú Lương 7 21
mặt, thông qua hệ thống quan lại người Việt.
Ở Thái Nguyên, viên Công sứ Pháp nắm quyền giám sát và kiểm soát tối
cao về nhân sự “bộ phận quyết nghị cấp xã”. Việc này được thể hiện qua những
quy định: Hạn chế số thành viên của bộ phận quyết nghị cấp xã; nắm quyền lựa
chọn cuối cùng những thành viên của chính quyền cấp xã; theo dõi mọi biến
chuyển về nhân sự; ràng buộc bằng hình thức khen thưởng, khống chế bằng hình
thức kỉ luật hành chính từ khiển trách bãi miễn, cách chức cá nhân đến giải tán
tập thể. Ông ta cũng có quyền kiểm soát, điều khiển và thi hành luật pháp. Ở
Thái Nguyên viên Công sứ có phó sứ kiêm phó án giúp việc là chánh án toà án
đệ nhị cấp, có quyền hạn giải quyết mọi việc trong phạm vi tỉnh từ việc dân sự
đến việc hình sự. Viên Công sứ cũng là giám đốc nhà tù, ông ta có một chánh và
một phó Đề lao giúp việc.
Để phục vụ cho hệ thống này về nhiều mặt, Pháp đã từng bước xây dựng
các tổ chức phụ tá phục vụ đắc lực trong việc bình ổn trật tự xã hội và đẩy mạnh
quá trình khai thác bóc lột.
* Toà công sứ:
Giúp việc cho Công sứ Pháp có Toà Công sứ. Toà công sứ Thái Nguyên là
lỵ sở của cơ quan cai trị cao nhất của tỉnh do một viên công sứ đứng đầu. Toà
công sứ thường xuyên có các toán lính khố xanh bảo vệ bên ngoài. Bảo vệ bên
trong là một số lính Pháp và giúp việc là các nhân viên toà Công sứ.
* Hội đồng hàng tỉnh:
Được thành lập chính thức theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương
ngày 19.3.1913
14
. Hội đồng hàng tỉnh ở Thái Nguyên có trách nhiệm góp ý kiến
với chính quyền các vấn đề như: chi phí các vấn đề có tính chất kinh tế, xã hội
về việc phân chia các khu vực hành chính của cấp phủ, huyện, châu, xã…song
mọi “thỉnh nguyện” có tính chất chính trị đều tuyệt đối cấm.
* Hệ thống toà án:
14
hình chữ nhật có 4 dãy nhà bên trong, có sân chính giữa và có tường cao 3m bao
xung quanh, song song với một con đường tuần tra một khoảng rộng từ 3- 4 m
16
.
Viên Công sứ là giám đốc nhà tù, ông ta có một Chánh và một phó đề lao người
Pháp giúp việc cùng với 6 nhân viên cai ngục người bản xứ trong đó có 1 là y tá.
Ở chợ Chu có một nhà tù hàng tỉnh (1916) nhốt từ 80 đến 100 tù, đặt dưới
15
A. Echinard, Tiểu chí Thái Nguyên, sđd, tr 14
16
A. Echinard, Tiểu chí Thái Nguyên, sđd tr 37
Tài liệu được tải từ website
13
quyền kiểm soát của viên xếp bốt và viên Đại lý cai trị
17
. Các nhà tù này đã trở
thành nơi giam giữ nhiều chiến sĩ yêu nước đã tham gia cuộc khởi nghĩa Binh
lính Thái Nguyên (1917) và khởi nghĩa Yên Bái (1930). Hệ thống nhà tù, một
công cụ thực dân Pháp để đàn áp, tra tấn những người nổi dậy, nhưng những
người tù binh cũng luôn chứa đựng tinh thần phản kháng. Ngày 27- 28/8/1922,
tại nhà tù chợ Chu nổ ra cuộc nổi dậy của những người tù, họ phá nhà lao, chiếm
bưu điện và cướp vũ khí giặc, gây cho giặc nhiều tổn thất.
* Hệ thống lô cốt:
Cùng với hệ thống nhà tù, ngay ở thời điểm đầu thế kỉ XX, giới cầm
quyền thực dân đã cho xây dựng nhiều lô cốt, mà chủ yếu là ở địa bàn Chợ Chu
và Chợ Mới. Tư liệu cho biết
18
, ở địa bàn Chợ Chu và Đại Từ đã có 5 lô cốt đặt
tại các điểm: Chợ Chu, Hùng Sơn, Cù Vân, Hà Lam, Quảng Nạp. Ở Chợ Mới có
4 lô cốt đặt tại: Chợ Mới, Đồn Du, Giang Tiên, Ban Mua. Các lô cốt này nằm
nắm chức phó Lãnh binh. Năm 1898, Quân lính khố xanh của tỉnh Thái Nguyên
là 800, có 17 giám binh hay lãnh binh phụ trách chỉ huy lực lượng khố xanh
19
.
Sang đến những năm 1903-1904, quân số lính khố xanh rút xuống còn 530
người, và chỉ có 12 giám binh và lãnh binh cho tất cả các đồn bốt và trại trung
tâm.
Tại những trung tâm hành chính như Phương Độ, Chợ Chu, Hùng Sơn, do
vị trí quan trọng của các trung tâm này Pháp đã đặt ở đây những quan chức có
quyền đại diện cho Công sứ, đó là những vị Đại lý có quyền thay mặt cho Công
sứ điều hành mọi công việc. Ở Phương Độ, ông Gernard nắm quyền kiểm soát
chính trị ở huyện Tư Nông, sau thành phủ Phú Bình; Ở Chợ Chu, ông Metaireau
nắm quyền kiểm soát chính trị châu Định Hoá, lãnh địa của Lương Tam Kì và
một số tổng thuộc huyện Phú Lương, tổng Chợ Mới, ít lâu sau chuyển sang Bắc
Kạn; Ở Hùng Sơn, ông Leger nắm quyền kiểm soát chính trị các huyện Đại Từ
và Văn Lãng, sau thành huyện Đại Từ. Những trung tâm hành chính này có thể
coi là những đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và huyện (có một viên
quan mang hàm Tri phủ, có Giáo thụ, Thông ngôn, Lại mục). Pháp chia ra
những trung tâm hành chính để dễ bề cai trị, đồng thời Pháp cũng muốn tăng
cường sự có mặt của mình tại những cấp độ hành chính dưới tỉnh ở những địa
bàn quan trọng về mặt chiến lược, từ đây có thể dễ dàng cai quản hay mở rộng
quyền kiểm soát trực tiếp ở Thái Nguyên cũng như các vùng xung quanh.
b. Hệ thống quan lại người Việt
19
Xem phụ lục số 2
Tài liệu được tải từ website
15