TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ THỊ ANH THƢ
PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN CỦA
NGƢỜI DÂN VỀ PHÂN LOẠI RÁC THẢI
SINH HOẠT TẠI NGUỒN TẠI THÀNH PHỐ
CẦN THƠ VÀ THÀNH PHỐ VỊ THANH,
TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Kinh tế tài nguyên môi trƣờng
Mã số ngành: 52850102
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPĐẠI HỌC
NGÀNH: KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG
Mã số ngành: 52850102 CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
NGÔ THỊ THANH TRÚC 12-2013
iii
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô Khoa Kinh Tế - Quản Trị
Kinh Doanh trƣờng Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu
trong suốt thời gian em học tập tại trƣờng. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn
Cô NGÔ THỊ THANH TRÚC đã nhiệt tình chỉ dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành đề tài tốt nghiệp của mình. Đồng thời em cũng xin cảm ơn Phòng Tài
nguyên Môi trƣờng thành phố Cần Thơ và các anh, chị trong Phòng tài nguyên
v
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP .
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
. Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Thủ trƣởng đơn vị
(Ki tên và đóng dấu)
(kí và ghi rõ họ tên)
vii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giáo viên phản biện
(kí và ghi rõ họ tên)
viii
MỤC LỤC
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VỀ
QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH
PHỐ CẦN THƠ VÀ THÀNH PHỐ VỊ THANH 24
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24
3.1.1 Thành phố Cần Thơ 24
3.1.2 Quận Ninh Kiều 26
3.1.3 Thành phố Vị Thanh 27
3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở
PHƢỜNG XUÂN KHÁNH 28
3.2.1Thành phần và khối lƣợng rác thải sinh hoạt 28
3.2.2 Hiện trạng quản lý rác tại quận Ninh Kiều, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh29
CHƢƠNG 4
PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN CỦA NGƢỜI DÂN VỀ PHÂN LOẠI
RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI NGUỒN Ở PHƢỜNG XUÂN KHÁNH,
PHƢỜNG BÙI HỮU NGHĨA THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ THÀNH PHỐ
VỊ THANH 31
4.1 MÔ TẢ ĐỐI TƢỢNG PHỎNG VẤN TẠI PHƢỜNG XUÂN
KHÁNH, PHƢỜNG BÙI HỮU THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ
THÀNH PHỐ VỊ THANH 31
4.1.1 Độ tuổi của đáp viên tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghía,
thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 31
4.1.2 Giới tính của đáp viên tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghía,
thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 32
4.1.3 Nghề nghiệp của đáp viên tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu
Nghía, thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 32
4.1.4 Số thành viên trong hộ gia đình tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi
Hữu Nghía, thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 33
4.1.5 Trình độ học vấn của đáp viên tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi
Hữu Nghía, thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 34
4.1.6 Thu nhập của đáp hộ gia đình tại phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu
4.4.1 Tỷ lệ hộ gia đình tham gia dự án phân loại rác tại nguồn với chi phí
không đổi 47
4.4.2 Nguyên nhân việc chấp nhận tham gia dự án phân loại rác tại nguồn của
hộ gia đình tại Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 48
4.4.3 Nguyên nhân việc không chấp nhận thực hiện dự án phân loại rác tại
nguồn của hộ gia đình tại Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 49
4.4.4 Mức độ chấp nhận của ngƣời dân về phân loại rác thải sinh hoạt tại
xi
nguồn của hộ gia đình tại Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 49
4.5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA NGƢỜI DÂN VỀ
PHÂN LOẠI RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI NGUỒN TRÊN ĐỊA
BÀN TP.CẦN THƠ VÀ TP.VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 51
4.5.1 Giải pháp nhằm tổ chức phân loại rác tại nguồn có hiệu quả tại thành
phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 51
4.5.2 Cách các thu hút ngƣời dân tham gia phân loại rác tại nguồn ở thành phố
Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 52
CHƢƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.2 KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 66
xii
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Nguồn gốc các loại chất thải rắn sinh hoạt 5
Bảng 2.2 Lƣợng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam 8
Bảng 2.3 Lƣợng CTRSH phát sinh ở các vùng 9
Bảng 4.16 Việc thu gom bán phế liệu của hộ gia đình ở phƣờng Xuân Khánh,
phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang 39
Bảng 4.17 Mức độ hiểu biết về tác hại và hành vi bỏ rác điện tử của hộ gia
đình ở phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị
Thanh, tỉnh Hậu Giang 40
Bảng 4.18 Tỉ lệ dùng dụng cụ chứa rác của hộ gia đình tại phƣờng Xuân
Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
41
Bảng 4.19 Nhận biết của đáp viên về tác hại của việc xử lý rác tại Tp.Cần Thơ
và Tp.Vị Thanh 42
Bảng 4.20 Mức độ hiểu biết của ngƣời dân về phân loại rác tại nguồn tại
phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh,
tỉnh Hậu Giang 43
Bảng 4.21 Mục đích của việc phân loại rác tại nguồn 44
Bảng 4.22 Các nguồn thông tin ngƣời dân biết về phân loại rác tại nguồn tại
phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh,
tỉnh Hậu Giang 45
Bảng 4.23 Mối quan hệ giữa nhận biết và thực trạng phân loại rác tại hộ gia
đình ở phƣờng Xuân Khánh, phƣờng Bùi Hữu Nghĩa, Tp.Cần Thơ và Tp.Vị
Thanh, tỉnh Hậu Giang 46
Bảng 4.24 Tỷ lệ hộ gia đình tham gia dự án phân loại rác khi phí thu gom
không đổi 47
Bảng 4.25 Nguyên nhân chấp nhận tham gia dự án phân loại rác tại nguồn của
hộ gia đình tại Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 48
Bảng 4.26 Nguyên nhân không chấp nhận tham gia dự án phân loại rác tại
nguồn của hộ gia đình tại Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 49
Bảng 4.27 Tỷ lệ chấp nhận mức giá phân loại rác thải tại nguồn trên địa bàn
Tp.Cần Thơ và Tp.Vị Thanh 50
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, ô nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề
toàn cầu đối với xã hội, nhất là trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
đang diễn ra nhanh chóng nhƣ hiện nay. Ô nhiễm môi trƣờng đã và đang gây
ra những tác động không chỉ ở phạm vi quốc gia mà cả thế giới. Việt Nam
cũng không nằm ngoài những ảnh hƣởng đó. Ngày nay với sự phát triển ngày
càng hiện đại của khoa học kĩ thuật, nền kinh tế nƣớc ta đang tăng trƣởng một
cách mạnh mẽ và nhanh chóng. Nhƣng bên cạnh sự phát triển đó cũng đồng
thời tạo nên những thách thức không lƣờng trƣớc đƣợc về mặt môi trƣờng, gây
ra các tác động nghiêm trọng đối với sức khỏe và môi trƣờng, đặc biệt là ở các
vùng công nghiệp và đô thị mới.
Theo nghiên cứu, mỗi năm có khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải phát sinh
trong cả nƣớc và theo dự báo thì tổng lƣợng chất thải rắn phát sinh trong nƣớc
vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Các vùng đô thị, với dân số chiếm khoảng
24% dân số cả nƣớc, phát sinh mỗi năm hơn 60 triệu tấn chất thải (hay xấp xỉ
50% tổng lƣợng chất thải sinh hoạt của cả nƣớc). Bên cạnh đó, ở đô thị trong
cả nƣớc số chất thải rắn mỗi năm là 9.939.103 tấn rác thải rắn, trong đó có tới
76,31% là chất thải rắn sinh hoạt từ các khu dân cƣ. Điều này cho thấy, ngoài
tình trạng ô nhiễm môi trƣờng do rác thải từ các khu công nghiệp, nhà máy,
khu chế xuất thì một vấn đề đáng báo động hiện nay là tình trạng ô nhiễm do
rác thải sinh hoạt chƣa đƣợc phân loại và xử lý theo đúng quy định. Đây là
một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trƣờng
ở các khu dân cƣ, khu đô thị.
Thành phố Cần Thơ và Tp.Vị Thanh là hai thành phố trẻ, có nền kinh tế
phát triển mạnh, là khu vực quan trọng về chính trị, văn hóa, xã hội,… nhƣng
cùng với quá trình tăng trƣởng kinh tế đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tỉ lệ
dân cƣ gia tăng làm tăng lƣợng rác thải sinh hoạt. Năm 2008, thành phố Cần
Thơ thải ra khoảng 650 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, nhƣng tỷ lệ thu
gom đạt thấp, lƣợng rác còn lại đƣợc ngƣời dân thải vào các ao, sông, rạch,…
gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến ô nhiễm môi trƣờng. Nhƣng việc thu gom,
phân loại rác thải chƣa đƣợc tiến hành triệt để, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng
Bùi Hữu Nghĩa, thành phố Cần Thơ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
3
CHƢƠNG 2
PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƢƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về rác thải và chất thải rắn thông thường
- Khái niệm về rác thải: Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trƣờng
2005 cho rằng: “Rác thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Nhƣ vậy, rác thải
là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ,
y tế,… mà mọi ngƣời không dùng nữa và thải bỏ đi. Rác thƣờng đƣợc chia
thành ba nhóm sau:
1. Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: Gồm các loại phế thải thuỷ tinh,
sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây
dựng,
2. Rác ƣớt hay thƣờng gọi là rác hữu cơ: Gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng,
rau quả hƣ hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.
3. Chất thải nguy hại: Là những thứ phế thải rất độc hại cho môi
trƣờng và con ngƣời nhƣ pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn,
rác thải y tế, rác thải điện tử, …
- Khái niệm chất thải rắn thông thƣờng: Thuật ngữ chất thải rắn thông
thƣờng đƣợc sử dụng nhiều trên thực tế và tại một số văn bản quy phạm pháp
luật. Chƣơng VII, mục 3 Luật BVMT 2005 và Nghị định số 59/2007/NĐ-CP
ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn có nhiều
điều khoản đề cập đến thuật ngữ CTRTT nhƣng chƣa có văn bản nào trực tiếp
định nghĩa CTRTT. Ở Việt Nam thuật ngữ CTRTT đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Chất thải rắn thông thƣờng là một dạng vật chất ở thể rắn, không phải là thể
lỏng, thể khí, không phải là chất thải nguy hại và đƣợc thải ra từ các hoạt động
khác nhau của con ngƣời.
nhau về số lƣợng, kích thƣớc, phân bố về không gian. Rác thải sinh hoạt có thể
phát sinh trong các hoạt động cá nhân cũng nhƣ trong hoạt động xã hội từ các
khu dân cƣ, chợ, nhà hàng, công ty, văn phòng và các nhà máy công nghiệp,
dƣới đây là các nguồn của chất thải rắn sinh hoạt: 5
Bảng 2.1: Nguồn gốc các loại chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn phát thải
Loại chất thải
Hộ gia đình
Rác thực phẩm, giấy, cacton,
nhựa,túi nilon, vải, da, rác vƣờn, gỗ,
thủy tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại,
tro, lá cây, chất thải đặc biệt nhƣ:
pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn
thừa…
Khu thƣơng mại
Rác thực phẩm, giấy, cacton,
nhựa,túi nilon, vải, da, gỗ, thủy
tinh,kim loại; chất thải đặc biệt nhƣ
vật dụng gia đình hƣ hỏng (kệ sách ,
đèn, tivi…), tủ lạnh, máy giặt hỏng,
pin, dầu nhớt xe, sơn thừa…
cá, thịt, vỏ trứng, xác động vật, phân gia súc, côn trùng,…) nhƣng không bao
gồm các loại vỏ nghêu, vỏ sò, các thành phần đã qua chế biến không sử dụng
đƣợc.
- Chất thải rắn còn lại: Bao gồm các loại chất thải rắn sinh hoạt không
thuộc nhóm chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy. Ví dụ: Xƣơng động vật lớn, các
loại rác vô cơ nhƣ: chai lọ, nilon, túi xốp, sành sứ, các loại nhựa, quần áo, bàn
ghế cũ.
2.1.1.5 Các khái niệm nhận thức, thái độ, ý thức:
Theo từ điển triết học: “Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở
trong tƣ duy của con ngƣời, đƣợc quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và
gắn liền cũng nhƣ không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của
thực tiễn, phải hƣớng tới chân lý khách quan”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nhận thức là quá trình biện chứng
của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con ngƣời, nhờ đó con ngƣời
tƣ duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” (Từ điển tiếng Việt, NXB
Khoa học xã hội - 1988).
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc con ngƣời trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra tri
thức về thới giới khách quan.
Quá trình nhận thức chia làm hai giai đoạn:
Nhận thức cảm tính là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức, đƣợc
thực hiện qua ba hình thức cơ bản là: cảm giác, tri giác và biểu tƣợng, cảm
giác của con ngƣời là một quá trình tâm lý phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự
vật hiện tƣợng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của ta. Tri
giác là sự phản ánh tƣơng đối toàn vẹn của con ngƣời về những biểu hiện của
sự vật hiện tƣợng khi chúng ta đang trực tiếp tác động vào giác quan của
chúng ta. Biểu tƣợng là sự tái hiện hình ảnh về sự vật khách quan vốn đã đƣợc
phản ánh bởi cảm giác và tri giác.
Nhận thức lý tính lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức.
Đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tƣợng và khái quát những thuộc tính, những
thích hợp, chỉ là những nơi đổ rác không đƣợc chèn lót kỹ, không đƣợc che
đậy, do vậy đang tạo ra sự ô nhiễm nặng nề tới môi trƣờng đất, nƣớc, không
khí… ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã, đã thành lập các công ty môi
trƣờng đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải. Nhƣng hiệu quả của
công việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lƣợng
rác phát sinh hàng ngày còn rất lớn. Trừ lƣợng rác thải đã quản lý số còn lại
ngƣời ta đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm
môi trƣờng nƣớc và không khí. Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn
ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của
8
đất nƣớc. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá
nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lƣợng môi trƣờng
và phát triển không bền vững. Lƣợng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và
khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp (Cục BVMT, 2011)
[6]. Lƣợng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nƣớc ta đang có xu
thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ
tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hƣớng mở rộng, phát triển mạnh cả
về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, nhƣ các đô thị tỉnh Phú Thọ
(19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hƣng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%),
Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng
năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Tổng lƣợng phát sinh CTRSH tại các đô
thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội,
kinh tế của các tỉnh thành trên cả nƣớc lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó
CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ
yếu. Lƣợng còn lại từ các công sở, đƣờng phố, các cơ sở y tế. Kết quả điều tra
tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lƣợng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập
trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy chỉ có 2 đô thị
nhƣng tổng lƣợng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm)
chiếm 45,24% tổng lƣợng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị (Bảng 2.4).
Loại 4
0,65
626
228.490
Tổng
6.453.930
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2008
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô
thị vùng Đông Nam bộ có lƣợng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245
tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lƣợng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên
của cả nƣớc), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lƣợng phát
sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực
9
miền núi Tây Bắc bộ có lƣợng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có
69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây
Nguyên, tổng lƣợng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%) (Hình 2.2). Đô thị có lƣợng CTRSH phát sinh lớn nhất là Tp.Hồ Chí
Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lƣợng CTRSH phát
sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Cao Bằng 20 tấn/ngày; Tp.Đồng Hới
32,0tấn/ngày; Tp.Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày. Tỷ
lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu ngƣời tại các đô thị đặc biệt và
đô thị loại I tƣơng đối cao (0,84 - 0,96kg/ngƣời/ngày); đô thị loại II và loại III
có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu ngƣời là tƣơng đƣơng
nhau (0,72 - 0,73 kg/ngƣời/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô
thị bình quân trên một đầu ngƣời đạt khoảng 0,65 kg/ngƣời/ngày. Tỷ lệ phát
sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch
nhƣ Tp.Hạ Long 1,38kg/ngƣời/ngày; Tp.Hội An 1,08kg/ngƣời/ngày; Tp.Đà
Lạt 1,06 kg/ngƣời/ngày; Tp.Ninh Bình 1,30kg/ngƣời/ngày. Tỷ lệ phát sinh
bình quân đầu ngƣời tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nƣớc là
0,73 kg/ngƣời/ngày.
5
Duyên Hải NTB
0,85
1.640
598.600
6
Tây Nguyên
0,59
650
237.250
7
Đông Nam Bộ
0,79
6.713
2.450.245
8
ĐB sông Cửu Long
0,61
2.136
779.640
Tổng
0,73
17.692
6.457.580
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2008
Với kết quả điều tra thống kê chƣa đầy đủ nhƣ trên cho thấy, tổng
lƣợng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nƣớc ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ
10
tƣơng đối cao (10%/năm) so với các nƣớc phát triển trên thế giới. Tổng lƣợng
thức xử lý rác thải chủ yếu là chôn lấp. Cả nƣớc có 91 bãi chôn lấp rác thải thì
có đến 70 bãi chôn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, không hợp vệ sinh.
Ngành công nghiệp tái chế chƣa phát triển do chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Một số địa phƣơng đã và đang thực hiện những dự án 3R, điển hình là Dự án
3R Hà Nội, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu
định hƣớng. Nếu phân loại tại nguồn tốt, chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế